Phần 1

(3 câu)
Câu 1
Tự luận

Đọc Nhà thờ Đức Bà Pa-ri (Paris) và suy nghĩ về tiểu thuyết lãng mạn

Đỗ Đức Hiểu

1831 – 1981. Nhà thờ Đức Bà Pa-ri ra mắt nhân loại đã được một trăm năm mươi năm. Suốt một trăm năm mươi năm qua, từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ lục địa này qua lục địa khác, cả loài người đón chào "toà nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca" này với niềm say mê lớn. Những hình tượng Ex-mê-ran-da (Esméralda), Ca-di-mô-đô (Quasimodo), Pi-e Granh-goa (Pierre Gringoire), những tiếng chuông nhà thờ Đức Bà lảnh lót, cả một đô thành Pa-ri thời Trung cổ, sống dậy trong trái tim mọi người, quay cuồng hỗn loạn, đầy màu sắc và âm thanh, đầy hương hoa, máu và nước mắt, – một thế giới khủng khiếp và nên thơ, trần tục và siêu phàm, cao thượng và hèn hạ; những ánh sáng rực rỡ bỗng nhiên loé lên trong bóng đêm mịt mù, u uất. Vích-to Huy-gô dựng lên ở thế kỉ XIX với thơ, kịch, tiểu thuyết của ông một thiên thần thoại diệu kì làm xao xuyến lòng người, nâng cao tầm vóc chúng ta, thức tỉnh những khát vọng cao quý trong trái tim mỗi người.

Nhà thờ Đức Bà Pa-ri dày trên sáu trăm trang, gồm mười một quyển, kể câu chuyện tình yêu đau khổ của Ca-di-mô-đô, "thằng gù nhà thờ Đức Bà" với Ex-mê-ran-da, "cô gái Bô-hê-miên (Bohémiens) Ai Cập" trong trắng tuyệt vời – ánh sáng chiếu rọi suốt tấn bi kịch hùng tráng, hương thơm toả ra từ mỗi chương bộ tiểu thuyết. Nhà thờ Đức Bà Pa-ri là một anh hùng ca ca ngợi tình yêu, trái tim con người, là niềm tin sắt đá vào sức vươn lên của nhân loại đến những đỉnh cao của lương tâm trong sáng, là bài thơ hùng tráng và trữ tình, là sự tổng hợp của thơ, kịch, tự sự, triết học, lịch sử,... một sự tổng hợp bao la khiến người đọc luôn luôn ngạc nhiên và mê say như sống trong một giấc mơ dài.

Vích-to Huy-gô làm sống dậy cái "đêm dài Trung cổ" khủng khiếp phương Tây, Pa-ri, đô thành của cung điện thần kì, của đêm hội rước Giáo hoàng, cuồng đãng, của những tay trộm cướp, những thầy tu phá giới, những phế binh, những hành khất què cụt, lở loét, vang động những tiếng gào thét, rên rĩ, những tiếng gầm gừ, với những căn nhà mốc meo, với triều đình kì quái của vương quốc tiếng lóng,... Nhưng cái đô thành Pa-ri ung nhọt, điên loạn ấy cũng sống những giờ phút rạng rỡ, buổi sáng mỗi ngày lễ lớn, khi mặt trời phát đi một tín hiệu thần kì, Pa-ri thức dậy với muôn ngàn tiếng chuông thoạt đầu thưa thớt, rồi ngày càng gióng giả và trở thành một dàn nhạc giao hưởng với những đàn bướm âm thanh sắc sỡ, làm rung rinh những chân trời xa tắp. Một buổi tối, giữa ánh lửa của một trăm bó đuốc chiếu rực đỏ hàng ngàn khuôn mặt, xuất hiện bóng dáng rực rỡ của Ex-mê-ran-da, huyền ảo, ngây thơ, múa theo nhịp trống, làm say mê cả Pa-ri cuồng loạn và đau khổ. Có những khi Pa-ri vang dội tiếng hò reo "Nô-en! Nô-en!" của dân chúng, mỗi khi chứng kiến cử chỉ hào hiệp của Ex-mê-ran-da hay Ca-di-mô-đô. Và, một đêm Pa-ri cùng khổ đã vùng dậy, tấn công dữ dội nhà thờ Đức Bà, làm náo động và rung chuyển một đô thành âm u. Vích-to Huy-gô đã lãng mạn hoá thời kì Trung cổ, huyền thoại hoá một Pa-ri lịch sử. Mỗi nhân vật của ông là một huyền thoại – hiểu một cách đơn giản ở đây như sự kết hợp giữa hiện thực và ước mơ, hiện tại và tương lai, biểu hiện hi vọng vào ngày mai tươi sáng của loài người.

Ex-mê-ran-da là một nhân vật huyền thoại. Xuất hiện như một thiên thần trong một thế giới rách nát, một đêm rực lửa giữa tiếng hò reo của đám dân chúng, trong tiếng hát thiết tha, Ex-mê-ran-da là hình ảnh tượng trưng của tâm hồn thanh khiết, của lương tâm trong sáng, của hi vọng và tương lai, là "tia nắng, giọt sương, tiếng chim ca". Cô có những hành động làm dân chúng xúc động: cứu sống Pi-e Granh-goa và cho Ca-di-mô-đô uống nước trên đài bêu tù. Cô là "thượng giới và phố phường". Bi kịch của cô gái vô thừa nhận, không có tổ quốc, không gia đình và bị tử hình đó, là sự lầm lẫn có tính lịch sử trong mối tình cô đặt vào trái tim tàn bạo của Phê-buýt đờ Sa-tô-pe (Phoebus de Châteaupers), một gã lưu manh đẹp trai, mặc nhung y và đeo gươm, một đại uý dẫn đội cung thủ đàn áp cuộc nổi dậy của dân chúng, một tay đàng điếm thô bạo và tục tằn [...], một kẻ dã man đã cùng cô tình nhân mới xem treo cổ cô tình nhân cũ.

Là một nhân vật huyền thoại, Ca-di-mô-đô, người mang những tật nguyền kinh khủng, nhiều khi lại chiếu sáng bộ tiểu thuyết âm u này bằng một lương tâm toả ánh hào quang làm phấn chấn lòng người và nhiều khi vươn lên những tầm cỡ phi thường, trở thành nhân vật anh hùng ca; nó là linh hồn của nhà thờ Đức Bà; nó có khả năng kì diệu làm cho những khối đá nhà thờ sống dậy, hô hấp chuyển động; nó say mê với mười lăm chị em lớn nhỏ, một bầy chim ríu rít, một đám con gái ồn ào. Lúc làm Giáo hoàng một ngày hội, khi bị treo trên bánh xe, nơi đài bêu tù, máu chảy ròng ròng vì những ngọn roi quất, Ca-di-mô-đô thực sự trở thành người anh hùng khi nó cứu được Ex-mê-ran-da vào cư trú trong nhà thờ, hình bóng nó xuất hiện trên trời cao, tay nâng "chiến lợi phẩm", miệng hô "Tị nạn! Tị nạn!", trong khi ở bên dưới, đám dân chúng hò reo: "Nô-en! Nô-en!". Và để bảo vệ Ex-mê-ran-da, một lần, một mình Ca-di-mô-đô chống lại cuộc tấn công vào nhà thờ của hàng nghìn người đầy vũ khí. Bỗng nhiên nó hoá thân thành một anh hùng chiến trận của trường ca I-li-át. Bên cạnh những trang anh hùng ca đó, là một bản tình ca vô cùng xúc động. Trái tim đá của Ca-di-mô-đô đã đập những nhịp đập của tình yêu; từ khi "giọt lệ nhỏ vì giọt nước", Ca-di-mô-đô yêu; và trong bộ tiểu thuyết, Ca-di-mô-đô là người duy nhất có tình yêu. Phrô-lô (Frollo) chỉ là một quỷ dữ đam mê thân thể của Ex-mê-ran-da, cái chết của nó là lời tuyên bố sự thất bại hoàn toàn và cay đắng của triết học kinh viện, của chủ nghĩa khổ hạnh. "Bài ca Ca-di-mô-đô" buồn thê thảm đôi khi vang lên buổi tối: "Đừng nhìn khuôn mặt/ Hỡi cô gái hãy nhìn trái tim". Trái tim Ca-di-mô-đô trong sạch, say mê, cao thượng. Khi mất Ex-mê-ran-da, nó khóc, nước mắt như suối, nó húc đầu vào vách đá. Và cái chết của Ca-di-mô-đô là sự chấm dứt cuộc đời đau khổ trong các truyện dân gian, là một huyền thoại để lại những âm vang không bao giờ dứt. Cuộc đời Pi-e Granh-goa là một huyền thoại lớn. Mấy lần suýt bị treo cổ, anh đều thoát chết một cách tình cờ, khiến anh vô cùng kinh ngạc. Cuộc gặp gỡ giữa anh và Ex-mê-ran-da là một chuyện hoang đường, hài hước; cũng rất hoang đường, hài hước cuộc hôn nhân theo tục đập vỡ vò cùng đêm tân hôn có một không hai của nhà thơ – triết gia khắc kỉ bất đắc dĩ. Điều đặc biệt của nhà thơ lãng mạn này, là anh tự sáng tạo cho mình một cuộc sống ở bên ngoài cuộc sống thực, ở bên trên cuộc đời tầm thường. Anh có tự do: "Thà rách rưới mà có triết học và tự do là hơn". Anh sống "xa lạ" với thế giới quanh mình, nhận thức rõ ràng chế độ xã hội anh đang sống là một chế độ "thu thuế và treo cổ". Anh coi khinh cuộc sống xa hoa, xã hội buôn bán. Anh nghe thấy tiếng ì ầm nổi giận của dân chúng dưới thời Lu-i (Louis) XI tàn nhẫn, thiếu nhân nghĩa. Và một lần, tư tưởng bất bình của Granh-goa đã nhóm lên và thổi bùng ngọn lửa giận dữ của dân chúng, châm ngòi cho một cuộc nổi dậy, đốt cháy nhà thờ Đức Bà, kết thúc một cách hùng tráng bộ tiểu thuyết vĩ đại này. Hiện thực và hư ảo, hình tượng Pi-e Granh-goa là một hình tượng đẹp trong tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Pa-ri, Granh-goa là nghệ sĩ lí tưởng của các nhà văn lãng mạn thế ki XIX.

Huyền thoại lãng mạn của Vích-to Huy-gô gây những xúc động lớn, bởi vì nó là hiện thực được bao quanh bằng những vầng hào quang hoang đường, đầy tính thơ ca. Hạt nhân của những hình tượng hư ảo, gần như huyền bí đó, là cái chân thực. Huyễn hoặc là cái áo khoác sặc sỡ bên ngoài; bên trong là cái tồn tại thực sự trong xã hội.

Thành tựu văn học lãng mạn Huy-gô là đã xây dựng những huyền thoại để nói cái chân thực của thời đại ông. Những hiện thực này được phóng đại, đưa lên những kích thước to lớn, gần như hoang đường, có tính dân gian sâu sắc. Ở thế kỉ XX chúng ta, văn học lãng mạn cổ điển được tiếp thu và phát triển theo nhiều tuyến, với nhiều sắc thái, loại hình (Rô-manh Rô-lăng – Romain Rolland, loại hình Cáp-ca, loại hình Mỹ La-tinh,...), có khi đạt những thành tựu lớn, có khi gây những ấn tượng thần bí. Và khái niệm huyền thoại hiện đang gây biết bao cuộc tranh luận sôi nổi. Chủ nghĩa lãng mạn cổ điển – mà Vích-to Huy-gô là linh hồn và máu thịt – là một bước phát triển cực kì quan trọng của văn học loài người, bên cạnh chủ nghĩa hiện thực cổ điển.

(Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, NXB Khoa học xã hội – NXB Mũi Cà Mau, 1994, tr. 299 – 305)


Bài làm:
Câu 2
Tự luận

Đọc Nhà thờ Đức Bà Pa-ri (Paris) và suy nghĩ về tiểu thuyết lãng mạn

Đỗ Đức Hiểu

1831 – 1981. Nhà thờ Đức Bà Pa-ri ra mắt nhân loại đã được một trăm năm mươi năm. Suốt một trăm năm mươi năm qua, từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ lục địa này qua lục địa khác, cả loài người đón chào "toà nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca" này với niềm say mê lớn. Những hình tượng Ex-mê-ran-da (Esméralda), Ca-di-mô-đô (Quasimodo), Pi-e Granh-goa (Pierre Gringoire), những tiếng chuông nhà thờ Đức Bà lảnh lót, cả một đô thành Pa-ri thời Trung cổ, sống dậy trong trái tim mọi người, quay cuồng hỗn loạn, đầy màu sắc và âm thanh, đầy hương hoa, máu và nước mắt, – một thế giới khủng khiếp và nên thơ, trần tục và siêu phàm, cao thượng và hèn hạ; những ánh sáng rực rỡ bỗng nhiên loé lên trong bóng đêm mịt mù, u uất. Vích-to Huy-gô dựng lên ở thế kỉ XIX với thơ, kịch, tiểu thuyết của ông một thiên thần thoại diệu kì làm xao xuyến lòng người, nâng cao tầm vóc chúng ta, thức tỉnh những khát vọng cao quý trong trái tim mỗi người.

Nhà thờ Đức Bà Pa-ri dày trên sáu trăm trang, gồm mười một quyển, kể câu chuyện tình yêu đau khổ của Ca-di-mô-đô, "thằng gù nhà thờ Đức Bà" với Ex-mê-ran-da, "cô gái Bô-hê-miên (Bohémiens) Ai Cập" trong trắng tuyệt vời – ánh sáng chiếu rọi suốt tấn bi kịch hùng tráng, hương thơm toả ra từ mỗi chương bộ tiểu thuyết. Nhà thờ Đức Bà Pa-ri là một anh hùng ca ca ngợi tình yêu, trái tim con người, là niềm tin sắt đá vào sức vươn lên của nhân loại đến những đỉnh cao của lương tâm trong sáng, là bài thơ hùng tráng và trữ tình, là sự tổng hợp của thơ, kịch, tự sự, triết học, lịch sử,... một sự tổng hợp bao la khiến người đọc luôn luôn ngạc nhiên và mê say như sống trong một giấc mơ dài.

Vích-to Huy-gô làm sống dậy cái "đêm dài Trung cổ" khủng khiếp phương Tây, Pa-ri, đô thành của cung điện thần kì, của đêm hội rước Giáo hoàng, cuồng đãng, của những tay trộm cướp, những thầy tu phá giới, những phế binh, những hành khất què cụt, lở loét, vang động những tiếng gào thét, rên rĩ, những tiếng gầm gừ, với những căn nhà mốc meo, với triều đình kì quái của vương quốc tiếng lóng,... Nhưng cái đô thành Pa-ri ung nhọt, điên loạn ấy cũng sống những giờ phút rạng rỡ, buổi sáng mỗi ngày lễ lớn, khi mặt trời phát đi một tín hiệu thần kì, Pa-ri thức dậy với muôn ngàn tiếng chuông thoạt đầu thưa thớt, rồi ngày càng gióng giả và trở thành một dàn nhạc giao hưởng với những đàn bướm âm thanh sắc sỡ, làm rung rinh những chân trời xa tắp. Một buổi tối, giữa ánh lửa của một trăm bó đuốc chiếu rực đỏ hàng ngàn khuôn mặt, xuất hiện bóng dáng rực rỡ của Ex-mê-ran-da, huyền ảo, ngây thơ, múa theo nhịp trống, làm say mê cả Pa-ri cuồng loạn và đau khổ. Có những khi Pa-ri vang dội tiếng hò reo "Nô-en! Nô-en!" của dân chúng, mỗi khi chứng kiến cử chỉ hào hiệp của Ex-mê-ran-da hay Ca-di-mô-đô. Và, một đêm Pa-ri cùng khổ đã vùng dậy, tấn công dữ dội nhà thờ Đức Bà, làm náo động và rung chuyển một đô thành âm u. Vích-to Huy-gô đã lãng mạn hoá thời kì Trung cổ, huyền thoại hoá một Pa-ri lịch sử. Mỗi nhân vật của ông là một huyền thoại – hiểu một cách đơn giản ở đây như sự kết hợp giữa hiện thực và ước mơ, hiện tại và tương lai, biểu hiện hi vọng vào ngày mai tươi sáng của loài người.

Ex-mê-ran-da là một nhân vật huyền thoại. Xuất hiện như một thiên thần trong một thế giới rách nát, một đêm rực lửa giữa tiếng hò reo của đám dân chúng, trong tiếng hát thiết tha, Ex-mê-ran-da là hình ảnh tượng trưng của tâm hồn thanh khiết, của lương tâm trong sáng, của hi vọng và tương lai, là "tia nắng, giọt sương, tiếng chim ca". Cô có những hành động làm dân chúng xúc động: cứu sống Pi-e Granh-goa và cho Ca-di-mô-đô uống nước trên đài bêu tù. Cô là "thượng giới và phố phường". Bi kịch của cô gái vô thừa nhận, không có tổ quốc, không gia đình và bị tử hình đó, là sự lầm lẫn có tính lịch sử trong mối tình cô đặt vào trái tim tàn bạo của Phê-buýt đờ Sa-tô-pe (Phoebus de Châteaupers), một gã lưu manh đẹp trai, mặc nhung y và đeo gươm, một đại uý dẫn đội cung thủ đàn áp cuộc nổi dậy của dân chúng, một tay đàng điếm thô bạo và tục tằn [...], một kẻ dã man đã cùng cô tình nhân mới xem treo cổ cô tình nhân cũ.

Là một nhân vật huyền thoại, Ca-di-mô-đô, người mang những tật nguyền kinh khủng, nhiều khi lại chiếu sáng bộ tiểu thuyết âm u này bằng một lương tâm toả ánh hào quang làm phấn chấn lòng người và nhiều khi vươn lên những tầm cỡ phi thường, trở thành nhân vật anh hùng ca; nó là linh hồn của nhà thờ Đức Bà; nó có khả năng kì diệu làm cho những khối đá nhà thờ sống dậy, hô hấp chuyển động; nó say mê với mười lăm chị em lớn nhỏ, một bầy chim ríu rít, một đám con gái ồn ào. Lúc làm Giáo hoàng một ngày hội, khi bị treo trên bánh xe, nơi đài bêu tù, máu chảy ròng ròng vì những ngọn roi quất, Ca-di-mô-đô thực sự trở thành người anh hùng khi nó cứu được Ex-mê-ran-da vào cư trú trong nhà thờ, hình bóng nó xuất hiện trên trời cao, tay nâng "chiến lợi phẩm", miệng hô "Tị nạn! Tị nạn!", trong khi ở bên dưới, đám dân chúng hò reo: "Nô-en! Nô-en!". Và để bảo vệ Ex-mê-ran-da, một lần, một mình Ca-di-mô-đô chống lại cuộc tấn công vào nhà thờ của hàng nghìn người đầy vũ khí. Bỗng nhiên nó hoá thân thành một anh hùng chiến trận của trường ca I-li-át. Bên cạnh những trang anh hùng ca đó, là một bản tình ca vô cùng xúc động. Trái tim đá của Ca-di-mô-đô đã đập những nhịp đập của tình yêu; từ khi "giọt lệ nhỏ vì giọt nước", Ca-di-mô-đô yêu; và trong bộ tiểu thuyết, Ca-di-mô-đô là người duy nhất có tình yêu. Phrô-lô (Frollo) chỉ là một quỷ dữ đam mê thân thể của Ex-mê-ran-da, cái chết của nó là lời tuyên bố sự thất bại hoàn toàn và cay đắng của triết học kinh viện, của chủ nghĩa khổ hạnh. "Bài ca Ca-di-mô-đô" buồn thê thảm đôi khi vang lên buổi tối: "Đừng nhìn khuôn mặt/ Hỡi cô gái hãy nhìn trái tim". Trái tim Ca-di-mô-đô trong sạch, say mê, cao thượng. Khi mất Ex-mê-ran-da, nó khóc, nước mắt như suối, nó húc đầu vào vách đá. Và cái chết của Ca-di-mô-đô là sự chấm dứt cuộc đời đau khổ trong các truyện dân gian, là một huyền thoại để lại những âm vang không bao giờ dứt. Cuộc đời Pi-e Granh-goa là một huyền thoại lớn. Mấy lần suýt bị treo cổ, anh đều thoát chết một cách tình cờ, khiến anh vô cùng kinh ngạc. Cuộc gặp gỡ giữa anh và Ex-mê-ran-da là một chuyện hoang đường, hài hước; cũng rất hoang đường, hài hước cuộc hôn nhân theo tục đập vỡ vò cùng đêm tân hôn có một không hai của nhà thơ – triết gia khắc kỉ bất đắc dĩ. Điều đặc biệt của nhà thơ lãng mạn này, là anh tự sáng tạo cho mình một cuộc sống ở bên ngoài cuộc sống thực, ở bên trên cuộc đời tầm thường. Anh có tự do: "Thà rách rưới mà có triết học và tự do là hơn". Anh sống "xa lạ" với thế giới quanh mình, nhận thức rõ ràng chế độ xã hội anh đang sống là một chế độ "thu thuế và treo cổ". Anh coi khinh cuộc sống xa hoa, xã hội buôn bán. Anh nghe thấy tiếng ì ầm nổi giận của dân chúng dưới thời Lu-i (Louis) XI tàn nhẫn, thiếu nhân nghĩa. Và một lần, tư tưởng bất bình của Granh-goa đã nhóm lên và thổi bùng ngọn lửa giận dữ của dân chúng, châm ngòi cho một cuộc nổi dậy, đốt cháy nhà thờ Đức Bà, kết thúc một cách hùng tráng bộ tiểu thuyết vĩ đại này. Hiện thực và hư ảo, hình tượng Pi-e Granh-goa là một hình tượng đẹp trong tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Pa-ri, Granh-goa là nghệ sĩ lí tưởng của các nhà văn lãng mạn thế ki XIX.

Huyền thoại lãng mạn của Vích-to Huy-gô gây những xúc động lớn, bởi vì nó là hiện thực được bao quanh bằng những vầng hào quang hoang đường, đầy tính thơ ca. Hạt nhân của những hình tượng hư ảo, gần như huyền bí đó, là cái chân thực. Huyễn hoặc là cái áo khoác sặc sỡ bên ngoài; bên trong là cái tồn tại thực sự trong xã hội.

Thành tựu văn học lãng mạn Huy-gô là đã xây dựng những huyền thoại để nói cái chân thực của thời đại ông. Những hiện thực này được phóng đại, đưa lên những kích thước to lớn, gần như hoang đường, có tính dân gian sâu sắc. Ở thế kỉ XX chúng ta, văn học lãng mạn cổ điển được tiếp thu và phát triển theo nhiều tuyến, với nhiều sắc thái, loại hình (Rô-manh Rô-lăng – Romain Rolland, loại hình Cáp-ca, loại hình Mỹ La-tinh,...), có khi đạt những thành tựu lớn, có khi gây những ấn tượng thần bí. Và khái niệm huyền thoại hiện đang gây biết bao cuộc tranh luận sôi nổi. Chủ nghĩa lãng mạn cổ điển – mà Vích-to Huy-gô là linh hồn và máu thịt – là một bước phát triển cực kì quan trọng của văn học loài người, bên cạnh chủ nghĩa hiện thực cổ điển.

(Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, NXB Khoa học xã hội – NXB Mũi Cà Mau, 1994, tr. 299 – 305)


Bài làm:
Câu 3
Tự luận

Đọc Nhà thờ Đức Bà Pa-ri (Paris) và suy nghĩ về tiểu thuyết lãng mạn

Đỗ Đức Hiểu

1831 – 1981. Nhà thờ Đức Bà Pa-ri ra mắt nhân loại đã được một trăm năm mươi năm. Suốt một trăm năm mươi năm qua, từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ lục địa này qua lục địa khác, cả loài người đón chào "toà nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca" này với niềm say mê lớn. Những hình tượng Ex-mê-ran-da (Esméralda), Ca-di-mô-đô (Quasimodo), Pi-e Granh-goa (Pierre Gringoire), những tiếng chuông nhà thờ Đức Bà lảnh lót, cả một đô thành Pa-ri thời Trung cổ, sống dậy trong trái tim mọi người, quay cuồng hỗn loạn, đầy màu sắc và âm thanh, đầy hương hoa, máu và nước mắt, – một thế giới khủng khiếp và nên thơ, trần tục và siêu phàm, cao thượng và hèn hạ; những ánh sáng rực rỡ bỗng nhiên loé lên trong bóng đêm mịt mù, u uất. Vích-to Huy-gô dựng lên ở thế kỉ XIX với thơ, kịch, tiểu thuyết của ông một thiên thần thoại diệu kì làm xao xuyến lòng người, nâng cao tầm vóc chúng ta, thức tỉnh những khát vọng cao quý trong trái tim mỗi người.

Nhà thờ Đức Bà Pa-ri dày trên sáu trăm trang, gồm mười một quyển, kể câu chuyện tình yêu đau khổ của Ca-di-mô-đô, "thằng gù nhà thờ Đức Bà" với Ex-mê-ran-da, "cô gái Bô-hê-miên (Bohémiens) Ai Cập" trong trắng tuyệt vời – ánh sáng chiếu rọi suốt tấn bi kịch hùng tráng, hương thơm toả ra từ mỗi chương bộ tiểu thuyết. Nhà thờ Đức Bà Pa-ri là một anh hùng ca ca ngợi tình yêu, trái tim con người, là niềm tin sắt đá vào sức vươn lên của nhân loại đến những đỉnh cao của lương tâm trong sáng, là bài thơ hùng tráng và trữ tình, là sự tổng hợp của thơ, kịch, tự sự, triết học, lịch sử,... một sự tổng hợp bao la khiến người đọc luôn luôn ngạc nhiên và mê say như sống trong một giấc mơ dài.

Vích-to Huy-gô làm sống dậy cái "đêm dài Trung cổ" khủng khiếp phương Tây, Pa-ri, đô thành của cung điện thần kì, của đêm hội rước Giáo hoàng, cuồng đãng, của những tay trộm cướp, những thầy tu phá giới, những phế binh, những hành khất què cụt, lở loét, vang động những tiếng gào thét, rên rĩ, những tiếng gầm gừ, với những căn nhà mốc meo, với triều đình kì quái của vương quốc tiếng lóng,... Nhưng cái đô thành Pa-ri ung nhọt, điên loạn ấy cũng sống những giờ phút rạng rỡ, buổi sáng mỗi ngày lễ lớn, khi mặt trời phát đi một tín hiệu thần kì, Pa-ri thức dậy với muôn ngàn tiếng chuông thoạt đầu thưa thớt, rồi ngày càng gióng giả và trở thành một dàn nhạc giao hưởng với những đàn bướm âm thanh sắc sỡ, làm rung rinh những chân trời xa tắp. Một buổi tối, giữa ánh lửa của một trăm bó đuốc chiếu rực đỏ hàng ngàn khuôn mặt, xuất hiện bóng dáng rực rỡ của Ex-mê-ran-da, huyền ảo, ngây thơ, múa theo nhịp trống, làm say mê cả Pa-ri cuồng loạn và đau khổ. Có những khi Pa-ri vang dội tiếng hò reo "Nô-en! Nô-en!" của dân chúng, mỗi khi chứng kiến cử chỉ hào hiệp của Ex-mê-ran-da hay Ca-di-mô-đô. Và, một đêm Pa-ri cùng khổ đã vùng dậy, tấn công dữ dội nhà thờ Đức Bà, làm náo động và rung chuyển một đô thành âm u. Vích-to Huy-gô đã lãng mạn hoá thời kì Trung cổ, huyền thoại hoá một Pa-ri lịch sử. Mỗi nhân vật của ông là một huyền thoại – hiểu một cách đơn giản ở đây như sự kết hợp giữa hiện thực và ước mơ, hiện tại và tương lai, biểu hiện hi vọng vào ngày mai tươi sáng của loài người.

Ex-mê-ran-da là một nhân vật huyền thoại. Xuất hiện như một thiên thần trong một thế giới rách nát, một đêm rực lửa giữa tiếng hò reo của đám dân chúng, trong tiếng hát thiết tha, Ex-mê-ran-da là hình ảnh tượng trưng của tâm hồn thanh khiết, của lương tâm trong sáng, của hi vọng và tương lai, là "tia nắng, giọt sương, tiếng chim ca". Cô có những hành động làm dân chúng xúc động: cứu sống Pi-e Granh-goa và cho Ca-di-mô-đô uống nước trên đài bêu tù. Cô là "thượng giới và phố phường". Bi kịch của cô gái vô thừa nhận, không có tổ quốc, không gia đình và bị tử hình đó, là sự lầm lẫn có tính lịch sử trong mối tình cô đặt vào trái tim tàn bạo của Phê-buýt đờ Sa-tô-pe (Phoebus de Châteaupers), một gã lưu manh đẹp trai, mặc nhung y và đeo gươm, một đại uý dẫn đội cung thủ đàn áp cuộc nổi dậy của dân chúng, một tay đàng điếm thô bạo và tục tằn [...], một kẻ dã man đã cùng cô tình nhân mới xem treo cổ cô tình nhân cũ.

Là một nhân vật huyền thoại, Ca-di-mô-đô, người mang những tật nguyền kinh khủng, nhiều khi lại chiếu sáng bộ tiểu thuyết âm u này bằng một lương tâm toả ánh hào quang làm phấn chấn lòng người và nhiều khi vươn lên những tầm cỡ phi thường, trở thành nhân vật anh hùng ca; nó là linh hồn của nhà thờ Đức Bà; nó có khả năng kì diệu làm cho những khối đá nhà thờ sống dậy, hô hấp chuyển động; nó say mê với mười lăm chị em lớn nhỏ, một bầy chim ríu rít, một đám con gái ồn ào. Lúc làm Giáo hoàng một ngày hội, khi bị treo trên bánh xe, nơi đài bêu tù, máu chảy ròng ròng vì những ngọn roi quất, Ca-di-mô-đô thực sự trở thành người anh hùng khi nó cứu được Ex-mê-ran-da vào cư trú trong nhà thờ, hình bóng nó xuất hiện trên trời cao, tay nâng "chiến lợi phẩm", miệng hô "Tị nạn! Tị nạn!", trong khi ở bên dưới, đám dân chúng hò reo: "Nô-en! Nô-en!". Và để bảo vệ Ex-mê-ran-da, một lần, một mình Ca-di-mô-đô chống lại cuộc tấn công vào nhà thờ của hàng nghìn người đầy vũ khí. Bỗng nhiên nó hoá thân thành một anh hùng chiến trận của trường ca I-li-át. Bên cạnh những trang anh hùng ca đó, là một bản tình ca vô cùng xúc động. Trái tim đá của Ca-di-mô-đô đã đập những nhịp đập của tình yêu; từ khi "giọt lệ nhỏ vì giọt nước", Ca-di-mô-đô yêu; và trong bộ tiểu thuyết, Ca-di-mô-đô là người duy nhất có tình yêu. Phrô-lô (Frollo) chỉ là một quỷ dữ đam mê thân thể của Ex-mê-ran-da, cái chết của nó là lời tuyên bố sự thất bại hoàn toàn và cay đắng của triết học kinh viện, của chủ nghĩa khổ hạnh. "Bài ca Ca-di-mô-đô" buồn thê thảm đôi khi vang lên buổi tối: "Đừng nhìn khuôn mặt/ Hỡi cô gái hãy nhìn trái tim". Trái tim Ca-di-mô-đô trong sạch, say mê, cao thượng. Khi mất Ex-mê-ran-da, nó khóc, nước mắt như suối, nó húc đầu vào vách đá. Và cái chết của Ca-di-mô-đô là sự chấm dứt cuộc đời đau khổ trong các truyện dân gian, là một huyền thoại để lại những âm vang không bao giờ dứt. Cuộc đời Pi-e Granh-goa là một huyền thoại lớn. Mấy lần suýt bị treo cổ, anh đều thoát chết một cách tình cờ, khiến anh vô cùng kinh ngạc. Cuộc gặp gỡ giữa anh và Ex-mê-ran-da là một chuyện hoang đường, hài hước; cũng rất hoang đường, hài hước cuộc hôn nhân theo tục đập vỡ vò cùng đêm tân hôn có một không hai của nhà thơ – triết gia khắc kỉ bất đắc dĩ. Điều đặc biệt của nhà thơ lãng mạn này, là anh tự sáng tạo cho mình một cuộc sống ở bên ngoài cuộc sống thực, ở bên trên cuộc đời tầm thường. Anh có tự do: "Thà rách rưới mà có triết học và tự do là hơn". Anh sống "xa lạ" với thế giới quanh mình, nhận thức rõ ràng chế độ xã hội anh đang sống là một chế độ "thu thuế và treo cổ". Anh coi khinh cuộc sống xa hoa, xã hội buôn bán. Anh nghe thấy tiếng ì ầm nổi giận của dân chúng dưới thời Lu-i (Louis) XI tàn nhẫn, thiếu nhân nghĩa. Và một lần, tư tưởng bất bình của Granh-goa đã nhóm lên và thổi bùng ngọn lửa giận dữ của dân chúng, châm ngòi cho một cuộc nổi dậy, đốt cháy nhà thờ Đức Bà, kết thúc một cách hùng tráng bộ tiểu thuyết vĩ đại này. Hiện thực và hư ảo, hình tượng Pi-e Granh-goa là một hình tượng đẹp trong tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Pa-ri, Granh-goa là nghệ sĩ lí tưởng của các nhà văn lãng mạn thế ki XIX.

Huyền thoại lãng mạn của Vích-to Huy-gô gây những xúc động lớn, bởi vì nó là hiện thực được bao quanh bằng những vầng hào quang hoang đường, đầy tính thơ ca. Hạt nhân của những hình tượng hư ảo, gần như huyền bí đó, là cái chân thực. Huyễn hoặc là cái áo khoác sặc sỡ bên ngoài; bên trong là cái tồn tại thực sự trong xã hội.

Thành tựu văn học lãng mạn Huy-gô là đã xây dựng những huyền thoại để nói cái chân thực của thời đại ông. Những hiện thực này được phóng đại, đưa lên những kích thước to lớn, gần như hoang đường, có tính dân gian sâu sắc. Ở thế kỉ XX chúng ta, văn học lãng mạn cổ điển được tiếp thu và phát triển theo nhiều tuyến, với nhiều sắc thái, loại hình (Rô-manh Rô-lăng – Romain Rolland, loại hình Cáp-ca, loại hình Mỹ La-tinh,...), có khi đạt những thành tựu lớn, có khi gây những ấn tượng thần bí. Và khái niệm huyền thoại hiện đang gây biết bao cuộc tranh luận sôi nổi. Chủ nghĩa lãng mạn cổ điển – mà Vích-to Huy-gô là linh hồn và máu thịt – là một bước phát triển cực kì quan trọng của văn học loài người, bên cạnh chủ nghĩa hiện thực cổ điển.

(Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, NXB Khoa học xã hội – NXB Mũi Cà Mau, 1994, tr. 299 – 305)


Bài làm: