Bài học liên quan
Phần 1
(3 câu)Những người thợ xẻ − từ văn học đến điện ảnh
Lê Hồng Lâm
Sau Tướng về hưu (1988) của Nguyễn Khắc Lợi và Thương nhớ đồng quê của Đặng Nhật Minh (1995), thêm một truyện ngắn nữa của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trở thành chất liệu đặc sắc cho điện ảnh trong thập niên 90, khi bộ môn nghệ thuật này đang dần dần vượt thoát khỏi âm hưởng kéo dài của những bộ phim chiến tranh và hậu chiến để đi vào những chủ đề phức tạp về nhân tính trong đời sống hiện đại. Những người thợ xẻ do Vương Đức đạo diễn ra mắt năm 1998 − dựa theo truyện ngắn cùng tên và một phần của truyện Con gái thuỷ thần của Nguyễn Huy Thiệp − tiếp tục mạch chủ đề này. Từ ngôn ngữ văn chương qua ngôn ngữ điện ảnh, phiên bản điện ảnh đã có sự điều chỉnh, thay đổi ít nhiều và phần nào phá vỡ kết cấu tự sự mang đậm phong cách của nhà văn. Một số ý kiến đương thời cho rằng Vương Đức đã phá hỏng chất tự sự và "ý tại ngôn ngoại" của Nguyễn Huy Thiệp qua phong cách dàn dựng có phần khốc liệt, bạo lực của anh. Tuy nhiên, với tư cách một tác phẩm độc lập, phim Những người thợ xẻ vẫn tạo được hiệu ứng thị giác mạnh mẽ với câu chuyện về một nhóm thợ "kéo cưa lừa xẻ" và những cái giá phải trả vì "ăn của rừng rưng rưng nước mắt"...
Bộ phim mở đầu với chuyến xe khách chở nhóm thợ xẻ từ miền xuôi lên miền ngược để tính kế mưu sinh, trong đó thủ lĩnh là Bường (Quốc Trị đóng), một kẻ ít học nhưng trải đời, hay triết lí, thích ví von; Ngọc (Lê Vũ Long), một cậu sinh viên rớt tốt nghiệp đại học đa sầu đa cảm lên rừng kiếm sống để trưởng thành; hai anh em Biên, Biền, và Dĩnh, đứa con trai cả của Bường đi theo phụ bếp núc. Ngay từ đầu, đạo diễn đã chọn thủ pháp xen kẽ song hành giữa hiện tại và hồi ức. Nếu trong truyện ngắn của Nguyễn HUy Thiệp, mạch tự sự của tác phẩm được dẫn dắt qua lời kể của Ngọc thì trong bộ phim của Vương Đức, đạo diễn chọn hai góc nhìn chủ quan của cả Bường lẫn Ngọc. Cùng trên một chuyến xe lên Tây Bắc, hai gã đàn ông này trôi theo hai dòng suy tưởng khác nhau. Bường nhớ về những năm tháng mở quán thịt chó bằng cách đi đánh bả chó trong làng cho đến khi quán của gã bị đốt cháy; Ngọc nhớ về mối tình đầu nhiều tổn thương với cô giáo Phượng (Thu Hà. Hai góc nhìn song hành và thủ pháp xen kẽ giữa thực tại và hồi tưởng này tiếp diễn trong phần đầu phim, một cách thông minh để giới thiệu về hai nhân vật chính và cuộc đối đầu giữa họ trong phần còn lại của phim.
Diễn biến của bộ phim được đẩy nhanh trong phần tiếp theo, khi nhóm thợ xẻ được hai vợ chồng công nhân ở lâm trường Bình Minh giới thiệu để xẻ gỗ cho ông Thuyết (Vũ Đình Thân), một cán bộ kiểm lâm keo kiệt luôn tìm cách bóc lột sức lao động của nhóm thợ. Nhưng Bường, với sự ma mãnh, quỷ quyêt của một kẻ trải đời, nắm rõ luật rừng cùng triết lí "kéo cưa thì lừa xẻ" tìm cách để bán gỗ lậu thu lợi về cho mình. Phần cuối của phim với những biến cố xảy ra dồn dập khiến nhịp phim nhanh và lôi cuốn. Mâu thuẫn ngấm ngầm trở thành xung đột lên đến cao trào giữa Bường và Ngọc; vụ tai nạn bị lưỡi cưa cắt rời ngón chân cái của Ngọc, Bường bị một con gấu tấn công và Dĩnh, cậu con trai của anh ta bị cây gỗ đè chết,... là những cái giá phải trả của những kẻ "kéo cưa lừa xẻ".
Bộ phim có thời lượng khá ngắn (78 phút) với nội dung được nén chặt và bung phá trong một không gian vừa rộng lớn vừa âm u hoang vắng của núi rừng Tây Bắc. Các góc máy thường ở trên cao xuống như "con mắt của trời", ghi lại những sinh hoạt của nhóm thợ xẻ trong cuộc vật lộn mưu sinh khi mà nhân tính của mỗi người, đặc biệt là Bường và Ngọc dần dần được bộc lộ.
Nhân vật đặc sắc mang đậm "chất" của Nguyễn Huy Thiệp nhất là Bường, gây ấn tượng mạnh mẽ với người xem. Bường là một kẻ thất học nhưng trải đời; lưu manh nhưng vẫn giữ được sự chất phác nông dân, thích tung hê tất cả nhưng vẫn trọng đạo đức, tình nghĩa. Hắn là một khối mâu thuẫn vừa tha hoá, vừa có phẩm chất tử tế còn sót lại. Biên kịch và đạo diễn giữ lại hầu hết những câu thoại ngắn trong truyện mang tính triết lí đời sống hay lối ví von dân dã của nhân vật đặc sắc này. "Kéo cưa thì phải lừa xẻ", "Mưa lúc nào mát mặt lúc ấy" là triết lí sống của Bường, một kẻ mánh lới lừa lọc, một "sản phẩm" của sự tha hoá và biến chất khi những giá trị cuộc sống bắt đầu đảo lộn.
Đối lập với Bường là Ngọc, một chàng thanh niên mới lớn có học nhưng đa sầu đa cảm, mang trong lòng vết thương của mối tình đầu nhưng đồng thời cũng có sự khôn ngoan, lọc lõi mà Bường gọi là "lưu manh trí thức". Bường và Ngọc không ai xấu hoàn toàn, cũng không ai tốt hoàn toàn. Đó là hai nhân vật đặc trưng trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp và một lần nữa sống động trên màn ảnh qua diễn xuất của Quốc Trị và Lê Vũ Long.
Ngôn ngữ điện ảnh của Vương Đức phát huy hiệu quả thị giác trong hai cảnh gây sốc khi đặc tả cảnh Ngọc bị lưỡi cưa xén ngón chân và sau đó là cảnh ngón chân bị hoại tử buộc phải chặt bằng rựa. Lối dàn dựng mang tính "tự nhiên chủ nghĩa" tỏ ra hiệu quả trong hai cảnh này.
Những người thợ xẻ kết thúc với hình ảnh những bông hoa ban trắng phủ trên xác của Dĩnh, cậu bé ngây thơ trong sáng phải bỏ mạng lại giữa rừng và hành trình lầm lũi trở về của bốn kẻ còn lại trong nhóm thợ xẻ. Những chủ đề ngầm ẩn về luật nhân quả, sự lưu manh hoá và thức tỉnh lương tri của Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn được Vương Đức thể hiện rõ nét hơn với góc nhìn trực diện và bằng một thứ ngôn ngữ điện ảnh vừa trữ tình vừa bạo lực, chất chứa những ngột ngạt chờ bùng nổ.
(Lê Hồng Lâm, 101 bộ phim Việt Nam hay nhất, NXB Thế giới − Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2018, tr. 249 − 252)
![]()
Những người thợ xẻ − từ văn học đến điện ảnh
Lê Hồng Lâm
Sau Tướng về hưu (1988) của Nguyễn Khắc Lợi và Thương nhớ đồng quê của Đặng Nhật Minh (1995), thêm một truyện ngắn nữa của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trở thành chất liệu đặc sắc cho điện ảnh trong thập niên 90, khi bộ môn nghệ thuật này đang dần dần vượt thoát khỏi âm hưởng kéo dài của những bộ phim chiến tranh và hậu chiến để đi vào những chủ đề phức tạp về nhân tính trong đời sống hiện đại. Những người thợ xẻ do Vương Đức đạo diễn ra mắt năm 1998 − dựa theo truyện ngắn cùng tên và một phần của truyện Con gái thuỷ thần của Nguyễn Huy Thiệp − tiếp tục mạch chủ đề này. Từ ngôn ngữ văn chương qua ngôn ngữ điện ảnh, phiên bản điện ảnh đã có sự điều chỉnh, thay đổi ít nhiều và phần nào phá vỡ kết cấu tự sự mang đậm phong cách của nhà văn. Một số ý kiến đương thời cho rằng Vương Đức đã phá hỏng chất tự sự và "ý tại ngôn ngoại" của Nguyễn Huy Thiệp qua phong cách dàn dựng có phần khốc liệt, bạo lực của anh. Tuy nhiên, với tư cách một tác phẩm độc lập, phim Những người thợ xẻ vẫn tạo được hiệu ứng thị giác mạnh mẽ với câu chuyện về một nhóm thợ "kéo cưa lừa xẻ" và những cái giá phải trả vì "ăn của rừng rưng rưng nước mắt"...
Bộ phim mở đầu với chuyến xe khách chở nhóm thợ xẻ từ miền xuôi lên miền ngược để tính kế mưu sinh, trong đó thủ lĩnh là Bường (Quốc Trị đóng), một kẻ ít học nhưng trải đời, hay triết lí, thích ví von; Ngọc (Lê Vũ Long), một cậu sinh viên rớt tốt nghiệp đại học đa sầu đa cảm lên rừng kiếm sống để trưởng thành; hai anh em Biên, Biền, và Dĩnh, đứa con trai cả của Bường đi theo phụ bếp núc. Ngay từ đầu, đạo diễn đã chọn thủ pháp xen kẽ song hành giữa hiện tại và hồi ức. Nếu trong truyện ngắn của Nguyễn HUy Thiệp, mạch tự sự của tác phẩm được dẫn dắt qua lời kể của Ngọc thì trong bộ phim của Vương Đức, đạo diễn chọn hai góc nhìn chủ quan của cả Bường lẫn Ngọc. Cùng trên một chuyến xe lên Tây Bắc, hai gã đàn ông này trôi theo hai dòng suy tưởng khác nhau. Bường nhớ về những năm tháng mở quán thịt chó bằng cách đi đánh bả chó trong làng cho đến khi quán của gã bị đốt cháy; Ngọc nhớ về mối tình đầu nhiều tổn thương với cô giáo Phượng (Thu Hà. Hai góc nhìn song hành và thủ pháp xen kẽ giữa thực tại và hồi tưởng này tiếp diễn trong phần đầu phim, một cách thông minh để giới thiệu về hai nhân vật chính và cuộc đối đầu giữa họ trong phần còn lại của phim.
Diễn biến của bộ phim được đẩy nhanh trong phần tiếp theo, khi nhóm thợ xẻ được hai vợ chồng công nhân ở lâm trường Bình Minh giới thiệu để xẻ gỗ cho ông Thuyết (Vũ Đình Thân), một cán bộ kiểm lâm keo kiệt luôn tìm cách bóc lột sức lao động của nhóm thợ. Nhưng Bường, với sự ma mãnh, quỷ quyêt của một kẻ trải đời, nắm rõ luật rừng cùng triết lí "kéo cưa thì lừa xẻ" tìm cách để bán gỗ lậu thu lợi về cho mình. Phần cuối của phim với những biến cố xảy ra dồn dập khiến nhịp phim nhanh và lôi cuốn. Mâu thuẫn ngấm ngầm trở thành xung đột lên đến cao trào giữa Bường và Ngọc; vụ tai nạn bị lưỡi cưa cắt rời ngón chân cái của Ngọc, Bường bị một con gấu tấn công và Dĩnh, cậu con trai của anh ta bị cây gỗ đè chết,... là những cái giá phải trả của những kẻ "kéo cưa lừa xẻ".
Bộ phim có thời lượng khá ngắn (78 phút) với nội dung được nén chặt và bung phá trong một không gian vừa rộng lớn vừa âm u hoang vắng của núi rừng Tây Bắc. Các góc máy thường ở trên cao xuống như "con mắt của trời", ghi lại những sinh hoạt của nhóm thợ xẻ trong cuộc vật lộn mưu sinh khi mà nhân tính của mỗi người, đặc biệt là Bường và Ngọc dần dần được bộc lộ.
Nhân vật đặc sắc mang đậm "chất" của Nguyễn Huy Thiệp nhất là Bường, gây ấn tượng mạnh mẽ với người xem. Bường là một kẻ thất học nhưng trải đời; lưu manh nhưng vẫn giữ được sự chất phác nông dân, thích tung hê tất cả nhưng vẫn trọng đạo đức, tình nghĩa. Hắn là một khối mâu thuẫn vừa tha hoá, vừa có phẩm chất tử tế còn sót lại. Biên kịch và đạo diễn giữ lại hầu hết những câu thoại ngắn trong truyện mang tính triết lí đời sống hay lối ví von dân dã của nhân vật đặc sắc này. "Kéo cưa thì phải lừa xẻ", "Mưa lúc nào mát mặt lúc ấy" là triết lí sống của Bường, một kẻ mánh lới lừa lọc, một "sản phẩm" của sự tha hoá và biến chất khi những giá trị cuộc sống bắt đầu đảo lộn.
Đối lập với Bường là Ngọc, một chàng thanh niên mới lớn có học nhưng đa sầu đa cảm, mang trong lòng vết thương của mối tình đầu nhưng đồng thời cũng có sự khôn ngoan, lọc lõi mà Bường gọi là "lưu manh trí thức". Bường và Ngọc không ai xấu hoàn toàn, cũng không ai tốt hoàn toàn. Đó là hai nhân vật đặc trưng trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp và một lần nữa sống động trên màn ảnh qua diễn xuất của Quốc Trị và Lê Vũ Long.
Ngôn ngữ điện ảnh của Vương Đức phát huy hiệu quả thị giác trong hai cảnh gây sốc khi đặc tả cảnh Ngọc bị lưỡi cưa xén ngón chân và sau đó là cảnh ngón chân bị hoại tử buộc phải chặt bằng rựa. Lối dàn dựng mang tính "tự nhiên chủ nghĩa" tỏ ra hiệu quả trong hai cảnh này.
Những người thợ xẻ kết thúc với hình ảnh những bông hoa ban trắng phủ trên xác của Dĩnh, cậu bé ngây thơ trong sáng phải bỏ mạng lại giữa rừng và hành trình lầm lũi trở về của bốn kẻ còn lại trong nhóm thợ xẻ. Những chủ đề ngầm ẩn về luật nhân quả, sự lưu manh hoá và thức tỉnh lương tri của Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn được Vương Đức thể hiện rõ nét hơn với góc nhìn trực diện và bằng một thứ ngôn ngữ điện ảnh vừa trữ tình vừa bạo lực, chất chứa những ngột ngạt chờ bùng nổ.
(Lê Hồng Lâm, 101 bộ phim Việt Nam hay nhất, NXB Thế giới − Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2018, tr. 249 − 252)
![]()
Những người thợ xẻ − từ văn học đến điện ảnh
Lê Hồng Lâm
Sau Tướng về hưu (1988) của Nguyễn Khắc Lợi và Thương nhớ đồng quê của Đặng Nhật Minh (1995), thêm một truyện ngắn nữa của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trở thành chất liệu đặc sắc cho điện ảnh trong thập niên 90, khi bộ môn nghệ thuật này đang dần dần vượt thoát khỏi âm hưởng kéo dài của những bộ phim chiến tranh và hậu chiến để đi vào những chủ đề phức tạp về nhân tính trong đời sống hiện đại. Những người thợ xẻ do Vương Đức đạo diễn ra mắt năm 1998 − dựa theo truyện ngắn cùng tên và một phần của truyện Con gái thuỷ thần của Nguyễn Huy Thiệp − tiếp tục mạch chủ đề này. Từ ngôn ngữ văn chương qua ngôn ngữ điện ảnh, phiên bản điện ảnh đã có sự điều chỉnh, thay đổi ít nhiều và phần nào phá vỡ kết cấu tự sự mang đậm phong cách của nhà văn. Một số ý kiến đương thời cho rằng Vương Đức đã phá hỏng chất tự sự và "ý tại ngôn ngoại" của Nguyễn Huy Thiệp qua phong cách dàn dựng có phần khốc liệt, bạo lực của anh. Tuy nhiên, với tư cách một tác phẩm độc lập, phim Những người thợ xẻ vẫn tạo được hiệu ứng thị giác mạnh mẽ với câu chuyện về một nhóm thợ "kéo cưa lừa xẻ" và những cái giá phải trả vì "ăn của rừng rưng rưng nước mắt"...
Bộ phim mở đầu với chuyến xe khách chở nhóm thợ xẻ từ miền xuôi lên miền ngược để tính kế mưu sinh, trong đó thủ lĩnh là Bường (Quốc Trị đóng), một kẻ ít học nhưng trải đời, hay triết lí, thích ví von; Ngọc (Lê Vũ Long), một cậu sinh viên rớt tốt nghiệp đại học đa sầu đa cảm lên rừng kiếm sống để trưởng thành; hai anh em Biên, Biền, và Dĩnh, đứa con trai cả của Bường đi theo phụ bếp núc. Ngay từ đầu, đạo diễn đã chọn thủ pháp xen kẽ song hành giữa hiện tại và hồi ức. Nếu trong truyện ngắn của Nguyễn HUy Thiệp, mạch tự sự của tác phẩm được dẫn dắt qua lời kể của Ngọc thì trong bộ phim của Vương Đức, đạo diễn chọn hai góc nhìn chủ quan của cả Bường lẫn Ngọc. Cùng trên một chuyến xe lên Tây Bắc, hai gã đàn ông này trôi theo hai dòng suy tưởng khác nhau. Bường nhớ về những năm tháng mở quán thịt chó bằng cách đi đánh bả chó trong làng cho đến khi quán của gã bị đốt cháy; Ngọc nhớ về mối tình đầu nhiều tổn thương với cô giáo Phượng (Thu Hà. Hai góc nhìn song hành và thủ pháp xen kẽ giữa thực tại và hồi tưởng này tiếp diễn trong phần đầu phim, một cách thông minh để giới thiệu về hai nhân vật chính và cuộc đối đầu giữa họ trong phần còn lại của phim.
Diễn biến của bộ phim được đẩy nhanh trong phần tiếp theo, khi nhóm thợ xẻ được hai vợ chồng công nhân ở lâm trường Bình Minh giới thiệu để xẻ gỗ cho ông Thuyết (Vũ Đình Thân), một cán bộ kiểm lâm keo kiệt luôn tìm cách bóc lột sức lao động của nhóm thợ. Nhưng Bường, với sự ma mãnh, quỷ quyêt của một kẻ trải đời, nắm rõ luật rừng cùng triết lí "kéo cưa thì lừa xẻ" tìm cách để bán gỗ lậu thu lợi về cho mình. Phần cuối của phim với những biến cố xảy ra dồn dập khiến nhịp phim nhanh và lôi cuốn. Mâu thuẫn ngấm ngầm trở thành xung đột lên đến cao trào giữa Bường và Ngọc; vụ tai nạn bị lưỡi cưa cắt rời ngón chân cái của Ngọc, Bường bị một con gấu tấn công và Dĩnh, cậu con trai của anh ta bị cây gỗ đè chết,... là những cái giá phải trả của những kẻ "kéo cưa lừa xẻ".
Bộ phim có thời lượng khá ngắn (78 phút) với nội dung được nén chặt và bung phá trong một không gian vừa rộng lớn vừa âm u hoang vắng của núi rừng Tây Bắc. Các góc máy thường ở trên cao xuống như "con mắt của trời", ghi lại những sinh hoạt của nhóm thợ xẻ trong cuộc vật lộn mưu sinh khi mà nhân tính của mỗi người, đặc biệt là Bường và Ngọc dần dần được bộc lộ.
Nhân vật đặc sắc mang đậm "chất" của Nguyễn Huy Thiệp nhất là Bường, gây ấn tượng mạnh mẽ với người xem. Bường là một kẻ thất học nhưng trải đời; lưu manh nhưng vẫn giữ được sự chất phác nông dân, thích tung hê tất cả nhưng vẫn trọng đạo đức, tình nghĩa. Hắn là một khối mâu thuẫn vừa tha hoá, vừa có phẩm chất tử tế còn sót lại. Biên kịch và đạo diễn giữ lại hầu hết những câu thoại ngắn trong truyện mang tính triết lí đời sống hay lối ví von dân dã của nhân vật đặc sắc này. "Kéo cưa thì phải lừa xẻ", "Mưa lúc nào mát mặt lúc ấy" là triết lí sống của Bường, một kẻ mánh lới lừa lọc, một "sản phẩm" của sự tha hoá và biến chất khi những giá trị cuộc sống bắt đầu đảo lộn.
Đối lập với Bường là Ngọc, một chàng thanh niên mới lớn có học nhưng đa sầu đa cảm, mang trong lòng vết thương của mối tình đầu nhưng đồng thời cũng có sự khôn ngoan, lọc lõi mà Bường gọi là "lưu manh trí thức". Bường và Ngọc không ai xấu hoàn toàn, cũng không ai tốt hoàn toàn. Đó là hai nhân vật đặc trưng trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp và một lần nữa sống động trên màn ảnh qua diễn xuất của Quốc Trị và Lê Vũ Long.
Ngôn ngữ điện ảnh của Vương Đức phát huy hiệu quả thị giác trong hai cảnh gây sốc khi đặc tả cảnh Ngọc bị lưỡi cưa xén ngón chân và sau đó là cảnh ngón chân bị hoại tử buộc phải chặt bằng rựa. Lối dàn dựng mang tính "tự nhiên chủ nghĩa" tỏ ra hiệu quả trong hai cảnh này.
Những người thợ xẻ kết thúc với hình ảnh những bông hoa ban trắng phủ trên xác của Dĩnh, cậu bé ngây thơ trong sáng phải bỏ mạng lại giữa rừng và hành trình lầm lũi trở về của bốn kẻ còn lại trong nhóm thợ xẻ. Những chủ đề ngầm ẩn về luật nhân quả, sự lưu manh hoá và thức tỉnh lương tri của Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn được Vương Đức thể hiện rõ nét hơn với góc nhìn trực diện và bằng một thứ ngôn ngữ điện ảnh vừa trữ tình vừa bạo lực, chất chứa những ngột ngạt chờ bùng nổ.
(Lê Hồng Lâm, 101 bộ phim Việt Nam hay nhất, NXB Thế giới − Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2018, tr. 249 − 252)
![]()