Bài học cùng chủ đề
- Tri thức Ngữ văn
- Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
- Sống hay không sống - đó là vấn đề
- Chí khí anh hùng
- Đọc kết nối chủ điểm: Chí khí anh hùng
- Đọc mở rộng theo thể loại: Âm mưu và tình yêu
- Thực hành tiếng Việt: Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (kịch bản văn học) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bộ phim)
- Phiếu bài tập cuối chủ đề 5
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 5 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu bên dưới.
KHÔNG MỘT TIẾNG VANG
(Tóm tắt vở kịch: Vở kịch tái hiện bối cảnh cuộc sống khốn cùng của người dân trước Cách mạng tháng Tám, dưới thời Pháp thuộc. Nhà ông lão mù trước kia vốn thuộc bậc trung lưu, đang sống trong yên ấm thì một trận hoả hoạn xảy ra, khiến người vợ bị chết cháy, người chồng bị bỏng nặng, mù hai con mắt, gia đình rơi vào cảnh tán gia bại sản. Ông lão mù và vợ chồng người con trai phải mướn nhà của lão Thông Xạ để ở, kiếm ăn độ nhật qua ngày. Do thiếu tiền thuê nhà nên lão Thông Xạ năm lần bảy lượt đến đòi nợ và doạ sẽ đuổi cả nhà ra đường nếu không trả đủ tiền. Hôm ấy, lão Thông Xạ lại đến. Ông lão mù hẹn khi con dâu và con trai đi làm về sẽ gắng trả. Nhưng cô con dâu đi bán bánh trên tàu thì bị nhân viên soát vé đổ mất hàng, người con trai đi làm thì bị cai ăn chặn tiền lương. Nhà hết gạo, thuốc bệnh cho ông bố mù loà cũng hết, ngày mai giỗ bà mẹ mà chưa biết lấy gì để cúng đơm. Lão Thông Xạ nhất quyết sẽ quay lại và không cho khất nợ thêm nữa. Cả gia đình rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Anh con trai phẫn uất làm càn, đi ăn trộm bị cảnh sát bắt. Ông lão mù tủi cực, nhân lúc cô con dâu đi ra ngoài, đã thắt cổ tự vẫn để không trở thành gánh nặng cho hai con. Cô con dâu trở về thấy cảnh tượng đó, ngã vật xuống đất, thái dương đập vào hòn đá mà ông bố dùng để chặn cửa, chết theo.)
CẢNH I
Ông lão loà, chị cả Thuận, anh cả Thuận.
ÔNG LÃO – Thế chốc nữa lão Thông Xạ nó quay xe lại thì biết nói thế nào với nó đây? Thôi hai con nghe thầy, nên lánh mặt nó đi, cứ để thầy ở nhà một mình, thầy tìm cách khất khứa với nó, hoạ may nó thấy mù loà, ốm yếu, nó có động lòng thương chăng…
CHỊ CẢ – Lão ấy nó còn thương ai. Nếu nó có lòng thương người, nó đã chẳng xử với mình đến thế.
ÔNG LÃO – Chả hơn cả ba bố con ngồi trơ ra đây mà tiền không có trả nó, để điên tiết lên nó thẳng tay quăng đồ đạc ra đường hoặc gọi đội xếp thưa bắt hai chúng mày về bóp thì có phải khổ cả không…
CHỊ CẢ – Nào, thế cậu định ra sao đây?
ANH CẢ – Định à? Chỉ còn một sống một chết, muốn đằng nào thì muốn, chứ sống ngắc ngoải thì không nên sống. Bàn đến kế tránh mặt nó đi thì không xong rồi. Liệu có tránh được mãi không? Dẫu nó không thưa để mình phải vào bóp mà chỉ vứt đồ ra đường, thì tôi cũng không còn bụng dạ nào làm ăn gì nữa… Ruột gan tôi có phải sắt đá đâu? Giời ơi, nghĩ đến vợ đang dắt bố già lang thang đầu đường xó chợ mà vẫn thản nhiên đi làm cho thằng khác ăn, có là con vật không thương yêu ai, dại như chó thì mới thế được. Mà đi làm về thì ăn vào đâu? Không được ăn mà vẫn đi làm à? Đây này, tôi bây giờ chán cả mọi sự rồi, đi làm tôi cũng không thiết nữa. Phải biết thời buổi này mới được. Tôi mà vô gia cư, tất không thoát tù tội. Vợ tôi mà vô gia cư, tất không thoát được lục sì. Ông mà vô gia cư, rồi người ta sẽ nhét ông vào bọn ăn mày ngoại ô. Sống ngắc ngoải thế này mà vẫn còn tưởng sống.
CHỊ CẢ – Nông nỗi đã thế này, chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?
[…]
ANH CẢ – [...] Ăn ở hiền hậu mà cứ vận hạn mãi… Đến thế mà còn tin được Giời, Phật nữa à? (thất vọng). […] Giời Phật, có để làm gì, hở? Có phải chỉ để làm bù nhìn mặc cho loài người chúng nó ăn thịt nhau, thằng nào xỏ lá, bất nhân, lắm ngón xoay tiền thì được vợ đẹp, con khôn, lên xe xuống ngựa; còn người hiền lành thật thà thì bị lợi dụng, bị đè nén, bị hắt hủi, kiếm chẳng đủ áo mặc cơm ăn có phải không? Có Giời, có Phật mà đến thế à? Không có Giời, Phật nào cả. Hoặc có Giời, có Phật nhưng Giời, Phật không đủ quyền phép thiêng liêng, không công minh, không đáng cho ai kính thờ! Bây giờ ấy à? Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được. Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền!
ÔNG LÃO (không nói được nữa, chỉ kêu) – Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi!
CHỊ CẢ (tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau) – Cậu cứ ở nhà với thầy, tôi đi đằng này một lát.
ANH CẢ – Định xách chậu đi đâu thế?
CHỊ CẢ – Để lại cho bác phó. Hôm nọ sang chơi, bác ta có ý muốn mua lại, bây giờ tôi đem sang lấy vài hào về mua bát cháo với lọ dầu cho thầy. Thầy bảo cồn ruột chắc chỉ vì đói quá.
ANH CẢ – Này, gượm! Người ta bảo đã mà lại. Lúc nãy tôi tạt chơi bên ấy rồi. Hiện bây giờ thằng bé con đang lên sởi, hai vợ chồng chạy thuốc đã méo mặt cả, mua bán gì? Chính tôi cũng còn nợ người ta năm hào mà chưa trả được, lúc nãy vào khất đấy…
CHỊ CẢ (thất vọng đờ đẫn cả người, ra ngồi đắp chiếu cho bố) – ...
ÔNG LÃO (nằm trong chiếu, vẫn quằn quại kêu rên) – Ôi giời đất ơi, ôi giời đất ơi!
ANH CẢ (ứa nước mắt, vùng đứng lên rảo bước ra đến cửa, dừng chân ngẫm nghĩ một lát, quay lại nhìn ông bố, rồi đẩy tung cửa ra đi) – ...
CHỊ CẢ (đang gục mặt, ngẩng lên nhìn rồi hốt hoảng, vùng dậy chạy theo) – Giời ơi! Cậu lại định đi đâu… Cậu! Cậu… Giời ơi, thầy ơi thầy, rõ khổ chưa!
ÔNG LÃO (tung đống chiếu ra, lật đật ngồi lên gọi) – Ới cả! Ới Thuận! (vùng lên chạy ba bước, rồi lả người đi) Con mau chạy theo gọi nó lại cho thầy (ngã gục xuống đất).
CHỊ CẢ (nửa muốn chạy đi gọi chồng, nửa muốn lại nâng bố lên, luống cuống, sau cùng thì quay lại đỡ bố) – Thầy ơi, thầy ngã có đau không? Rõ khổ!
ÔNG LÃO (khặc khừ, lắc đầu, lả đi) – ...
CHỊ CẢ (tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố, dẫn lại chỗ chõng tre, để cho ông lão ngồi được yên rồi lả xuống cạnh đấy bất tỉnh nhân sự) – ...
(Trích Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.358-364)
Văn bản "Không một tiếng vang" thuộc thể loại nào dưới đây?
Thông qua lời thoại của các nhân vật, lão Thông Xạ được khắc hoạ là người như thế nào?
Ý nào dưới đây là đúng về xung đột cơ bản của văn bản "Không một tiếng vang"?
Điều gì dưới đây khiến cho đề xuất "lánh mặt" lão Thông Xạ của ông lão mù bị chị cả Thuận phản đối ngay lập tức?
Lời thoại nào dưới đây thể hiện rõ nhất sự tuyệt vọng, phẫn uất của nhân vật anh cả Thuận?
Trong văn bản, nhân vật anh cả Thuận đã bộc lộ quan điểm gì về tiền bạc?
Ý nào dưới đây là đúng về chủ đề chính của văn bản "Không một tiếng vang"?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản "Không một tiếng vang"?
Những lời nói của anh cả Thuận: "Ruột gan tôi có phải sắt đá đâu?" và "Giời ơi, nghĩ đến vợ đang dắt bố già lang thang đầu đường xó chợ mà vẫn thản nhiên đi làm cho thằng khác ăn, có là con vật không thương yêu ai, dại như chó thì mới thế được." thể hiện suy nghĩ gì của nhân vật này?
Điểm chung trong suy nghĩ của ông lão và anh Cả Thuận khi đối mặt với bế tắc là gì?
Qua lời nói của anh cả Thuận: "chứ sống ngắc ngoải thì không nên sống." và "Sống ngắc ngoải thế này mà vẫn còn tưởng sống." thể hiện rằng nhân vật này không muốn sống cuộc sống như thế nào?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về tinh thần, tâm thế của nhân vật anh cả Thuận khi đối diện với tình cảnh bế tắc của gia đình?
Hành động chị cả Thuận định xách chậu thau đi bán thể hiện điều gì về nhân vật này?
Lời nói của ông lão mù: "Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi!" thể hiện tâm trạng gì của nhân vật này?
Nhân vật anh cả Thuận là hình ảnh đại diện cho kiểu người nào trong xã hội?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về tinh thần, tâm thế của nhân vật chị cả Thuận khi đối diện với tình cảnh bế tắc của gia đình?
Mối quan hệ giữa ông lão mù và hai con được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Ý nào dưới đây là đúng về bầu không khí của câu chuyện trong văn bản "Không một tiếng vang"?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Từ bi kịch của gia đình ông lão mù, tác giả Vũ Trọng Phụng muốn phản ánh hiện thực cuộc sống tăm tối, và đầy bế tắc của xã hội đương thời − nơi những người , lương thiện phải sống lay lắt trong đói nghèo và . Họ bị dồn đến bước đường cùng, không lối thoát, không có và không được cảm thông.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Thông qua văn bản "Không một tiếng vang", tác giả Vũ Trọng Phụng thể hiện sự , xót thương sâu sắc đối với những con người nhỏ bé bị đẩy vào bước đường cùng, đồng thời từng tia hi vọng, từng nỗ lực xoay sở và ý chí kiên cường của họ trong cảnh sống bế tắc, túng quẫn. Qua đó, tác phẩm gửi gắm giá trị nhân văn về lòng trắc ẩn và sự trân trọng đối với con người dù trong hoàn cảnh cực khổ nhất.
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Ngôn ngữ viết là phương tiện giao tiếp thông qua các , chữ viết. Ngôn ngữ viết được dùng để ghi lại, và bảo tồn thông tin, suy nghĩ, cảm xúc và của con người.
Những nhận định nào dưới đây là đúng về ưu điểm của ngôn ngữ viết? (Chọn 2 đáp án)
Ngôn ngữ viết thường được thể hiện bằng phương tiện nào dưới đây?
Xác định những từ ngữ khiến cho câu văn dưới đây mắc lỗi diễn đạt "giống văn nói".
Nói thật chứ Huấn Cao là người vừa có tài vừa có tâm, ai mà chẳng khâm phục cho được.
Những câu văn nào dưới đây không mang đặc trưng của ngôn ngữ viết? (Chọn 2 đáp án)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Nghị luận về một kịch bản văn học hoặc một bộ phim là bài viết sử dụng lí lẽ và để phân tích, làm giá trị nội dung cũng như một số đặc trưng nổi bật của tác phẩm văn học (kịch bản) hoặc tác phẩm điện ảnh đó.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Nối để hoàn thành dàn ý của bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học hoặc tác phẩm nghệ thuật.
Ý nào dưới đây là không đúng về yêu cầu cần đạt của bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học hoặc tác phẩm nghệ thuật?
Sắp xếp các ý dưới đây theo trình tự các bước để viết bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học hoặc tác phẩm nghệ thuật.
- Đọc, tìm hiểu các thông tin liên quan đến tác phẩm.
- Lập dàn ý cho bài viết bằng các luận điểm, luận cứ.
- Viết bài hoàn chỉnh, triển khai luận điểm, luận cứ và sử dụng dẫn chứng cụ thể.
- Xác định yêu cầu của đề bài.
- Đọc lại, chỉnh sửa và hoàn thiện bài viết.
Khi xác định đề tài, lựa chọn tác phẩm kịch hoặc phim cần lưu ý những điều gì dưới đây? (Chọn 2 đáp án)