Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 5 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu.
HAI LẦN CHẾT
(Lược phần đầu: Dung là con thứ tư trong một gia đình sa sút, có người cha lười biếng chỉ dựa hơi quá khứ và người mẹ tất bật buôn bán, nên nàng sinh ra đã không được chào đón và chịu cảnh thất học, thiếu thốn tình thương. Trong gia đình chỉ có người u già nuôi nấng và yêu thương bù đắp, Dung lớn lên lăn lóc nơi xóm chợ, quen với sự ghẻ lạnh và bất công so với các anh chị em được chiều chuộng. Dù đã 14 tuổi, nàng vẫn gầy gò, mang tính tình ngây thơ, an phận và nhận thức rõ sự thừa thãi của mình trong mắt cha mẹ.)
Một hôm mẹ Dung đưa một bà ở trên tỉnh về chơi. Thấy người lạ, nhất là cách ăn mặc thị thành của bà khách. Dung cứ đứng dán mắt lên nhìn. Mà lạ thay, lần này Dung không thấy mẹ quát mắng bảo lui đi như mọi bận có khách khác. Mà bà khách lạ cũng chăm chú nhìn Dung từ đầu đến chân, lại hỏi han Dung nữa.
Sau hai bà thì thầm với nhau mãi. Mẹ Dung mời bà khách ở lại ăn cơm, rồi thân hành tiễn bà ra ga. Bẵng được ít lâu, một hôm mẹ Dung bổ hàng về, gọi Dung lại gần, lấy ra một gói bọc giấy mà bảo:
− Đây là áo mới của cô đây. Lấy ra mà thay, chứ ai lại ăn mặc rách rưới thế kia bao giờ.
Dung se sẽ cầm gói giấy mở ra, thấy hoa cả mắt: nào áo nhiễu trắng, áo bom bay hồng, áo lụa màu hoa lý. Lại mấy chiếc quần lụa cạp đỏ, mấy cái áo cánh phin, mấy cái cổ yếm và mấy chục thước vải. Dung cất tiếng run run hỏi:
− Của những ai đấy, mẹ?
− Không, riêng của con đấy thôi.
Dung sung sướng mân mê các cúc áo. U già cũng lại gần xuýt xoa khen.
Từ hôm ấy, mẹ Dung chiều chuộng Dung lắm, không ghét bỏ như trước. Bà bắt Dung ăn mặc chỉnh tề, tập đi giầy nhưng vắng mặt mẹ, Dung lại vất giày đi chơi, vì nàng không quen đi bắt vấn tóc, và nhuộm răng.
Cuối tháng tám năm ấy, bà khách lại xuống chơi ở lại ăn cơm. Mẹ Dung gọi Dung vào buồng, đóng cửa rồi thì thào với con đến hơn một tiếng đồng hồ.
Sau cửa mở, thấy Dung bước ra mắt đỏ hoe như mới khóc, và bẽn lẽn không dám trông bà khách. Nhưng u già dỗ dành ít lâu, Dung lại vui vẻ và cười đùa như cũ. Hễ trẻ láng giềng có chế nhạo, Dung chỉ mỉm cười.
Thế là Dung đi lấy chồng.
Nàng đi lấy chồng cũng bỡ ngỡ và lạ lùng như người nhà quê lên tỉnh. Dung coi đi lấy chồng như một dịp đi chơi xa, một dịp rời bỏ được cái gia đình lạnh lẽo và cái xóm chợ quen mắt quá của nàng. Đi lấy chồng đối với nàng là hưởng một sự mới.
Vì thế, khi bước chân lên ô tô về nhà chồng, Dung không buồn bã khóc lóc gì cả. Nàng còn chú ý đến những sự lạ mắt lạ tai của nhà giai, không nghe thấy những lời chúc hơi mát mẻ và ganh tị của hai chị và em bé nàng nữa.
Về đến nhà chồng, Dung mới biết chồng là một anh học trò lớp nhì, vừa lẫn thẩn vừa ngu đần. Nàng đã bé mà chồng nàng lại còn bé choắt hơn. Nhưng bà mẹ chồng với các em chồng nàng thì to lớn ác nghiệt lắm.
Qua ngày nhị hỉ, Dung đã tháo bỏ đôi vòng trả mẹ chồng, ăn mặc nâu sồng như khi còn ở nhà, rồi theo các em chồng ra đồng làm ruộng. Nhà chồng nàng giàu, nhưng bà mẹ chồng rất keo kiệt, không chịu nuôi người làm mà bắt con dâu làm.
Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.
Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:
− Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.
Rồi bà kể thêm:
− Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.
Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.
Một hôm tình cờ cả nhà đi vắng, Dung vội ăn cắp mấy đồng bạc trinh lẻn ra ga lấy vé tàu về quê. Đến nơi, mẹ nàng ngạc nhiên hỏi:
− Kìa, con về bao giờ thế? Đi có một mình thôi à?
Dung sợ hãi không dám nói rằng trốn về, phải tìm cớ nói dối. Nhưng đến chiều tối, nàng lo sợ quá, biết rằng thế nào ngày mai mẹ chồng nàng cũng xuống tìm. Nàng đánh bạo kể hết tình đầu cho cha mẹ nghe, những nỗi hành hạ nàng phải chịu, và xin cho phép nàng ở lại nhà.
Cha nàng hút một điếu thuốc trong cái ống điếu khảm bạc, rồi trầm ngâm như nghĩ ngợi. Còn mẹ nàng thì đùng đùng nổi giận mắng lấy mắng để:
− Lấy chồng mà còn đòi ở nhà. Sao cô ngu thế. Cô phải biết cô làm ăn thế đã thấm vào đâu mà phải kể. Ngày trước tôi về nhà này còn khó nhọc bằng mười chứ chả được như cô bây giờ đâu, cô ạ.
Sớm mai, bà mẹ chồng Dung xuống. Vừa thấy thông gia, bà đã nói mát:
− Nhà tôi không có phúc nuôi nổi dâu ấy. Thôi thì con bà lại xin trả bà chứ không dám giữ.
Mẹ Dung cãi lại:
− Ô hay, sao bà ăn nói lạ. Bây giờ nó đã là dâu con bà, tôi không biết đến. Mặc bà muốn xử thế nào thì xử. Chỉ biết nó không phải là con tôi nữa mà thôi.
Bà nọ nhường bà kia, rút cục Dung được lệnh của mẹ phải sửa soạn để đi với mẹ chồng.
Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hi vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.
Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy giòng nước chảy. Trí nàng sắc lại khi ước lạnh đập vào mặt, nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.
Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.
− Tỉnh rồi, tỉnh rồi, không lo sợ gì nữa. Bây giờ chỉ đắp chăn cho ấm rồi sắc nước gừng đặc cho uống là khỏi.
Dung dần dần nhớ lại. Khi nàng mở mắt nhìn, thấy mình nằm trong buồng, người u già cầm cây đèn con đứng đầu giường nhìn nàng mỉm cười một cách buồn rầu:
− Cô đã tỉnh hẳn chưa?
Dung gật:
− Tỉnh rồi.
Một lát, nàng lại hỏi:
− Tôi làm sao thế nhỉ... Bà cả đâu u? Bà ấy về chưa?
U già để tay lên trán Dung, không trả lời câu hỏi:
− Cô hãy còn mệt. Ngủ đi.
Hai hôm sau, Dung mạnh khoẻ hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:
− Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?
Dung buồn bã trả lời:
− Con xin về.
Khi theo bà ra ga, Dung thấy người hai bên đường nhìn nàng bàn tán thì thào. Nàng biết người ta tò mò chú ý đến nàng. Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.
Dung thấy một cảm giác chán nản và lạnh lẽo. Khi bà cả lần ruột tương gọi nàng lại đưa tiền lấy vé, Dung phải vội quay mặt đi để giấu mấy giọt nước mắt.
(Trích Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008, tr.75-84)
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Hai lần chết" là
Văn bản "Hai lần chết" sử dụng ngôi kể nào dưới đây?
Mẹ Dung đưa bà khách tỉnh về nhà với mục đích nào dưới đây?
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự văn bản "Hai lần chết".
- Mẹ Dung đưa bà khách lạ về, Dung được may áo mới và gả đi lấy chồng.
- Dung nhảy sông tự vẫn nhưng không thành và được u già cứu sống.
- Dung lầm lũi theo mẹ chồng ra ga, cảm thấy lòng chán nản, lạnh lẽo và coi như mình đã chết hẳn.
- Tại nhà chồng, Dung bị tịch thu đồ trang sức, phải làm lụng cực khổ và bị đay nghiến như người ở.
- Dung trốn về nhà mẹ đẻ cầu cứu nhưng bị cha mẹ từ chối và ép phải quay lại nhà chồng.
Nhận xét nào dưới đây là đúng về bản chất của cuộc hôn nhân giữa Dung và chồng?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về người chồng của Dung?
Ý nào dưới đây là đúng về mối quan hệ giữa Dung và cách thành viên trong gia đình nhà chồng?
Ý nào dưới đây là đúng về tâm trạng của Dung khi phải quay trở về nhà chồng?
Ý nào dưới đây là đúng về giọng văn của Thạch Lam trong văn bản "Hai lần chết"?
Xác định những lần "chết" của Dung trong văn bản "Hai lần chết".
Ý nào dưới đây là đúng về bi kịch lớn nhất nhân vật Dung trong văn bản "Hai lần chết"?
Qua nhân vật người mẹ của Dung (người đàn bà buôn bán, thực dụng), Thạch Lam muốn phản ánh tác động nào của hoàn cảnh xã hội lên con người?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Chi tiết dòng sông xuất hiện hai lần và trở thành một chi tiết có giá trị nghệ thuật vô cùng sâu sắc. Lần thứ nhất, dòng sông là sự lựa chọn mà Dung tìm đến để giải thoát bản thân khỏi những đau đớn, bất công. Lần thứ hai, dòng sông trở thành tấm gương soi chiếu cho tâm hồn đã , "chết đuối trên cạn" của Dung khi phải quay về nhà chồng. Dòng sông chính là một nhân chứng cho sự dịch chuyển bi thảm từ hành động phản kháng bi quan đến trạng thái hoàn toàn.
Ý nào dưới đây là không đúng về đặc sắc nghệ thuật của văn bản "Hai lần chết"?
Câu nói của bà mẹ chồng: "Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu." cho thấy xã hội xưa có quan điểm gì về vai trò của người vợ trong gia đình?
Nhân vật người cha của Dung là biểu tượng cho lớp người nào trong xã hội cũ?
Qua câu chuyện của gia đình Dung, tác giả Thạch Lam đã phê phán vấn đề nào dưới đây trong các gia đình xưa?
Điều nào dưới đây có tính bước ngoặt, là "giọt nước tràn li" đối với tinh thần và bi kịch của Dung?
Ý nào dưới đây là đúng về ý nghĩa câu nói của bà mẹ chồng: "Trời có mắt chứ dễ mà chết được."?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Văn bản "Hai lần chết" phơi bày trần trụi bức tranh xã hội tàn nhẫn, nơi sức mạnh của và thói sĩ diện hão đã làm băng hoại đạo đức, khiến tình máu mủ trở nên . Qua bi kịch của Dung, tác giả đanh thép chế độ hôn nhân gả bán coi người phụ nữ như món hàng, đồng thời phản ánh thân phận rẻ rúng, bế tắc của những kiếp người nhỏ bé bị tước đoạt cả quyền sống, quyền và thậm chí là cả quyền được chết.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Từ văn bản "Hai lần chết", tác giả Thạch Lam gửi gắm bài học nào dưới đây?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Quy tắc ngôn ngữ là những chuẩn mực chung về cách phát âm, sử dụng từ ngữ, cấu tạo các cụm từ, cấu tạo câu văn, sử dụng dấu câu,... được mọi người trong cộng đồng tự sử dụng để bảo đảm giao tiếp . Trong giao tiếp, mỗi người phải thực hiện đúng các quy tắc này. Tuy nhiên, ở một số hoàn cảnh, người nói và người viết vẫn có thể phá vỡ một số quy tắc để tái hiện được các sự vật, hiện tượng, thể hiện cảm xúc hay nhận xét về một sự vật, sự việc gì đó nhằm hiệu quả giao tiếp.
Những trường hợp nào dưới đây là phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường? (Có 3 đáp án)
Dòng thơ in đậm dưới đây là trường hợp phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
− Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Những ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của việc kết hợp từ trái logic trong dòng thơ in đậm? (Chọn 2 đáp án)
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
− Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Những dòng thơ dưới đây là trường hợp phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
Lắt lẻo cành thông cơn gió giật,
Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo,
(Núi Ba Đèo, Hồ Xuân Hương)
Những ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của việc thay đổi trật tự từ trong câu trong ngữ liệu? (Chọn 2 đáp án)
Lắt lẻo cành thông cơn gió giật,
Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo,
(Núi Ba Đèo, Hồ Xuân Hương)
Ý nào dưới đây là không đúng về yêu cầu cần đạt của bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện?
Nối để hoàn thành dàn ý cho bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện.
Sắp xếp các bước dưới đây theo đúng trình tự để viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện.
- Rà soát, chỉnh sửa lại bài viết về nội dung, diễn đạt và chính tả.
- Viết bài văn hoàn chỉnh theo dàn ý đã xây dựng.
- Lập dàn ý, xác định các luận điểm và cách triển khai lập luận.
- Đọc kĩ tác phẩm, lựa chọn chi tiết, dẫn chứng tiêu biểu phục vụ cho vấn đề nghị luận.
- Xác định vấn đề nghị luận và yêu cầu của đề bài.