Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 2 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Cảnh ngày xuân
(Trích Truyện Kiều − Nguyễn Du)
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Đoạn trích "Cảnh ngày xuân" được viết bằng thể thơ nào dưới đây?
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích "Cảnh ngày xuân" là gì?
Nối các phần dưới đây với nội dung tương ứng theo đúng bố cục của đoạn trích "Cảnh ngày xuân".
Xác định nội dung của đoạn trích "Cảnh ngày xuân".
Trong đoạn trích "Cảnh ngày xuân", hình ảnh "con én đưa thoi" ý nói
Đoạn trích "Cảnh ngày xuân" thể hiện sự chuyển biến về không gian từ
Nhịp thơ chủ yếu của câu bát (câu 8 chữ) trong đoạn trích là nhịp
Qua bốn dòng thơ đầu trong đoạn trích "Cảnh ngày xuân", quang cảnh mùa xuân được miêu tả như thế nào? (Chọn 2 đáp án)
Trong tám dòng thơ tiếp theo, lễ hội trong tiết Thanh minh được miêu tả qua những hình ảnh nào dưới đây? (Chọn 2 đáp án)
Khi tan hội ra về, tâm trạng của chị em Thuý Kiều được miêu tả như thế nào? (Chọn 2 đáp án)
Dòng thơ "Tà tà bóng ngả về tây" gợi đến khoảng thời gian nào trong ngày?
Hình ảnh thơ nào dưới đây thể hiện bút pháp chấm phá của Nguyễn Du?
SỞ KIẾN HÀNH
(Nguyễn Du)
Hữu phụ huề tam nhi,
Tương tương toạ đạo bàng.
Tiểu giả tại hoài trung,
Đại giả trì trúc khuông.
Khuông trung hà sở thịnh,
Lê hoắc tạp tì khang.
Nhật án bất đắc thực,
Y quần hà khuông nhương.
Kiến nhân bất ngưỡng thị,
Lệ lưu khâm lang lang.
Quần nhi thả hỉ tiếu,
Bất tri mẫu tâm thương.
Mẫu tâm thương như hà,
Tuế cơ lưu dị hương.
Dị hương sảo phong thục,
Mễ giá bất thậm ngang.
Bất tích khí hương thổ,
Cẩu đồ cứu sinh phương.
Nhất nhân kiệt dung lực,
Bất sung tứ khẩu lương.
Duyên nhai nhật khất thực,
Thử kế an khả trường.
Nhãn hạ uỷ câu hác,
Huyết nhục tự sài lang.
Mẫu tử bất túc tuất,
Phủ nhi tăng đoạn trường.
Kỳ thống tại tâm đầu,
Thiên nhật giai vị hoàng.
Âm phong phiêu nhiên chí,
Hành nhân diệc thê hoàng.
Tạc tiêu Tây Hà dịch,
Cung cụ hà trương hoàng.
Lộc cân tạp ngư sí,
Mãn trác trần trư dương.
Trưởng quan bất hạ trợ,
Tiểu môn chỉ lược thường.
Bát khí vô cố tích,
Lân cẩu yếm cao lương.
Bất tri quan đạo thượng,
Hữu thử cùng nhi nương.
Thuỳ nhân tả thử đồ,
Trì dĩ phụng quân vương.
Dịch nghĩa:
NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY
Có người đàn bà dắt ba đứa con
Cùng nhau ngồi bên đường
Đứa nhỏ trong bụng mẹ
Đứa lớn cầm giỏ tre
Trong giỏ đựng gì lắm thế?
Rau lê, hoắc lẫn cám
Qua trưa rồi chưa được ăn
Áo quần sao mà rách rưới quá
Thấy người không ngẩng nhìn
Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
Lũ con vẫn vui cười
Không biết lòng mẹ đau
Lòng mẹ đau ra sao?
Năm đói lưu lạc đến làng khác
Làng khác mùa màng tốt hơn
Giá gạo không cao quá
Không hối tiếc đã bỏ làng đi
Miễn sao tìm được phương tiện sống
Một người làm hết sức
Không đủ nuôi bốn miệng ăn
Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
Máu thịt nuôi lang sói
Mẹ chết không thương tiếc
Vỗ về con càng thêm đứt ruột
Trong lòng đau xót lạ thường
Mặt trời vì thế phải vàng úa
Gió lạnh bỗng ào tới
Người đi đường cũng đau đớn làm sao
Đêm qua ở trạm Tây Hà
Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
Gân hươu cùng vây cá
Đầy bàn thịt heo, thịt dê
Quan lớn không thèm đụng đũa
Đám theo hầu chỉ nếm qua
Vứt bỏ không luyến tiếc
Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
Không biết trên đường cái
Có mẹ con đói khổ nhà này
Ai người vẽ bức tranh đó
Đem dâng lên nhà vua
(Nguồn: thivien.net)
Đối tượng trữ tình chính của bài thơ "Sở kiến hành" (Nguyễn Du) là
Giọng điệu của bài thơ "Sở kiến hành" (Nguyễn Du) là gì? (Chọn 2 đáp án)
Dòng thơ nào dưới đây diễn tả sự hi sinh của người mẹ trong bài thơ "Sở kiến hành" (Nguyễn Du)?
Trong bài thơ "Sở kiến hành" (Nguyễn Du), những dòng thơ nào dưới đây miêu tả hoàn cảnh của người mẹ và đàn con? (Chọn 2 đáp án)
Bài thơ "Sở kiến hành" (Nguyễn Du) được viết theo thể thơ nào dưới đây?
Xác định thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong những dòng thơ dưới đây.
Cung cụ hà trương hoàng.
Lộc cân tạp ngư sí,
Mãn trác trần trư dương.
Trưởng quan bất hạ trợ,
Tiểu môn chỉ lược thường.
Bát khí vô cố tích,
Lân cẩu yếm cao lương.
Bất tri quan đạo thượng,
Hữu thử cùng nhi nương.
Thuỳ nhân tả thử đồ,
Trì dĩ phụng quân vương.
Dịch nghĩa:
Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
Gân hươu cùng vây cá
Đầy bàn thịt heo, thịt dê
Quan lớn không thèm đụng đũa
Đám theo hầu chỉ nếm qua
Vứt bỏ không luyến tiếc
Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
Không biết trên đường cái
Có mẹ con đói khổ nhà này
Nhận định nào dưới đây là đúng khi nói về thái độ của tác giả Nguyễn Du thể hiện qua bài thơ "Sở kiến hành"? (Chọn 2 đáp án)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Qua bài thơ "Sở kiến hành", Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân hậu sâu sắc khi tố cáo hiện thực xã hội cũ. Người dân phải sống trong , lầm than, đói khổ. Trong khi đó, tầng lớp ăn sung mặc sướng, không để mắt đến cuộc sống của người dân lao động. Nguyễn Du đã lên án hiện thực xã hội lúc bấy giờ, mong muốn đòi quyền lợi chính đáng cho những con người . Hơn thế nữa, nhà thơ bày tỏ hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn dành cho mọi người.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Nguyễn Du – thiên tài nghệ thuật
Đại thi hào Nguyễn Du đã có những đóng góp nghệ thuật vô cùng to lớn cho nền văn học dân tộc, không chỉ ở mảng thơ chữ Hán mà còn qua kiệt tác Truyện Kiều.
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn mẫu mực, phần lớn được viết theo thể Đường luật với đủ các tiểu loại: nếu xét về số câu trong bài thì có tứ tuyệt (tuyệt cú), bát cú và trường thiên; nếu xét về số chữ trong câu thì có ngũ ngôn, lục ngôn và thất ngôn. Bút pháp được Nguyễn Du vận dụng một cách linh hoạt, đa dạng: trữ tình, tự sự, hiện thực, trào phúng. Tính chất hàm súc, cô đọng, "ý tại ngôn ngoại" (ngụ ý nằm ngoài lời thơ), nghệ thuật đối,... vốn là đặc điểm, thế mạnh của thơ Đường luật được nhà thơ phát triển tới mức cao nhất. Chất trữ tình trong thơ của Nguyễn Du hoà quyện cùng chiều sâu triết lý, tạo nên phong vị thâm trầm, sâu lắng.
Khi sáng tác Truyện Kiều, cảm hứng lớn nhất của Nguyễn Du chính là nỗi đau tận đáy lòng trước "những điều trông thấy", như tên gọi Đoạn trường tân thanh đã thể hiện rõ điều đó. Việc chuyển thể loại từ tiểu thuyết chương hồi khi tiếp thu Kim Vân Kiều truyện sang truyện thơ Nôm thì sáng tác Truyện Kiều đã giúp Nguyễn Du kết hợp được thế mạnh của cả tự sự và trữ tình. Điểm nhìn trần thuật của tác giả cũng có sự dịch chuyển: thay vì đứng ngoài câu chuyện như thường thấy, tác giả đã nhập vai như một người trong cuộc. Do vậy, trong các hình thức ngôn ngữ kể chuyện, Nguyễn Du đặc biệt thành công với ngôn ngữ nửa trực tiếp, mang lại chiều sâu cảm xúc vô cùng đặc sắc. Về cốt truyện, tác phẩm vẫn gồm ba phần Gặp gỡ – Thử thách – Đoàn tụ nhưng khi Thuý Kiều đoàn tụ với gia đình, nhìn hình thức là kết thúc có hậu nhưng bản chất là bi kịch: nàng gặp lại người xưa nhưng tình yêu xưa không còn, sống với Kim Trọng trong cảnh "Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ" (Đem tình vợ chồng đổi thành tình bạn). Một thành tựu nổi bật khác của Truyện Kiều là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Bên cạnh những nhân vật phân theo loại, cũng có nhân vật không thể phân theo loại, vừa tốt vừa xấu đan xen. Các nhân vật trong Truyện Kiều chủ yếu là những nhân vật tính cách, và điều đặc biệt là tính cách ấy có sự chuyển biến theo hoàn cảnh, như trường hợp của Thuý Kiều. Tính cách nhân vật được Nguyễn Du khắc hoạ bằng cả bút pháp ước lệ và bút pháp tả thực, không chỉ thể hiện qua diện mạo bên ngoài mà còn đi sâu vào thế giới nội tâm. Miêu tả nội tâm nhân vật là một thành công nghệ thuật lớn, mang ý nghĩa cách tân của kiệt tác Truyện Kiều. Khi miêu tả thiên nhiên, tác giả không chỉ tái hiện vẻ đẹp cảnh vật mà còn sử dụng khéo léo nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình" để thể hiện tâm trạng nhân vật. Câu thơ lục bát trong Truyện Kiều vừa dân dã, bình dị như ca dao, dân ca, vừa trau chuốt nghệ thuật, đạt tới giá trị cổ điển – giá trị khuôn thước, mẫu mực. Tiếng Việt trong Truyện Kiều rất giàu, rất đẹp, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian với ngôn ngữ bác học kết tinh từ sách vở. Đây là một trong số ít những tác phẩm cổ điển mà ngôn ngữ vẫn giữ được sức sống lâu bền, tiếp tục được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp hiện đại, ở các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Nguyễn Du đã phát huy cao nhất đặc điểm nào của thơ Đường luật?
Sự kết hợp giữa trữ tình và tự sự trong Truyện Kiều là nhờ vào yếu tố nghệ thuật nào?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống:
Trong Truyện Kiều, các câu thơ lục bát vừa dân dã, như ca dao, dân ca, vừa nghệ thuật, đạt tới giá trị cổ điển, giá trị khuôn thước, mẫu mực. Tiếng Việt trong Truyện Kiều rất giàu, rất đẹp, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ dân gian với ngôn ngữ kết tinh từ sách vở.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Đối là biện pháp tu từ mà trong đó, người viết (người nói) xếp đặt những hoặc câu có đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp tương tự hoặc nhau ở những vị trí đối xứng trong câu hoặc trong văn bản để gợi ra một nội dung hoàn chỉnh, làm một ý nghĩa nhất định.
Bấm chọn những hình ảnh thơ sử dụng biện pháp tu từ đối trong đoạn thơ dưới đây.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.
(Trích "Truyện Kiều" − Nguyễn Du)
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự các bước cần lưu ý khi viết bài nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.
- Đưa ra những đánh giá cá nhân về tác phẩm.
- Tìm hiểu kĩ lưỡng về tác phẩm được chọn phân tích.
- Xác định và phân tích những chi tiết tiêu biểu.