Bài học liên quan
Phần 1
(5 câu)Thế giới tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu
Trần Ngọc Hiếu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một gương mặt quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông không chỉ là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì chống Mỹ cứu nước với các tác phẩm như Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972) mà còn là người mở đường dũng cảm cho văn học thời kì Đổi mới. Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu từ cuối thập niên 1970 đã có nhiều đột phá về tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện. Những phương diện này đã là đối tượng của một số nghiên cứu có giá trị.
Tuy nhiên, sáng tác của các nhà văn lớn luôn có khả năng khơi gợi những khám phá và diễn giải mới. Vẫn còn có nhiều khía cạnh vi tế trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đòi hỏi sự chú ý và cách tiếp cận mới mẻ hơn.
Bài viết này đi vào nghiên cứu sự thể hiện tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Đây là đề tài chưa được quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu đã có, mặc dù thế giới của nhân vật người già và ám ảnh về tuổi già đã được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ, thể hiện rất đậm nét trên các trang văn của mình. Bài viết sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu ý niệm về tuổi già trong văn hoá, khảo sát thế giới nhân vật và những kí hiệu về tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, từ đó, làm nổi bật cảm quan của nhà văn về con người và thời thế trong sự liên hệ với một số nhà văn thời kì Đổi mới cũng có chung mối ưu tư về tuổi già.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm tuổi già
[...] Thực ra không dễ để xác định ý niệm "tuổi già". Thứ nhất, việc một người đến ngưỡng tuổi nào thì được coi là già còn phụ thuộc vào những ngữ cảnh văn hoá nhất định. Ở thời Trung cổ, tuổi thọ con người chưa cao, bởi vậy thi sĩ Đan-tê (Dante) đã khẳng định "tuổi thanh niên kéo dài cho tới hai mươi lăm, tuổi chín chắn hoàn tất vào năm bốn mươi lăm, sau đó tuổi già bắt đầu". Rõ ràng cái mốc này không còn thích đáng ở thời hiện tại khi tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên. Thứ hai, tuổi già không chỉ được xác định theo những dấu hiệu bên ngoài như da nhăn, mắt kém, tóc bạc, răng long,... mà còn gắn liền với những trạng thái con người tự cảm thấy: ốm yếu, kém minh mẫn, nhiều nếm trải, nhiều kinh nghiệm, có quyền uy ("sống lâu lên lão làng"), bị thất thế, lạc loài,... [...] Thứ ba, tuổi già hoàn toàn cũng có thể được xem như một kiến tạo văn hoá: việc ai đó được coi là người già, việc gán cho tuổi già những đặc điểm, phẩm chất, quyền năng hay giới hạn nào đó thực chất là kết quả của những hoạt động diễn ngôn trong văn hoá. Bên dưới những lớp nghĩa được tạo nên ấy là những nỗ lực củng cố hay làm lung lay những quyền lực, tôn ti, thứ bậc trong đời sống xã hội ở một ngữ cảnh đặc thù. [...]
Như vậy, tuổi già là một ý niệm mang tính giao cắt: vừa là một hiện tượng thuộc về quá trình sinh lí của con người, vừa là một kiến tạo văn hoá; vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, lại vừa gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù. [...] Thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu hầu hết đều sống trong tình trạng già đi. Người phụ nữ hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa mới chỉ trạc ngoài bốn mươi nhưng "dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già"; trong Cỏ lau, Lực khi nhìn tấm ảnh cũ chụp mình thời trẻ và nhìn bé Thơm đang đi bên cạnh mình không tránh khỏi cảm giác thấy mình thật "già nua"; ở Phiên chợ Giát, lão Khúng nhìn thấy mình như một "lão già ghê tởm" với "thân hình cao vổng lại lủng củng đầy những xương cùng xấu, mái tóc cắt ngắn như rễ tre, mớ đổ phải, mớ đổ về phía trước trán, sợi đen sợi trắng loang lổ, mặt mũi gồ ghề...". [...]
2. Khủng hoảng hiện sinh của các nhân vật tuổi già
Tính bi kịch của nhân vật tuổi già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nằm ở chỗ chính vào khoảnh khắc chạm vào ngưỡng cuối cùng của đời người, họ đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện sinh không thể né tránh. Trong Dấu vết nghề nghiệp và Bến quê, nhân vật của Nguyễn Minh Châu đều bị đặt vào những tình huống hạn chế: khi cái đón đợi mình phía trước chỉ còn một khả năng duy nhất – cái chết, điều duy nhất con người có thể làm là nhìn lại quãng đời đã sống. Ở thời khắc ấy, những gì kí ức còn neo giữ lại là thứ làm nhân vật day dứt, thậm chí ân hận hơn cả. Vị cựu thủ môn lão luyện không thể nào quên được cú bắt bóng vụng dại và ngớ ngẩn nhất trong sự nghiệp của mình cũng như cách xử lí tình huống gian lận nhưng độ lượng của vị trọng tài từng là đối thủ của mình trên sân cỏ cũng như trong tình yêu. [...] Điều mà vị cựu thủ môn muốn nói nhất trước khi chết là sự nghiệt ngã và tình người trong bóng đá, có những điều phức tạp hơn, sâu xa hơn bàn thắng – bàn thua mà người ta nhìn thấy trong trận đấu. Trong Bến quê, điều làm Nhĩ đau đớn hơn cả sự hành hạ của thân xác vào ngày cuối cùng trong đời mình là khi nhận ra mình sắp chết nhưng mình thực sự chưa từng sống – nếu hiểu sống phải là quá trình con người ta nhận ra ý nghĩa của bản thân đời sống.
2.1. Cảm giác bơ vơ, xa lạ với chính mình
Cỏ lau và Phiên chợ Giát – hai tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu sau 1975, cũng là hai tác phẩm đào sâu vào những khủng hoảng hiện sinh xuất hiện đúng vào thời điểm con người chạm ngưỡng của sự già. Trong Cỏ lau, Lực trở về quê hương để làm công việc quy tập thi hài cốt của những người đồng đội nhưng ở đó suốt bao nhiêu năm, những người thân của anh đều nghĩ anh đã chết. Mô típ trở về ở truyện ngắn này cho phép ta liên hệ ở mức độ nào đó với cuộc hồi hương của Uy-li-xơ (Ulysses) trong sử thi Ô-đi-xê (Odyssey). Sau cuộc chiến thành Tơ-roa (Troy), trải mười năm lưu lạc, Uy-li-xơ vượt qua vô vàn thử thách bằng sức mạnh và trí tuệ của mình, để tìm về quê nhà, đoàn tụ với vợ con, khẳng định tư cách anh hùng của mình. Ngược lại, cuộc hồi hương của Lực – kẻ mất khoảng thời gian gần gấp đôi Uy-li-xơ để trở về sau chiến tranh – là thời điểm đánh dấu những khủng hoảng hiện sinh của nhân vật, không phải chỉ ở chỗ người nhà đều tin anh đã chết, vợ anh đã đi lấy người khác mà ở những biểu hiện sâu xa hơn trong tâm thức của nhân vật. Trong một tiểu luận về Cỏ lau, Đoàn Cầm Thi đã chỉ ra một khía cạnh của sự khủng hoảng này ở nhân vật: sự xa lạ với chính mình khi Lực đối diện với tấm ảnh thời trẻ: "Không thể nào không nhận thấy ở Lực sự bất ổn, thậm chí sợ hãi, trước hình ảnh của chính mình: Lực đang biến thành người xa lạ". Tôi muốn nói thêm: chính ý thức về sự già đi của bản thân sau bao năm chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến trạng thái bất ổn đó ở Lực. Song khủng hoảng hiện sinh ấy còn thể hiện ở một khía cạnh khác: Lực đối diện với tình trạng mất ý nghĩa của những gì trong thực tại anh đang thấy, đang chứng kiến khi trở về. Núi Đợi đã được người dân tự động đổi tên thành núi Tử Sĩ – cái tên nhắc đến sự mất mát khốc liệt của cuộc chiến vừa qua; vùng đất xưa kia là bãi chiến trường nơi con người hi sinh xương máu để chiếm lấy từng tấc đất nay chỉ có lau mọc lên um tùm, rậm rạp, gây khó cho việc tìm hài cốt đồng đội; nơi yên nghỉ của người chết giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò chơi trận giả. Và cuối cùng, cuộc chiến mà Lực "không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết tuổi trẻ vào đấy mà cống hiến cho nó" nhưng rốt cục, "nó như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ". Chấn thương ấy là trạng thái không thể nhìn thấy được từ bên ngoài, nó khiến Lực bơ vơ như khách lạ chính trên mảnh đất cố hương của mình, sự sống sót của mình hoá ra lại chỉ đem đến cho nhân vật mặc cảm tội lỗi khi có thể xáo trộn tất cả những cuộc đời của người khác. Sự trở về không phải là phần thưởng dành cho nhân vật như ta thấy trong sử thi Hô-me-rơ (Hómèros); trái lại ở đây, Lực ý thức việc mình chỉ như "một khách lạ" giống một hình phạt của định mệnh. [...]
2.2. Trạng thái trống rỗng, thất bại, không mục đích
Đến cuối đời, cái mà người ta nhận ra được là sự mất ý nghĩa của tất cả những gì từng khiến con người phải nhọc lòng. Đó có lẽ là trải nghiệm của lão Khúng trên đường dắt con bò khoang ra chợ. Trong dòng ý thức của lão Khúng, cả cuộc đời của nhân vật được tái hiện và tự đánh giá một cách nghiêm khắc nhất, theo đó, cứ như thể toàn bộ lao lực của ông rốt cục giống như hành động đẩy đá của Xi-xi-phu (Sisyphus): người hùng khai hoang một vùng đất cuối cùng vẫn chỉ "sống trong sự vây bọc tưởng không bao giờ thoát nổi của hoang vu". Cuộc đời vất sức cho đất hoang rốt cục cũng đi đến kiệt cùng như con bò khoang già nua, vòng đời của nó thực ra đồng dạng với vòng đời của chính lão Khúng. Bởi thế, hành động nhân vật thả con bò về rừng hoang, thay vì đem bán nó ở chợ để cuối cùng bị làm thịt thành thức ăn cho người, nhất là dân thành thị, có thể xem là cuộc nổi loạn hiện sinh. Việc này khiến toàn bộ hành trình đi từ nhà lúc khuya khoắt đến chợ của lão Khúng trở thành một hành trình vô mục đích và không thể hiểu nổi theo lẽ thông thường. Theo Hoàng Ngọc Hiến, hành động này thể hiện "ảo tưởng tự do hoang dã" của lão Khúng, cho dù việc con bò cuối cùng lại quay trở về gặp chủ nó là "sự thất bại não nùng" của ảo tưởng ấy. [...] Nhưng khoảnh khắc đột nhiên nhân vật cảm thấy cần phải giải thoát cho con bò chính là lúc ông lão lấy lại sức mạnh nội tại, dù chỉ trước đó thôi, ông còn có cảm giác mình "sắp chết". Sức mạnh ấy giúp ông đủ can đảm để chấm dứt việc tái diễn chu trình vô nhân đạo nhưng đã trở nên bình thường, thậm chí bị coi như tất yếu, của đời sống, để còn có thể là người – điều mà ông phải giữ lại dẫu có thể tất cả những thứ khác, dù vô cùng quý giá trong đời ông, như đất đai, con cái, đều mất hết: "Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng vô nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa chứ còn đâu nửa người nửa thú vật? Một lát sau lão không lên án, tự sỉ vả mình nữa mà chỉ thấy trong người mình một cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát...". Ý thức giữ lại tư cách người ở lão Khúng có thể gợi nhớ đến lão già Xan-ti-a-gô (Santiago) trong Ông già và biển cả của Ơ-nít Hê-minh-uê (Ernest Hemingway) – người chấp nhận đương đầu không cân sức với đàn cá dữ giữa đại dương để không chỉ bảo vệ thành quả lao động của mình mà để khẳng định sự kiên định của việc làm người: "Con người có thể bị huỷ diệt, nhưng không thể bị đánh bại". [...] Lão Khúng, vì thế, có thể xem là hình tượng người già cứng cỏi còn trụ lại trong thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu, dù thực chất, khác hẳn với ông lão Xan-ti-a-gô của Hê-minh-uê, lão không được nhà văn tạo hình như một mẫu nhân vật chiến bại anh hùng trong cuộc hiện sinh.
2.3. Trải nghiệm sám hối và ý thức chuộc tội
Khủng hoảng hiện sinh ở nhân vật tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu còn được khắc hoạ ở những trải nghiệm ăn năn, sám hối và ý thức chuộc tội. Ở trên, tôi đã nói đến mặc cảm tội lỗi ở Lực bởi chính sự sống sót của anh sau chiến tranh có thể phá vỡ cuộc sống mà anh nghĩ đã yên ổn. Nhưng sâu xa hơn, chính cuộc chiến tranh mà Lực trải qua cũng là nguồn gốc của mặc cảm trong anh: nó không hề là kì tích, chiến công dù anh trở về đây trong tư cách của người thắng trận. [...] Kết thúc Cỏ lau là một tưởng tượng của Lực về tương lai của mình, nơi anh chấp nhận sẽ sống về già trong cô độc và trong trách nhiệm chịu tội: đó là thế giới nơi chỉ có anh và người cha già sống những ngày cuối đời cùng nấm mộ của Phi. Phiên chợ Giát cũng mở đầu bằng cảm giác tội đồ của lão Khúng khi giật mình khỏi cơn ác mộng mà ở đó, lão nhìn thấy mình như một hung thần đang giương cây búa to nặng để đập chết bò khoang. Nỗi sợ hãi bởi cảm giác như thấy phần tăm tối nhất trong con người mình, khả năng trở nên ác độc, tàn nhẫn của chính bản thân khiến lão bàng hoàng: "Giá như người khác, là người biết ngoan ngoãn tuân phục một thứ tôn giáo nào thì chắc chắn lúc này, giữa đêm hôm khuya khoắt, lão đã lập tức quỳ sụp xuống mà hối hả đọc kinh, đập đầu xuống đất mà van nài kẻ tôn thờ, trút lòng ăn nănsám hối trước đấng thiêng liêng ở trên đầu trên cổ. Đằng này là một kẻ vô đạo, lão Khúng chỉ biết lật mình ngồi dậy trên tấm phản gỗ mà run sợ một mình, vật vã đau khổ một mình, tự mình lại lấy làm sợ hãi trước chính mình. Lão mở trùng trùng hai con mắt mà nhìn tên hung thần đổ tể vừa nhập vào lão, ngay khi lão bình yên ngủ trên tấm phản quen thuộc giữa nhà mình.". Nỗi sợ hãi trước chính mình này có thể xem là cơ chế tâm lí bề sâu chi phối quyết định tưởng như đột nhiên và có vẻ "điên rồ" của lão Khúng khi giải thoát cho bò khoang ở cuối truyện. Nội tâm của nhân vật không chỉ dày đặc nỗi day dứt khi nghĩ về mối quan hệ giữa mình với con bò đã gắn bó cả đời mà còn trĩu nặng những niềm áy náy khi nghĩ đến những đứa con, đặc biệt sự ân hận khi nghĩ về Dũng – đứa conhi sinh nơi xứ người. Những lí do cao cả không đủ khoả lấp được nỗi đau trần trụi của một người cha mất con và cũng có thể mất luôn ảo ảnh về con khi lão không có dù chỉ một tấm hình của con chụp khi còn sống.
[...] Những chi tiết về thế giới người già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thực ra có thể nói lên một số thay đổi quan trọng trong khung tư duy của nhà văn khi ta thử làm phép so sánh với những hình tượng cùng loại trong sáng tác của một số nhà văn ở thập niên 1980. Trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ [...], Trương Ba có thể lạc lõng trong nhà nhưng không lạc loài, sự lựa chọn của ông – chấp nhận tan vào hư vô hơn là duy trì sự tồn tại trong hình hài vay mượn của kẻ khác – ít nhiều còn có thể lay tỉnh con cái và đặc biệt khiến ông kết nối lại được với thế hệ cháu mình. [...] Đến Nguyễn Minh Châu, người già mất con trong và sau chiến tranh, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó là tự sự của những người già côi cút, bất lực với chính những đứa con của mình. Tướng Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp thấy mình "lạc loài" trong thời bình, không thể thích nghi với tất cả những phức tạp, nhốn nháo của thời bình. [...] Sự suy giảm trọng lực của tiếng nói và vị thế của người già từ Lưu Quang Vũ qua Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp phản ánh sự biến động về cảm quan đạo đức ở mỗi nhà văn tương ứng với nhận thức của họ về những rạn nứt, xáo trộn về giá trị của xã hội hậu chiến. Điều này, đến lượt mình, dẫn đến sự khác nhau cơ bản về tính chất bức tranh thế giới trong sáng tác của ba nhà văn. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ ở trạng thái có thể bắt bệnh và chữa lành lại, đó là nơi sự hoà giải thế hệ có thể diễn ra. Thế giới của Nguyễn Minh Châu là thế giới nơi con người phạm lỗi, mê lầm, nó đòi hỏi sự ăn năn, sám hối và điều này được tự giác thực hiện trước hết bởi những người đã đi gần hết chặngđường của mình. Thế giới của Nguyễn Huy Thiệp đối lập với thế giới của Lưu Quang Vũ ở chỗ nó mất đi ảo tưởng lãng mạn về khả năng chữa lành những căn bệnh của xã hội. [...]
KẾT LUẬN
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là thế giới mang nhiều nếm trải bi kịch. Có nhiều lí do để Nguyễn Minh Châu quan tâm đến lát cắt đặc biệt này của đời người, trong đó, hẳn phải nhắc đến việc ở ngưỡng cuối cùng này, con người cần thiết phải sống thành thật, không được phép chạy trốn việc đối diện với chính mình. Sự trung thực là phẩm giá mà ông đòi hỏi ở nhân vật của ông trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của đời mình. Song đó cũng chính là yêu cầu mà ông tự đặt ra cho bản thân, thậm chí ở mức độ cao nhất. Đó cũng là điều quan trọng làm nên sức sống của trang văn Nguyễn Minh Châu qua thời gian.
Tài liệu tham khảo
1. A.Ja.Gu-rê-vích (1996), Các phạm trù văn hoá Trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Giăng Si-va-li-ơ (Jean Chevalier) – A-lanh Ghia-bran (Alain Gheerbrant) (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.
3. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn, 2007), Nguyễn Minh Châu – Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Đoàn Cầm Thi (2016), Đọc "tôi" bên bến lạ, NXB Hội Nhà văn – Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội.
(Trần Ngọc Hiếu, tạp chí Sông Hương, số 374, tháng 4/2020)
![]()
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu
Trần Ngọc Hiếu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một gương mặt quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông không chỉ là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì chống Mỹ cứu nước với các tác phẩm như Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972) mà còn là người mở đường dũng cảm cho văn học thời kì Đổi mới. Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu từ cuối thập niên 1970 đã có nhiều đột phá về tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện. Những phương diện này đã là đối tượng của một số nghiên cứu có giá trị.
Tuy nhiên, sáng tác của các nhà văn lớn luôn có khả năng khơi gợi những khám phá và diễn giải mới. Vẫn còn có nhiều khía cạnh vi tế trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đòi hỏi sự chú ý và cách tiếp cận mới mẻ hơn.
Bài viết này đi vào nghiên cứu sự thể hiện tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Đây là đề tài chưa được quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu đã có, mặc dù thế giới của nhân vật người già và ám ảnh về tuổi già đã được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ, thể hiện rất đậm nét trên các trang văn của mình. Bài viết sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu ý niệm về tuổi già trong văn hoá, khảo sát thế giới nhân vật và những kí hiệu về tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, từ đó, làm nổi bật cảm quan của nhà văn về con người và thời thế trong sự liên hệ với một số nhà văn thời kì Đổi mới cũng có chung mối ưu tư về tuổi già.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm tuổi già
[...] Thực ra không dễ để xác định ý niệm "tuổi già". Thứ nhất, việc một người đến ngưỡng tuổi nào thì được coi là già còn phụ thuộc vào những ngữ cảnh văn hoá nhất định. Ở thời Trung cổ, tuổi thọ con người chưa cao, bởi vậy thi sĩ Đan-tê (Dante) đã khẳng định "tuổi thanh niên kéo dài cho tới hai mươi lăm, tuổi chín chắn hoàn tất vào năm bốn mươi lăm, sau đó tuổi già bắt đầu". Rõ ràng cái mốc này không còn thích đáng ở thời hiện tại khi tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên. Thứ hai, tuổi già không chỉ được xác định theo những dấu hiệu bên ngoài như da nhăn, mắt kém, tóc bạc, răng long,... mà còn gắn liền với những trạng thái con người tự cảm thấy: ốm yếu, kém minh mẫn, nhiều nếm trải, nhiều kinh nghiệm, có quyền uy ("sống lâu lên lão làng"), bị thất thế, lạc loài,... [...] Thứ ba, tuổi già hoàn toàn cũng có thể được xem như một kiến tạo văn hoá: việc ai đó được coi là người già, việc gán cho tuổi già những đặc điểm, phẩm chất, quyền năng hay giới hạn nào đó thực chất là kết quả của những hoạt động diễn ngôn trong văn hoá. Bên dưới những lớp nghĩa được tạo nên ấy là những nỗ lực củng cố hay làm lung lay những quyền lực, tôn ti, thứ bậc trong đời sống xã hội ở một ngữ cảnh đặc thù. [...]
Như vậy, tuổi già là một ý niệm mang tính giao cắt: vừa là một hiện tượng thuộc về quá trình sinh lí của con người, vừa là một kiến tạo văn hoá; vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, lại vừa gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù. [...] Thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu hầu hết đều sống trong tình trạng già đi. Người phụ nữ hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa mới chỉ trạc ngoài bốn mươi nhưng "dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già"; trong Cỏ lau, Lực khi nhìn tấm ảnh cũ chụp mình thời trẻ và nhìn bé Thơm đang đi bên cạnh mình không tránh khỏi cảm giác thấy mình thật "già nua"; ở Phiên chợ Giát, lão Khúng nhìn thấy mình như một "lão già ghê tởm" với "thân hình cao vổng lại lủng củng đầy những xương cùng xấu, mái tóc cắt ngắn như rễ tre, mớ đổ phải, mớ đổ về phía trước trán, sợi đen sợi trắng loang lổ, mặt mũi gồ ghề...". [...]
2. Khủng hoảng hiện sinh của các nhân vật tuổi già
Tính bi kịch của nhân vật tuổi già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nằm ở chỗ chính vào khoảnh khắc chạm vào ngưỡng cuối cùng của đời người, họ đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện sinh không thể né tránh. Trong Dấu vết nghề nghiệp và Bến quê, nhân vật của Nguyễn Minh Châu đều bị đặt vào những tình huống hạn chế: khi cái đón đợi mình phía trước chỉ còn một khả năng duy nhất – cái chết, điều duy nhất con người có thể làm là nhìn lại quãng đời đã sống. Ở thời khắc ấy, những gì kí ức còn neo giữ lại là thứ làm nhân vật day dứt, thậm chí ân hận hơn cả. Vị cựu thủ môn lão luyện không thể nào quên được cú bắt bóng vụng dại và ngớ ngẩn nhất trong sự nghiệp của mình cũng như cách xử lí tình huống gian lận nhưng độ lượng của vị trọng tài từng là đối thủ của mình trên sân cỏ cũng như trong tình yêu. [...] Điều mà vị cựu thủ môn muốn nói nhất trước khi chết là sự nghiệt ngã và tình người trong bóng đá, có những điều phức tạp hơn, sâu xa hơn bàn thắng – bàn thua mà người ta nhìn thấy trong trận đấu. Trong Bến quê, điều làm Nhĩ đau đớn hơn cả sự hành hạ của thân xác vào ngày cuối cùng trong đời mình là khi nhận ra mình sắp chết nhưng mình thực sự chưa từng sống – nếu hiểu sống phải là quá trình con người ta nhận ra ý nghĩa của bản thân đời sống.
2.1. Cảm giác bơ vơ, xa lạ với chính mình
Cỏ lau và Phiên chợ Giát – hai tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu sau 1975, cũng là hai tác phẩm đào sâu vào những khủng hoảng hiện sinh xuất hiện đúng vào thời điểm con người chạm ngưỡng của sự già. Trong Cỏ lau, Lực trở về quê hương để làm công việc quy tập thi hài cốt của những người đồng đội nhưng ở đó suốt bao nhiêu năm, những người thân của anh đều nghĩ anh đã chết. Mô típ trở về ở truyện ngắn này cho phép ta liên hệ ở mức độ nào đó với cuộc hồi hương của Uy-li-xơ (Ulysses) trong sử thi Ô-đi-xê (Odyssey). Sau cuộc chiến thành Tơ-roa (Troy), trải mười năm lưu lạc, Uy-li-xơ vượt qua vô vàn thử thách bằng sức mạnh và trí tuệ của mình, để tìm về quê nhà, đoàn tụ với vợ con, khẳng định tư cách anh hùng của mình. Ngược lại, cuộc hồi hương của Lực – kẻ mất khoảng thời gian gần gấp đôi Uy-li-xơ để trở về sau chiến tranh – là thời điểm đánh dấu những khủng hoảng hiện sinh của nhân vật, không phải chỉ ở chỗ người nhà đều tin anh đã chết, vợ anh đã đi lấy người khác mà ở những biểu hiện sâu xa hơn trong tâm thức của nhân vật. Trong một tiểu luận về Cỏ lau, Đoàn Cầm Thi đã chỉ ra một khía cạnh của sự khủng hoảng này ở nhân vật: sự xa lạ với chính mình khi Lực đối diện với tấm ảnh thời trẻ: "Không thể nào không nhận thấy ở Lực sự bất ổn, thậm chí sợ hãi, trước hình ảnh của chính mình: Lực đang biến thành người xa lạ". Tôi muốn nói thêm: chính ý thức về sự già đi của bản thân sau bao năm chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến trạng thái bất ổn đó ở Lực. Song khủng hoảng hiện sinh ấy còn thể hiện ở một khía cạnh khác: Lực đối diện với tình trạng mất ý nghĩa của những gì trong thực tại anh đang thấy, đang chứng kiến khi trở về. Núi Đợi đã được người dân tự động đổi tên thành núi Tử Sĩ – cái tên nhắc đến sự mất mát khốc liệt của cuộc chiến vừa qua; vùng đất xưa kia là bãi chiến trường nơi con người hi sinh xương máu để chiếm lấy từng tấc đất nay chỉ có lau mọc lên um tùm, rậm rạp, gây khó cho việc tìm hài cốt đồng đội; nơi yên nghỉ của người chết giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò chơi trận giả. Và cuối cùng, cuộc chiến mà Lực "không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết tuổi trẻ vào đấy mà cống hiến cho nó" nhưng rốt cục, "nó như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ". Chấn thương ấy là trạng thái không thể nhìn thấy được từ bên ngoài, nó khiến Lực bơ vơ như khách lạ chính trên mảnh đất cố hương của mình, sự sống sót của mình hoá ra lại chỉ đem đến cho nhân vật mặc cảm tội lỗi khi có thể xáo trộn tất cả những cuộc đời của người khác. Sự trở về không phải là phần thưởng dành cho nhân vật như ta thấy trong sử thi Hô-me-rơ (Hómèros); trái lại ở đây, Lực ý thức việc mình chỉ như "một khách lạ" giống một hình phạt của định mệnh. [...]
2.2. Trạng thái trống rỗng, thất bại, không mục đích
Đến cuối đời, cái mà người ta nhận ra được là sự mất ý nghĩa của tất cả những gì từng khiến con người phải nhọc lòng. Đó có lẽ là trải nghiệm của lão Khúng trên đường dắt con bò khoang ra chợ. Trong dòng ý thức của lão Khúng, cả cuộc đời của nhân vật được tái hiện và tự đánh giá một cách nghiêm khắc nhất, theo đó, cứ như thể toàn bộ lao lực của ông rốt cục giống như hành động đẩy đá của Xi-xi-phu (Sisyphus): người hùng khai hoang một vùng đất cuối cùng vẫn chỉ "sống trong sự vây bọc tưởng không bao giờ thoát nổi của hoang vu". Cuộc đời vất sức cho đất hoang rốt cục cũng đi đến kiệt cùng như con bò khoang già nua, vòng đời của nó thực ra đồng dạng với vòng đời của chính lão Khúng. Bởi thế, hành động nhân vật thả con bò về rừng hoang, thay vì đem bán nó ở chợ để cuối cùng bị làm thịt thành thức ăn cho người, nhất là dân thành thị, có thể xem là cuộc nổi loạn hiện sinh. Việc này khiến toàn bộ hành trình đi từ nhà lúc khuya khoắt đến chợ của lão Khúng trở thành một hành trình vô mục đích và không thể hiểu nổi theo lẽ thông thường. Theo Hoàng Ngọc Hiến, hành động này thể hiện "ảo tưởng tự do hoang dã" của lão Khúng, cho dù việc con bò cuối cùng lại quay trở về gặp chủ nó là "sự thất bại não nùng" của ảo tưởng ấy. [...] Nhưng khoảnh khắc đột nhiên nhân vật cảm thấy cần phải giải thoát cho con bò chính là lúc ông lão lấy lại sức mạnh nội tại, dù chỉ trước đó thôi, ông còn có cảm giác mình "sắp chết". Sức mạnh ấy giúp ông đủ can đảm để chấm dứt việc tái diễn chu trình vô nhân đạo nhưng đã trở nên bình thường, thậm chí bị coi như tất yếu, của đời sống, để còn có thể là người – điều mà ông phải giữ lại dẫu có thể tất cả những thứ khác, dù vô cùng quý giá trong đời ông, như đất đai, con cái, đều mất hết: "Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng vô nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa chứ còn đâu nửa người nửa thú vật? Một lát sau lão không lên án, tự sỉ vả mình nữa mà chỉ thấy trong người mình một cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát...". Ý thức giữ lại tư cách người ở lão Khúng có thể gợi nhớ đến lão già Xan-ti-a-gô (Santiago) trong Ông già và biển cả của Ơ-nít Hê-minh-uê (Ernest Hemingway) – người chấp nhận đương đầu không cân sức với đàn cá dữ giữa đại dương để không chỉ bảo vệ thành quả lao động của mình mà để khẳng định sự kiên định của việc làm người: "Con người có thể bị huỷ diệt, nhưng không thể bị đánh bại". [...] Lão Khúng, vì thế, có thể xem là hình tượng người già cứng cỏi còn trụ lại trong thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu, dù thực chất, khác hẳn với ông lão Xan-ti-a-gô của Hê-minh-uê, lão không được nhà văn tạo hình như một mẫu nhân vật chiến bại anh hùng trong cuộc hiện sinh.
2.3. Trải nghiệm sám hối và ý thức chuộc tội
Khủng hoảng hiện sinh ở nhân vật tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu còn được khắc hoạ ở những trải nghiệm ăn năn, sám hối và ý thức chuộc tội. Ở trên, tôi đã nói đến mặc cảm tội lỗi ở Lực bởi chính sự sống sót của anh sau chiến tranh có thể phá vỡ cuộc sống mà anh nghĩ đã yên ổn. Nhưng sâu xa hơn, chính cuộc chiến tranh mà Lực trải qua cũng là nguồn gốc của mặc cảm trong anh: nó không hề là kì tích, chiến công dù anh trở về đây trong tư cách của người thắng trận. [...] Kết thúc Cỏ lau là một tưởng tượng của Lực về tương lai của mình, nơi anh chấp nhận sẽ sống về già trong cô độc và trong trách nhiệm chịu tội: đó là thế giới nơi chỉ có anh và người cha già sống những ngày cuối đời cùng nấm mộ của Phi. Phiên chợ Giát cũng mở đầu bằng cảm giác tội đồ của lão Khúng khi giật mình khỏi cơn ác mộng mà ở đó, lão nhìn thấy mình như một hung thần đang giương cây búa to nặng để đập chết bò khoang. Nỗi sợ hãi bởi cảm giác như thấy phần tăm tối nhất trong con người mình, khả năng trở nên ác độc, tàn nhẫn của chính bản thân khiến lão bàng hoàng: "Giá như người khác, là người biết ngoan ngoãn tuân phục một thứ tôn giáo nào thì chắc chắn lúc này, giữa đêm hôm khuya khoắt, lão đã lập tức quỳ sụp xuống mà hối hả đọc kinh, đập đầu xuống đất mà van nài kẻ tôn thờ, trút lòng ăn nănsám hối trước đấng thiêng liêng ở trên đầu trên cổ. Đằng này là một kẻ vô đạo, lão Khúng chỉ biết lật mình ngồi dậy trên tấm phản gỗ mà run sợ một mình, vật vã đau khổ một mình, tự mình lại lấy làm sợ hãi trước chính mình. Lão mở trùng trùng hai con mắt mà nhìn tên hung thần đổ tể vừa nhập vào lão, ngay khi lão bình yên ngủ trên tấm phản quen thuộc giữa nhà mình.". Nỗi sợ hãi trước chính mình này có thể xem là cơ chế tâm lí bề sâu chi phối quyết định tưởng như đột nhiên và có vẻ "điên rồ" của lão Khúng khi giải thoát cho bò khoang ở cuối truyện. Nội tâm của nhân vật không chỉ dày đặc nỗi day dứt khi nghĩ về mối quan hệ giữa mình với con bò đã gắn bó cả đời mà còn trĩu nặng những niềm áy náy khi nghĩ đến những đứa con, đặc biệt sự ân hận khi nghĩ về Dũng – đứa conhi sinh nơi xứ người. Những lí do cao cả không đủ khoả lấp được nỗi đau trần trụi của một người cha mất con và cũng có thể mất luôn ảo ảnh về con khi lão không có dù chỉ một tấm hình của con chụp khi còn sống.
[...] Những chi tiết về thế giới người già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thực ra có thể nói lên một số thay đổi quan trọng trong khung tư duy của nhà văn khi ta thử làm phép so sánh với những hình tượng cùng loại trong sáng tác của một số nhà văn ở thập niên 1980. Trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ [...], Trương Ba có thể lạc lõng trong nhà nhưng không lạc loài, sự lựa chọn của ông – chấp nhận tan vào hư vô hơn là duy trì sự tồn tại trong hình hài vay mượn của kẻ khác – ít nhiều còn có thể lay tỉnh con cái và đặc biệt khiến ông kết nối lại được với thế hệ cháu mình. [...] Đến Nguyễn Minh Châu, người già mất con trong và sau chiến tranh, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó là tự sự của những người già côi cút, bất lực với chính những đứa con của mình. Tướng Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp thấy mình "lạc loài" trong thời bình, không thể thích nghi với tất cả những phức tạp, nhốn nháo của thời bình. [...] Sự suy giảm trọng lực của tiếng nói và vị thế của người già từ Lưu Quang Vũ qua Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp phản ánh sự biến động về cảm quan đạo đức ở mỗi nhà văn tương ứng với nhận thức của họ về những rạn nứt, xáo trộn về giá trị của xã hội hậu chiến. Điều này, đến lượt mình, dẫn đến sự khác nhau cơ bản về tính chất bức tranh thế giới trong sáng tác của ba nhà văn. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ ở trạng thái có thể bắt bệnh và chữa lành lại, đó là nơi sự hoà giải thế hệ có thể diễn ra. Thế giới của Nguyễn Minh Châu là thế giới nơi con người phạm lỗi, mê lầm, nó đòi hỏi sự ăn năn, sám hối và điều này được tự giác thực hiện trước hết bởi những người đã đi gần hết chặngđường của mình. Thế giới của Nguyễn Huy Thiệp đối lập với thế giới của Lưu Quang Vũ ở chỗ nó mất đi ảo tưởng lãng mạn về khả năng chữa lành những căn bệnh của xã hội. [...]
KẾT LUẬN
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là thế giới mang nhiều nếm trải bi kịch. Có nhiều lí do để Nguyễn Minh Châu quan tâm đến lát cắt đặc biệt này của đời người, trong đó, hẳn phải nhắc đến việc ở ngưỡng cuối cùng này, con người cần thiết phải sống thành thật, không được phép chạy trốn việc đối diện với chính mình. Sự trung thực là phẩm giá mà ông đòi hỏi ở nhân vật của ông trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của đời mình. Song đó cũng chính là yêu cầu mà ông tự đặt ra cho bản thân, thậm chí ở mức độ cao nhất. Đó cũng là điều quan trọng làm nên sức sống của trang văn Nguyễn Minh Châu qua thời gian.
Tài liệu tham khảo
1. A.Ja.Gu-rê-vích (1996), Các phạm trù văn hoá Trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Giăng Si-va-li-ơ (Jean Chevalier) – A-lanh Ghia-bran (Alain Gheerbrant) (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.
3. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn, 2007), Nguyễn Minh Châu – Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Đoàn Cầm Thi (2016), Đọc "tôi" bên bến lạ, NXB Hội Nhà văn – Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội.
(Trần Ngọc Hiếu, tạp chí Sông Hương, số 374, tháng 4/2020)

Thế giới tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu
Trần Ngọc Hiếu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một gương mặt quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông không chỉ là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì chống Mỹ cứu nước với các tác phẩm như Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972) mà còn là người mở đường dũng cảm cho văn học thời kì Đổi mới. Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu từ cuối thập niên 1970 đã có nhiều đột phá về tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện. Những phương diện này đã là đối tượng của một số nghiên cứu có giá trị.
Tuy nhiên, sáng tác của các nhà văn lớn luôn có khả năng khơi gợi những khám phá và diễn giải mới. Vẫn còn có nhiều khía cạnh vi tế trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đòi hỏi sự chú ý và cách tiếp cận mới mẻ hơn.
Bài viết này đi vào nghiên cứu sự thể hiện tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Đây là đề tài chưa được quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu đã có, mặc dù thế giới của nhân vật người già và ám ảnh về tuổi già đã được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ, thể hiện rất đậm nét trên các trang văn của mình. Bài viết sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu ý niệm về tuổi già trong văn hoá, khảo sát thế giới nhân vật và những kí hiệu về tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, từ đó, làm nổi bật cảm quan của nhà văn về con người và thời thế trong sự liên hệ với một số nhà văn thời kì Đổi mới cũng có chung mối ưu tư về tuổi già.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm tuổi già
[...] Thực ra không dễ để xác định ý niệm "tuổi già". Thứ nhất, việc một người đến ngưỡng tuổi nào thì được coi là già còn phụ thuộc vào những ngữ cảnh văn hoá nhất định. Ở thời Trung cổ, tuổi thọ con người chưa cao, bởi vậy thi sĩ Đan-tê (Dante) đã khẳng định "tuổi thanh niên kéo dài cho tới hai mươi lăm, tuổi chín chắn hoàn tất vào năm bốn mươi lăm, sau đó tuổi già bắt đầu". Rõ ràng cái mốc này không còn thích đáng ở thời hiện tại khi tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên. Thứ hai, tuổi già không chỉ được xác định theo những dấu hiệu bên ngoài như da nhăn, mắt kém, tóc bạc, răng long,... mà còn gắn liền với những trạng thái con người tự cảm thấy: ốm yếu, kém minh mẫn, nhiều nếm trải, nhiều kinh nghiệm, có quyền uy ("sống lâu lên lão làng"), bị thất thế, lạc loài,... [...] Thứ ba, tuổi già hoàn toàn cũng có thể được xem như một kiến tạo văn hoá: việc ai đó được coi là người già, việc gán cho tuổi già những đặc điểm, phẩm chất, quyền năng hay giới hạn nào đó thực chất là kết quả của những hoạt động diễn ngôn trong văn hoá. Bên dưới những lớp nghĩa được tạo nên ấy là những nỗ lực củng cố hay làm lung lay những quyền lực, tôn ti, thứ bậc trong đời sống xã hội ở một ngữ cảnh đặc thù. [...]
Như vậy, tuổi già là một ý niệm mang tính giao cắt: vừa là một hiện tượng thuộc về quá trình sinh lí của con người, vừa là một kiến tạo văn hoá; vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, lại vừa gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù. [...] Thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu hầu hết đều sống trong tình trạng già đi. Người phụ nữ hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa mới chỉ trạc ngoài bốn mươi nhưng "dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già"; trong Cỏ lau, Lực khi nhìn tấm ảnh cũ chụp mình thời trẻ và nhìn bé Thơm đang đi bên cạnh mình không tránh khỏi cảm giác thấy mình thật "già nua"; ở Phiên chợ Giát, lão Khúng nhìn thấy mình như một "lão già ghê tởm" với "thân hình cao vổng lại lủng củng đầy những xương cùng xấu, mái tóc cắt ngắn như rễ tre, mớ đổ phải, mớ đổ về phía trước trán, sợi đen sợi trắng loang lổ, mặt mũi gồ ghề...". [...]
2. Khủng hoảng hiện sinh của các nhân vật tuổi già
Tính bi kịch của nhân vật tuổi già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nằm ở chỗ chính vào khoảnh khắc chạm vào ngưỡng cuối cùng của đời người, họ đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện sinh không thể né tránh. Trong Dấu vết nghề nghiệp và Bến quê, nhân vật của Nguyễn Minh Châu đều bị đặt vào những tình huống hạn chế: khi cái đón đợi mình phía trước chỉ còn một khả năng duy nhất – cái chết, điều duy nhất con người có thể làm là nhìn lại quãng đời đã sống. Ở thời khắc ấy, những gì kí ức còn neo giữ lại là thứ làm nhân vật day dứt, thậm chí ân hận hơn cả. Vị cựu thủ môn lão luyện không thể nào quên được cú bắt bóng vụng dại và ngớ ngẩn nhất trong sự nghiệp của mình cũng như cách xử lí tình huống gian lận nhưng độ lượng của vị trọng tài từng là đối thủ của mình trên sân cỏ cũng như trong tình yêu. [...] Điều mà vị cựu thủ môn muốn nói nhất trước khi chết là sự nghiệt ngã và tình người trong bóng đá, có những điều phức tạp hơn, sâu xa hơn bàn thắng – bàn thua mà người ta nhìn thấy trong trận đấu. Trong Bến quê, điều làm Nhĩ đau đớn hơn cả sự hành hạ của thân xác vào ngày cuối cùng trong đời mình là khi nhận ra mình sắp chết nhưng mình thực sự chưa từng sống – nếu hiểu sống phải là quá trình con người ta nhận ra ý nghĩa của bản thân đời sống.
2.1. Cảm giác bơ vơ, xa lạ với chính mình
Cỏ lau và Phiên chợ Giát – hai tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu sau 1975, cũng là hai tác phẩm đào sâu vào những khủng hoảng hiện sinh xuất hiện đúng vào thời điểm con người chạm ngưỡng của sự già. Trong Cỏ lau, Lực trở về quê hương để làm công việc quy tập thi hài cốt của những người đồng đội nhưng ở đó suốt bao nhiêu năm, những người thân của anh đều nghĩ anh đã chết. Mô típ trở về ở truyện ngắn này cho phép ta liên hệ ở mức độ nào đó với cuộc hồi hương của Uy-li-xơ (Ulysses) trong sử thi Ô-đi-xê (Odyssey). Sau cuộc chiến thành Tơ-roa (Troy), trải mười năm lưu lạc, Uy-li-xơ vượt qua vô vàn thử thách bằng sức mạnh và trí tuệ của mình, để tìm về quê nhà, đoàn tụ với vợ con, khẳng định tư cách anh hùng của mình. Ngược lại, cuộc hồi hương của Lực – kẻ mất khoảng thời gian gần gấp đôi Uy-li-xơ để trở về sau chiến tranh – là thời điểm đánh dấu những khủng hoảng hiện sinh của nhân vật, không phải chỉ ở chỗ người nhà đều tin anh đã chết, vợ anh đã đi lấy người khác mà ở những biểu hiện sâu xa hơn trong tâm thức của nhân vật. Trong một tiểu luận về Cỏ lau, Đoàn Cầm Thi đã chỉ ra một khía cạnh của sự khủng hoảng này ở nhân vật: sự xa lạ với chính mình khi Lực đối diện với tấm ảnh thời trẻ: "Không thể nào không nhận thấy ở Lực sự bất ổn, thậm chí sợ hãi, trước hình ảnh của chính mình: Lực đang biến thành người xa lạ". Tôi muốn nói thêm: chính ý thức về sự già đi của bản thân sau bao năm chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến trạng thái bất ổn đó ở Lực. Song khủng hoảng hiện sinh ấy còn thể hiện ở một khía cạnh khác: Lực đối diện với tình trạng mất ý nghĩa của những gì trong thực tại anh đang thấy, đang chứng kiến khi trở về. Núi Đợi đã được người dân tự động đổi tên thành núi Tử Sĩ – cái tên nhắc đến sự mất mát khốc liệt của cuộc chiến vừa qua; vùng đất xưa kia là bãi chiến trường nơi con người hi sinh xương máu để chiếm lấy từng tấc đất nay chỉ có lau mọc lên um tùm, rậm rạp, gây khó cho việc tìm hài cốt đồng đội; nơi yên nghỉ của người chết giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò chơi trận giả. Và cuối cùng, cuộc chiến mà Lực "không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết tuổi trẻ vào đấy mà cống hiến cho nó" nhưng rốt cục, "nó như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ". Chấn thương ấy là trạng thái không thể nhìn thấy được từ bên ngoài, nó khiến Lực bơ vơ như khách lạ chính trên mảnh đất cố hương của mình, sự sống sót của mình hoá ra lại chỉ đem đến cho nhân vật mặc cảm tội lỗi khi có thể xáo trộn tất cả những cuộc đời của người khác. Sự trở về không phải là phần thưởng dành cho nhân vật như ta thấy trong sử thi Hô-me-rơ (Hómèros); trái lại ở đây, Lực ý thức việc mình chỉ như "một khách lạ" giống một hình phạt của định mệnh. [...]
2.2. Trạng thái trống rỗng, thất bại, không mục đích
Đến cuối đời, cái mà người ta nhận ra được là sự mất ý nghĩa của tất cả những gì từng khiến con người phải nhọc lòng. Đó có lẽ là trải nghiệm của lão Khúng trên đường dắt con bò khoang ra chợ. Trong dòng ý thức của lão Khúng, cả cuộc đời của nhân vật được tái hiện và tự đánh giá một cách nghiêm khắc nhất, theo đó, cứ như thể toàn bộ lao lực của ông rốt cục giống như hành động đẩy đá của Xi-xi-phu (Sisyphus): người hùng khai hoang một vùng đất cuối cùng vẫn chỉ "sống trong sự vây bọc tưởng không bao giờ thoát nổi của hoang vu". Cuộc đời vất sức cho đất hoang rốt cục cũng đi đến kiệt cùng như con bò khoang già nua, vòng đời của nó thực ra đồng dạng với vòng đời của chính lão Khúng. Bởi thế, hành động nhân vật thả con bò về rừng hoang, thay vì đem bán nó ở chợ để cuối cùng bị làm thịt thành thức ăn cho người, nhất là dân thành thị, có thể xem là cuộc nổi loạn hiện sinh. Việc này khiến toàn bộ hành trình đi từ nhà lúc khuya khoắt đến chợ của lão Khúng trở thành một hành trình vô mục đích và không thể hiểu nổi theo lẽ thông thường. Theo Hoàng Ngọc Hiến, hành động này thể hiện "ảo tưởng tự do hoang dã" của lão Khúng, cho dù việc con bò cuối cùng lại quay trở về gặp chủ nó là "sự thất bại não nùng" của ảo tưởng ấy. [...] Nhưng khoảnh khắc đột nhiên nhân vật cảm thấy cần phải giải thoát cho con bò chính là lúc ông lão lấy lại sức mạnh nội tại, dù chỉ trước đó thôi, ông còn có cảm giác mình "sắp chết". Sức mạnh ấy giúp ông đủ can đảm để chấm dứt việc tái diễn chu trình vô nhân đạo nhưng đã trở nên bình thường, thậm chí bị coi như tất yếu, của đời sống, để còn có thể là người – điều mà ông phải giữ lại dẫu có thể tất cả những thứ khác, dù vô cùng quý giá trong đời ông, như đất đai, con cái, đều mất hết: "Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng vô nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa chứ còn đâu nửa người nửa thú vật? Một lát sau lão không lên án, tự sỉ vả mình nữa mà chỉ thấy trong người mình một cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát...". Ý thức giữ lại tư cách người ở lão Khúng có thể gợi nhớ đến lão già Xan-ti-a-gô (Santiago) trong Ông già và biển cả của Ơ-nít Hê-minh-uê (Ernest Hemingway) – người chấp nhận đương đầu không cân sức với đàn cá dữ giữa đại dương để không chỉ bảo vệ thành quả lao động của mình mà để khẳng định sự kiên định của việc làm người: "Con người có thể bị huỷ diệt, nhưng không thể bị đánh bại". [...] Lão Khúng, vì thế, có thể xem là hình tượng người già cứng cỏi còn trụ lại trong thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu, dù thực chất, khác hẳn với ông lão Xan-ti-a-gô của Hê-minh-uê, lão không được nhà văn tạo hình như một mẫu nhân vật chiến bại anh hùng trong cuộc hiện sinh.
2.3. Trải nghiệm sám hối và ý thức chuộc tội
Khủng hoảng hiện sinh ở nhân vật tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu còn được khắc hoạ ở những trải nghiệm ăn năn, sám hối và ý thức chuộc tội. Ở trên, tôi đã nói đến mặc cảm tội lỗi ở Lực bởi chính sự sống sót của anh sau chiến tranh có thể phá vỡ cuộc sống mà anh nghĩ đã yên ổn. Nhưng sâu xa hơn, chính cuộc chiến tranh mà Lực trải qua cũng là nguồn gốc của mặc cảm trong anh: nó không hề là kì tích, chiến công dù anh trở về đây trong tư cách của người thắng trận. [...] Kết thúc Cỏ lau là một tưởng tượng của Lực về tương lai của mình, nơi anh chấp nhận sẽ sống về già trong cô độc và trong trách nhiệm chịu tội: đó là thế giới nơi chỉ có anh và người cha già sống những ngày cuối đời cùng nấm mộ của Phi. Phiên chợ Giát cũng mở đầu bằng cảm giác tội đồ của lão Khúng khi giật mình khỏi cơn ác mộng mà ở đó, lão nhìn thấy mình như một hung thần đang giương cây búa to nặng để đập chết bò khoang. Nỗi sợ hãi bởi cảm giác như thấy phần tăm tối nhất trong con người mình, khả năng trở nên ác độc, tàn nhẫn của chính bản thân khiến lão bàng hoàng: "Giá như người khác, là người biết ngoan ngoãn tuân phục một thứ tôn giáo nào thì chắc chắn lúc này, giữa đêm hôm khuya khoắt, lão đã lập tức quỳ sụp xuống mà hối hả đọc kinh, đập đầu xuống đất mà van nài kẻ tôn thờ, trút lòng ăn nănsám hối trước đấng thiêng liêng ở trên đầu trên cổ. Đằng này là một kẻ vô đạo, lão Khúng chỉ biết lật mình ngồi dậy trên tấm phản gỗ mà run sợ một mình, vật vã đau khổ một mình, tự mình lại lấy làm sợ hãi trước chính mình. Lão mở trùng trùng hai con mắt mà nhìn tên hung thần đổ tể vừa nhập vào lão, ngay khi lão bình yên ngủ trên tấm phản quen thuộc giữa nhà mình.". Nỗi sợ hãi trước chính mình này có thể xem là cơ chế tâm lí bề sâu chi phối quyết định tưởng như đột nhiên và có vẻ "điên rồ" của lão Khúng khi giải thoát cho bò khoang ở cuối truyện. Nội tâm của nhân vật không chỉ dày đặc nỗi day dứt khi nghĩ về mối quan hệ giữa mình với con bò đã gắn bó cả đời mà còn trĩu nặng những niềm áy náy khi nghĩ đến những đứa con, đặc biệt sự ân hận khi nghĩ về Dũng – đứa conhi sinh nơi xứ người. Những lí do cao cả không đủ khoả lấp được nỗi đau trần trụi của một người cha mất con và cũng có thể mất luôn ảo ảnh về con khi lão không có dù chỉ một tấm hình của con chụp khi còn sống.
[...] Những chi tiết về thế giới người già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thực ra có thể nói lên một số thay đổi quan trọng trong khung tư duy của nhà văn khi ta thử làm phép so sánh với những hình tượng cùng loại trong sáng tác của một số nhà văn ở thập niên 1980. Trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ [...], Trương Ba có thể lạc lõng trong nhà nhưng không lạc loài, sự lựa chọn của ông – chấp nhận tan vào hư vô hơn là duy trì sự tồn tại trong hình hài vay mượn của kẻ khác – ít nhiều còn có thể lay tỉnh con cái và đặc biệt khiến ông kết nối lại được với thế hệ cháu mình. [...] Đến Nguyễn Minh Châu, người già mất con trong và sau chiến tranh, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó là tự sự của những người già côi cút, bất lực với chính những đứa con của mình. Tướng Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp thấy mình "lạc loài" trong thời bình, không thể thích nghi với tất cả những phức tạp, nhốn nháo của thời bình. [...] Sự suy giảm trọng lực của tiếng nói và vị thế của người già từ Lưu Quang Vũ qua Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp phản ánh sự biến động về cảm quan đạo đức ở mỗi nhà văn tương ứng với nhận thức của họ về những rạn nứt, xáo trộn về giá trị của xã hội hậu chiến. Điều này, đến lượt mình, dẫn đến sự khác nhau cơ bản về tính chất bức tranh thế giới trong sáng tác của ba nhà văn. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ ở trạng thái có thể bắt bệnh và chữa lành lại, đó là nơi sự hoà giải thế hệ có thể diễn ra. Thế giới của Nguyễn Minh Châu là thế giới nơi con người phạm lỗi, mê lầm, nó đòi hỏi sự ăn năn, sám hối và điều này được tự giác thực hiện trước hết bởi những người đã đi gần hết chặngđường của mình. Thế giới của Nguyễn Huy Thiệp đối lập với thế giới của Lưu Quang Vũ ở chỗ nó mất đi ảo tưởng lãng mạn về khả năng chữa lành những căn bệnh của xã hội. [...]
KẾT LUẬN
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là thế giới mang nhiều nếm trải bi kịch. Có nhiều lí do để Nguyễn Minh Châu quan tâm đến lát cắt đặc biệt này của đời người, trong đó, hẳn phải nhắc đến việc ở ngưỡng cuối cùng này, con người cần thiết phải sống thành thật, không được phép chạy trốn việc đối diện với chính mình. Sự trung thực là phẩm giá mà ông đòi hỏi ở nhân vật của ông trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của đời mình. Song đó cũng chính là yêu cầu mà ông tự đặt ra cho bản thân, thậm chí ở mức độ cao nhất. Đó cũng là điều quan trọng làm nên sức sống của trang văn Nguyễn Minh Châu qua thời gian.
Tài liệu tham khảo
1. A.Ja.Gu-rê-vích (1996), Các phạm trù văn hoá Trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Giăng Si-va-li-ơ (Jean Chevalier) – A-lanh Ghia-bran (Alain Gheerbrant) (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.
3. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn, 2007), Nguyễn Minh Châu – Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Đoàn Cầm Thi (2016), Đọc "tôi" bên bến lạ, NXB Hội Nhà văn – Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội.
(Trần Ngọc Hiếu, tạp chí Sông Hương, số 374, tháng 4/2020)

Thế giới tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu
Trần Ngọc Hiếu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một gương mặt quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông không chỉ là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì chống Mỹ cứu nước với các tác phẩm như Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972) mà còn là người mở đường dũng cảm cho văn học thời kì Đổi mới. Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu từ cuối thập niên 1970 đã có nhiều đột phá về tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện. Những phương diện này đã là đối tượng của một số nghiên cứu có giá trị.
Tuy nhiên, sáng tác của các nhà văn lớn luôn có khả năng khơi gợi những khám phá và diễn giải mới. Vẫn còn có nhiều khía cạnh vi tế trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đòi hỏi sự chú ý và cách tiếp cận mới mẻ hơn.
Bài viết này đi vào nghiên cứu sự thể hiện tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Đây là đề tài chưa được quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu đã có, mặc dù thế giới của nhân vật người già và ám ảnh về tuổi già đã được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ, thể hiện rất đậm nét trên các trang văn của mình. Bài viết sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu ý niệm về tuổi già trong văn hoá, khảo sát thế giới nhân vật và những kí hiệu về tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, từ đó, làm nổi bật cảm quan của nhà văn về con người và thời thế trong sự liên hệ với một số nhà văn thời kì Đổi mới cũng có chung mối ưu tư về tuổi già.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm tuổi già
[...] Thực ra không dễ để xác định ý niệm "tuổi già". Thứ nhất, việc một người đến ngưỡng tuổi nào thì được coi là già còn phụ thuộc vào những ngữ cảnh văn hoá nhất định. Ở thời Trung cổ, tuổi thọ con người chưa cao, bởi vậy thi sĩ Đan-tê (Dante) đã khẳng định "tuổi thanh niên kéo dài cho tới hai mươi lăm, tuổi chín chắn hoàn tất vào năm bốn mươi lăm, sau đó tuổi già bắt đầu". Rõ ràng cái mốc này không còn thích đáng ở thời hiện tại khi tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên. Thứ hai, tuổi già không chỉ được xác định theo những dấu hiệu bên ngoài như da nhăn, mắt kém, tóc bạc, răng long,... mà còn gắn liền với những trạng thái con người tự cảm thấy: ốm yếu, kém minh mẫn, nhiều nếm trải, nhiều kinh nghiệm, có quyền uy ("sống lâu lên lão làng"), bị thất thế, lạc loài,... [...] Thứ ba, tuổi già hoàn toàn cũng có thể được xem như một kiến tạo văn hoá: việc ai đó được coi là người già, việc gán cho tuổi già những đặc điểm, phẩm chất, quyền năng hay giới hạn nào đó thực chất là kết quả của những hoạt động diễn ngôn trong văn hoá. Bên dưới những lớp nghĩa được tạo nên ấy là những nỗ lực củng cố hay làm lung lay những quyền lực, tôn ti, thứ bậc trong đời sống xã hội ở một ngữ cảnh đặc thù. [...]
Như vậy, tuổi già là một ý niệm mang tính giao cắt: vừa là một hiện tượng thuộc về quá trình sinh lí của con người, vừa là một kiến tạo văn hoá; vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, lại vừa gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù. [...] Thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu hầu hết đều sống trong tình trạng già đi. Người phụ nữ hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa mới chỉ trạc ngoài bốn mươi nhưng "dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già"; trong Cỏ lau, Lực khi nhìn tấm ảnh cũ chụp mình thời trẻ và nhìn bé Thơm đang đi bên cạnh mình không tránh khỏi cảm giác thấy mình thật "già nua"; ở Phiên chợ Giát, lão Khúng nhìn thấy mình như một "lão già ghê tởm" với "thân hình cao vổng lại lủng củng đầy những xương cùng xấu, mái tóc cắt ngắn như rễ tre, mớ đổ phải, mớ đổ về phía trước trán, sợi đen sợi trắng loang lổ, mặt mũi gồ ghề...". [...]
2. Khủng hoảng hiện sinh của các nhân vật tuổi già
Tính bi kịch của nhân vật tuổi già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nằm ở chỗ chính vào khoảnh khắc chạm vào ngưỡng cuối cùng của đời người, họ đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện sinh không thể né tránh. Trong Dấu vết nghề nghiệp và Bến quê, nhân vật của Nguyễn Minh Châu đều bị đặt vào những tình huống hạn chế: khi cái đón đợi mình phía trước chỉ còn một khả năng duy nhất – cái chết, điều duy nhất con người có thể làm là nhìn lại quãng đời đã sống. Ở thời khắc ấy, những gì kí ức còn neo giữ lại là thứ làm nhân vật day dứt, thậm chí ân hận hơn cả. Vị cựu thủ môn lão luyện không thể nào quên được cú bắt bóng vụng dại và ngớ ngẩn nhất trong sự nghiệp của mình cũng như cách xử lí tình huống gian lận nhưng độ lượng của vị trọng tài từng là đối thủ của mình trên sân cỏ cũng như trong tình yêu. [...] Điều mà vị cựu thủ môn muốn nói nhất trước khi chết là sự nghiệt ngã và tình người trong bóng đá, có những điều phức tạp hơn, sâu xa hơn bàn thắng – bàn thua mà người ta nhìn thấy trong trận đấu. Trong Bến quê, điều làm Nhĩ đau đớn hơn cả sự hành hạ của thân xác vào ngày cuối cùng trong đời mình là khi nhận ra mình sắp chết nhưng mình thực sự chưa từng sống – nếu hiểu sống phải là quá trình con người ta nhận ra ý nghĩa của bản thân đời sống.
2.1. Cảm giác bơ vơ, xa lạ với chính mình
Cỏ lau và Phiên chợ Giát – hai tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu sau 1975, cũng là hai tác phẩm đào sâu vào những khủng hoảng hiện sinh xuất hiện đúng vào thời điểm con người chạm ngưỡng của sự già. Trong Cỏ lau, Lực trở về quê hương để làm công việc quy tập thi hài cốt của những người đồng đội nhưng ở đó suốt bao nhiêu năm, những người thân của anh đều nghĩ anh đã chết. Mô típ trở về ở truyện ngắn này cho phép ta liên hệ ở mức độ nào đó với cuộc hồi hương của Uy-li-xơ (Ulysses) trong sử thi Ô-đi-xê (Odyssey). Sau cuộc chiến thành Tơ-roa (Troy), trải mười năm lưu lạc, Uy-li-xơ vượt qua vô vàn thử thách bằng sức mạnh và trí tuệ của mình, để tìm về quê nhà, đoàn tụ với vợ con, khẳng định tư cách anh hùng của mình. Ngược lại, cuộc hồi hương của Lực – kẻ mất khoảng thời gian gần gấp đôi Uy-li-xơ để trở về sau chiến tranh – là thời điểm đánh dấu những khủng hoảng hiện sinh của nhân vật, không phải chỉ ở chỗ người nhà đều tin anh đã chết, vợ anh đã đi lấy người khác mà ở những biểu hiện sâu xa hơn trong tâm thức của nhân vật. Trong một tiểu luận về Cỏ lau, Đoàn Cầm Thi đã chỉ ra một khía cạnh của sự khủng hoảng này ở nhân vật: sự xa lạ với chính mình khi Lực đối diện với tấm ảnh thời trẻ: "Không thể nào không nhận thấy ở Lực sự bất ổn, thậm chí sợ hãi, trước hình ảnh của chính mình: Lực đang biến thành người xa lạ". Tôi muốn nói thêm: chính ý thức về sự già đi của bản thân sau bao năm chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến trạng thái bất ổn đó ở Lực. Song khủng hoảng hiện sinh ấy còn thể hiện ở một khía cạnh khác: Lực đối diện với tình trạng mất ý nghĩa của những gì trong thực tại anh đang thấy, đang chứng kiến khi trở về. Núi Đợi đã được người dân tự động đổi tên thành núi Tử Sĩ – cái tên nhắc đến sự mất mát khốc liệt của cuộc chiến vừa qua; vùng đất xưa kia là bãi chiến trường nơi con người hi sinh xương máu để chiếm lấy từng tấc đất nay chỉ có lau mọc lên um tùm, rậm rạp, gây khó cho việc tìm hài cốt đồng đội; nơi yên nghỉ của người chết giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò chơi trận giả. Và cuối cùng, cuộc chiến mà Lực "không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết tuổi trẻ vào đấy mà cống hiến cho nó" nhưng rốt cục, "nó như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ". Chấn thương ấy là trạng thái không thể nhìn thấy được từ bên ngoài, nó khiến Lực bơ vơ như khách lạ chính trên mảnh đất cố hương của mình, sự sống sót của mình hoá ra lại chỉ đem đến cho nhân vật mặc cảm tội lỗi khi có thể xáo trộn tất cả những cuộc đời của người khác. Sự trở về không phải là phần thưởng dành cho nhân vật như ta thấy trong sử thi Hô-me-rơ (Hómèros); trái lại ở đây, Lực ý thức việc mình chỉ như "một khách lạ" giống một hình phạt của định mệnh. [...]
2.2. Trạng thái trống rỗng, thất bại, không mục đích
Đến cuối đời, cái mà người ta nhận ra được là sự mất ý nghĩa của tất cả những gì từng khiến con người phải nhọc lòng. Đó có lẽ là trải nghiệm của lão Khúng trên đường dắt con bò khoang ra chợ. Trong dòng ý thức của lão Khúng, cả cuộc đời của nhân vật được tái hiện và tự đánh giá một cách nghiêm khắc nhất, theo đó, cứ như thể toàn bộ lao lực của ông rốt cục giống như hành động đẩy đá của Xi-xi-phu (Sisyphus): người hùng khai hoang một vùng đất cuối cùng vẫn chỉ "sống trong sự vây bọc tưởng không bao giờ thoát nổi của hoang vu". Cuộc đời vất sức cho đất hoang rốt cục cũng đi đến kiệt cùng như con bò khoang già nua, vòng đời của nó thực ra đồng dạng với vòng đời của chính lão Khúng. Bởi thế, hành động nhân vật thả con bò về rừng hoang, thay vì đem bán nó ở chợ để cuối cùng bị làm thịt thành thức ăn cho người, nhất là dân thành thị, có thể xem là cuộc nổi loạn hiện sinh. Việc này khiến toàn bộ hành trình đi từ nhà lúc khuya khoắt đến chợ của lão Khúng trở thành một hành trình vô mục đích và không thể hiểu nổi theo lẽ thông thường. Theo Hoàng Ngọc Hiến, hành động này thể hiện "ảo tưởng tự do hoang dã" của lão Khúng, cho dù việc con bò cuối cùng lại quay trở về gặp chủ nó là "sự thất bại não nùng" của ảo tưởng ấy. [...] Nhưng khoảnh khắc đột nhiên nhân vật cảm thấy cần phải giải thoát cho con bò chính là lúc ông lão lấy lại sức mạnh nội tại, dù chỉ trước đó thôi, ông còn có cảm giác mình "sắp chết". Sức mạnh ấy giúp ông đủ can đảm để chấm dứt việc tái diễn chu trình vô nhân đạo nhưng đã trở nên bình thường, thậm chí bị coi như tất yếu, của đời sống, để còn có thể là người – điều mà ông phải giữ lại dẫu có thể tất cả những thứ khác, dù vô cùng quý giá trong đời ông, như đất đai, con cái, đều mất hết: "Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng vô nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa chứ còn đâu nửa người nửa thú vật? Một lát sau lão không lên án, tự sỉ vả mình nữa mà chỉ thấy trong người mình một cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát...". Ý thức giữ lại tư cách người ở lão Khúng có thể gợi nhớ đến lão già Xan-ti-a-gô (Santiago) trong Ông già và biển cả của Ơ-nít Hê-minh-uê (Ernest Hemingway) – người chấp nhận đương đầu không cân sức với đàn cá dữ giữa đại dương để không chỉ bảo vệ thành quả lao động của mình mà để khẳng định sự kiên định của việc làm người: "Con người có thể bị huỷ diệt, nhưng không thể bị đánh bại". [...] Lão Khúng, vì thế, có thể xem là hình tượng người già cứng cỏi còn trụ lại trong thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu, dù thực chất, khác hẳn với ông lão Xan-ti-a-gô của Hê-minh-uê, lão không được nhà văn tạo hình như một mẫu nhân vật chiến bại anh hùng trong cuộc hiện sinh.
2.3. Trải nghiệm sám hối và ý thức chuộc tội
Khủng hoảng hiện sinh ở nhân vật tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu còn được khắc hoạ ở những trải nghiệm ăn năn, sám hối và ý thức chuộc tội. Ở trên, tôi đã nói đến mặc cảm tội lỗi ở Lực bởi chính sự sống sót của anh sau chiến tranh có thể phá vỡ cuộc sống mà anh nghĩ đã yên ổn. Nhưng sâu xa hơn, chính cuộc chiến tranh mà Lực trải qua cũng là nguồn gốc của mặc cảm trong anh: nó không hề là kì tích, chiến công dù anh trở về đây trong tư cách của người thắng trận. [...] Kết thúc Cỏ lau là một tưởng tượng của Lực về tương lai của mình, nơi anh chấp nhận sẽ sống về già trong cô độc và trong trách nhiệm chịu tội: đó là thế giới nơi chỉ có anh và người cha già sống những ngày cuối đời cùng nấm mộ của Phi. Phiên chợ Giát cũng mở đầu bằng cảm giác tội đồ của lão Khúng khi giật mình khỏi cơn ác mộng mà ở đó, lão nhìn thấy mình như một hung thần đang giương cây búa to nặng để đập chết bò khoang. Nỗi sợ hãi bởi cảm giác như thấy phần tăm tối nhất trong con người mình, khả năng trở nên ác độc, tàn nhẫn của chính bản thân khiến lão bàng hoàng: "Giá như người khác, là người biết ngoan ngoãn tuân phục một thứ tôn giáo nào thì chắc chắn lúc này, giữa đêm hôm khuya khoắt, lão đã lập tức quỳ sụp xuống mà hối hả đọc kinh, đập đầu xuống đất mà van nài kẻ tôn thờ, trút lòng ăn nănsám hối trước đấng thiêng liêng ở trên đầu trên cổ. Đằng này là một kẻ vô đạo, lão Khúng chỉ biết lật mình ngồi dậy trên tấm phản gỗ mà run sợ một mình, vật vã đau khổ một mình, tự mình lại lấy làm sợ hãi trước chính mình. Lão mở trùng trùng hai con mắt mà nhìn tên hung thần đổ tể vừa nhập vào lão, ngay khi lão bình yên ngủ trên tấm phản quen thuộc giữa nhà mình.". Nỗi sợ hãi trước chính mình này có thể xem là cơ chế tâm lí bề sâu chi phối quyết định tưởng như đột nhiên và có vẻ "điên rồ" của lão Khúng khi giải thoát cho bò khoang ở cuối truyện. Nội tâm của nhân vật không chỉ dày đặc nỗi day dứt khi nghĩ về mối quan hệ giữa mình với con bò đã gắn bó cả đời mà còn trĩu nặng những niềm áy náy khi nghĩ đến những đứa con, đặc biệt sự ân hận khi nghĩ về Dũng – đứa conhi sinh nơi xứ người. Những lí do cao cả không đủ khoả lấp được nỗi đau trần trụi của một người cha mất con và cũng có thể mất luôn ảo ảnh về con khi lão không có dù chỉ một tấm hình của con chụp khi còn sống.
[...] Những chi tiết về thế giới người già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thực ra có thể nói lên một số thay đổi quan trọng trong khung tư duy của nhà văn khi ta thử làm phép so sánh với những hình tượng cùng loại trong sáng tác của một số nhà văn ở thập niên 1980. Trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ [...], Trương Ba có thể lạc lõng trong nhà nhưng không lạc loài, sự lựa chọn của ông – chấp nhận tan vào hư vô hơn là duy trì sự tồn tại trong hình hài vay mượn của kẻ khác – ít nhiều còn có thể lay tỉnh con cái và đặc biệt khiến ông kết nối lại được với thế hệ cháu mình. [...] Đến Nguyễn Minh Châu, người già mất con trong và sau chiến tranh, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó là tự sự của những người già côi cút, bất lực với chính những đứa con của mình. Tướng Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp thấy mình "lạc loài" trong thời bình, không thể thích nghi với tất cả những phức tạp, nhốn nháo của thời bình. [...] Sự suy giảm trọng lực của tiếng nói và vị thế của người già từ Lưu Quang Vũ qua Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp phản ánh sự biến động về cảm quan đạo đức ở mỗi nhà văn tương ứng với nhận thức của họ về những rạn nứt, xáo trộn về giá trị của xã hội hậu chiến. Điều này, đến lượt mình, dẫn đến sự khác nhau cơ bản về tính chất bức tranh thế giới trong sáng tác của ba nhà văn. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ ở trạng thái có thể bắt bệnh và chữa lành lại, đó là nơi sự hoà giải thế hệ có thể diễn ra. Thế giới của Nguyễn Minh Châu là thế giới nơi con người phạm lỗi, mê lầm, nó đòi hỏi sự ăn năn, sám hối và điều này được tự giác thực hiện trước hết bởi những người đã đi gần hết chặngđường của mình. Thế giới của Nguyễn Huy Thiệp đối lập với thế giới của Lưu Quang Vũ ở chỗ nó mất đi ảo tưởng lãng mạn về khả năng chữa lành những căn bệnh của xã hội. [...]
KẾT LUẬN
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là thế giới mang nhiều nếm trải bi kịch. Có nhiều lí do để Nguyễn Minh Châu quan tâm đến lát cắt đặc biệt này của đời người, trong đó, hẳn phải nhắc đến việc ở ngưỡng cuối cùng này, con người cần thiết phải sống thành thật, không được phép chạy trốn việc đối diện với chính mình. Sự trung thực là phẩm giá mà ông đòi hỏi ở nhân vật của ông trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của đời mình. Song đó cũng chính là yêu cầu mà ông tự đặt ra cho bản thân, thậm chí ở mức độ cao nhất. Đó cũng là điều quan trọng làm nên sức sống của trang văn Nguyễn Minh Châu qua thời gian.
Tài liệu tham khảo
1. A.Ja.Gu-rê-vích (1996), Các phạm trù văn hoá Trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Giăng Si-va-li-ơ (Jean Chevalier) – A-lanh Ghia-bran (Alain Gheerbrant) (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.
3. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn, 2007), Nguyễn Minh Châu – Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Đoàn Cầm Thi (2016), Đọc "tôi" bên bến lạ, NXB Hội Nhà văn – Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội.
(Trần Ngọc Hiếu, tạp chí Sông Hương, số 374, tháng 4/2020)
![]()
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu
Trần Ngọc Hiếu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một gương mặt quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông không chỉ là cây bút tiêu biểu của văn xuôi thời kì chống Mỹ cứu nước với các tác phẩm như Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972) mà còn là người mở đường dũng cảm cho văn học thời kì Đổi mới. Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu từ cuối thập niên 1970 đã có nhiều đột phá về tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện. Những phương diện này đã là đối tượng của một số nghiên cứu có giá trị.
Tuy nhiên, sáng tác của các nhà văn lớn luôn có khả năng khơi gợi những khám phá và diễn giải mới. Vẫn còn có nhiều khía cạnh vi tế trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đòi hỏi sự chú ý và cách tiếp cận mới mẻ hơn.
Bài viết này đi vào nghiên cứu sự thể hiện tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Đây là đề tài chưa được quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu đã có, mặc dù thế giới của nhân vật người già và ám ảnh về tuổi già đã được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ, thể hiện rất đậm nét trên các trang văn của mình. Bài viết sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu ý niệm về tuổi già trong văn hoá, khảo sát thế giới nhân vật và những kí hiệu về tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, từ đó, làm nổi bật cảm quan của nhà văn về con người và thời thế trong sự liên hệ với một số nhà văn thời kì Đổi mới cũng có chung mối ưu tư về tuổi già.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm tuổi già
[...] Thực ra không dễ để xác định ý niệm "tuổi già". Thứ nhất, việc một người đến ngưỡng tuổi nào thì được coi là già còn phụ thuộc vào những ngữ cảnh văn hoá nhất định. Ở thời Trung cổ, tuổi thọ con người chưa cao, bởi vậy thi sĩ Đan-tê (Dante) đã khẳng định "tuổi thanh niên kéo dài cho tới hai mươi lăm, tuổi chín chắn hoàn tất vào năm bốn mươi lăm, sau đó tuổi già bắt đầu". Rõ ràng cái mốc này không còn thích đáng ở thời hiện tại khi tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên. Thứ hai, tuổi già không chỉ được xác định theo những dấu hiệu bên ngoài như da nhăn, mắt kém, tóc bạc, răng long,... mà còn gắn liền với những trạng thái con người tự cảm thấy: ốm yếu, kém minh mẫn, nhiều nếm trải, nhiều kinh nghiệm, có quyền uy ("sống lâu lên lão làng"), bị thất thế, lạc loài,... [...] Thứ ba, tuổi già hoàn toàn cũng có thể được xem như một kiến tạo văn hoá: việc ai đó được coi là người già, việc gán cho tuổi già những đặc điểm, phẩm chất, quyền năng hay giới hạn nào đó thực chất là kết quả của những hoạt động diễn ngôn trong văn hoá. Bên dưới những lớp nghĩa được tạo nên ấy là những nỗ lực củng cố hay làm lung lay những quyền lực, tôn ti, thứ bậc trong đời sống xã hội ở một ngữ cảnh đặc thù. [...]
Như vậy, tuổi già là một ý niệm mang tính giao cắt: vừa là một hiện tượng thuộc về quá trình sinh lí của con người, vừa là một kiến tạo văn hoá; vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, lại vừa gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù. [...] Thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu hầu hết đều sống trong tình trạng già đi. Người phụ nữ hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa mới chỉ trạc ngoài bốn mươi nhưng "dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già"; trong Cỏ lau, Lực khi nhìn tấm ảnh cũ chụp mình thời trẻ và nhìn bé Thơm đang đi bên cạnh mình không tránh khỏi cảm giác thấy mình thật "già nua"; ở Phiên chợ Giát, lão Khúng nhìn thấy mình như một "lão già ghê tởm" với "thân hình cao vổng lại lủng củng đầy những xương cùng xấu, mái tóc cắt ngắn như rễ tre, mớ đổ phải, mớ đổ về phía trước trán, sợi đen sợi trắng loang lổ, mặt mũi gồ ghề...". [...]
2. Khủng hoảng hiện sinh của các nhân vật tuổi già
Tính bi kịch của nhân vật tuổi già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nằm ở chỗ chính vào khoảnh khắc chạm vào ngưỡng cuối cùng của đời người, họ đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện sinh không thể né tránh. Trong Dấu vết nghề nghiệp và Bến quê, nhân vật của Nguyễn Minh Châu đều bị đặt vào những tình huống hạn chế: khi cái đón đợi mình phía trước chỉ còn một khả năng duy nhất – cái chết, điều duy nhất con người có thể làm là nhìn lại quãng đời đã sống. Ở thời khắc ấy, những gì kí ức còn neo giữ lại là thứ làm nhân vật day dứt, thậm chí ân hận hơn cả. Vị cựu thủ môn lão luyện không thể nào quên được cú bắt bóng vụng dại và ngớ ngẩn nhất trong sự nghiệp của mình cũng như cách xử lí tình huống gian lận nhưng độ lượng của vị trọng tài từng là đối thủ của mình trên sân cỏ cũng như trong tình yêu. [...] Điều mà vị cựu thủ môn muốn nói nhất trước khi chết là sự nghiệt ngã và tình người trong bóng đá, có những điều phức tạp hơn, sâu xa hơn bàn thắng – bàn thua mà người ta nhìn thấy trong trận đấu. Trong Bến quê, điều làm Nhĩ đau đớn hơn cả sự hành hạ của thân xác vào ngày cuối cùng trong đời mình là khi nhận ra mình sắp chết nhưng mình thực sự chưa từng sống – nếu hiểu sống phải là quá trình con người ta nhận ra ý nghĩa của bản thân đời sống.
2.1. Cảm giác bơ vơ, xa lạ với chính mình
Cỏ lau và Phiên chợ Giát – hai tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu sau 1975, cũng là hai tác phẩm đào sâu vào những khủng hoảng hiện sinh xuất hiện đúng vào thời điểm con người chạm ngưỡng của sự già. Trong Cỏ lau, Lực trở về quê hương để làm công việc quy tập thi hài cốt của những người đồng đội nhưng ở đó suốt bao nhiêu năm, những người thân của anh đều nghĩ anh đã chết. Mô típ trở về ở truyện ngắn này cho phép ta liên hệ ở mức độ nào đó với cuộc hồi hương của Uy-li-xơ (Ulysses) trong sử thi Ô-đi-xê (Odyssey). Sau cuộc chiến thành Tơ-roa (Troy), trải mười năm lưu lạc, Uy-li-xơ vượt qua vô vàn thử thách bằng sức mạnh và trí tuệ của mình, để tìm về quê nhà, đoàn tụ với vợ con, khẳng định tư cách anh hùng của mình. Ngược lại, cuộc hồi hương của Lực – kẻ mất khoảng thời gian gần gấp đôi Uy-li-xơ để trở về sau chiến tranh – là thời điểm đánh dấu những khủng hoảng hiện sinh của nhân vật, không phải chỉ ở chỗ người nhà đều tin anh đã chết, vợ anh đã đi lấy người khác mà ở những biểu hiện sâu xa hơn trong tâm thức của nhân vật. Trong một tiểu luận về Cỏ lau, Đoàn Cầm Thi đã chỉ ra một khía cạnh của sự khủng hoảng này ở nhân vật: sự xa lạ với chính mình khi Lực đối diện với tấm ảnh thời trẻ: "Không thể nào không nhận thấy ở Lực sự bất ổn, thậm chí sợ hãi, trước hình ảnh của chính mình: Lực đang biến thành người xa lạ". Tôi muốn nói thêm: chính ý thức về sự già đi của bản thân sau bao năm chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến trạng thái bất ổn đó ở Lực. Song khủng hoảng hiện sinh ấy còn thể hiện ở một khía cạnh khác: Lực đối diện với tình trạng mất ý nghĩa của những gì trong thực tại anh đang thấy, đang chứng kiến khi trở về. Núi Đợi đã được người dân tự động đổi tên thành núi Tử Sĩ – cái tên nhắc đến sự mất mát khốc liệt của cuộc chiến vừa qua; vùng đất xưa kia là bãi chiến trường nơi con người hi sinh xương máu để chiếm lấy từng tấc đất nay chỉ có lau mọc lên um tùm, rậm rạp, gây khó cho việc tìm hài cốt đồng đội; nơi yên nghỉ của người chết giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò chơi trận giả. Và cuối cùng, cuộc chiến mà Lực "không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết tuổi trẻ vào đấy mà cống hiến cho nó" nhưng rốt cục, "nó như một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ". Chấn thương ấy là trạng thái không thể nhìn thấy được từ bên ngoài, nó khiến Lực bơ vơ như khách lạ chính trên mảnh đất cố hương của mình, sự sống sót của mình hoá ra lại chỉ đem đến cho nhân vật mặc cảm tội lỗi khi có thể xáo trộn tất cả những cuộc đời của người khác. Sự trở về không phải là phần thưởng dành cho nhân vật như ta thấy trong sử thi Hô-me-rơ (Hómèros); trái lại ở đây, Lực ý thức việc mình chỉ như "một khách lạ" giống một hình phạt của định mệnh. [...]
2.2. Trạng thái trống rỗng, thất bại, không mục đích
Đến cuối đời, cái mà người ta nhận ra được là sự mất ý nghĩa của tất cả những gì từng khiến con người phải nhọc lòng. Đó có lẽ là trải nghiệm của lão Khúng trên đường dắt con bò khoang ra chợ. Trong dòng ý thức của lão Khúng, cả cuộc đời của nhân vật được tái hiện và tự đánh giá một cách nghiêm khắc nhất, theo đó, cứ như thể toàn bộ lao lực của ông rốt cục giống như hành động đẩy đá của Xi-xi-phu (Sisyphus): người hùng khai hoang một vùng đất cuối cùng vẫn chỉ "sống trong sự vây bọc tưởng không bao giờ thoát nổi của hoang vu". Cuộc đời vất sức cho đất hoang rốt cục cũng đi đến kiệt cùng như con bò khoang già nua, vòng đời của nó thực ra đồng dạng với vòng đời của chính lão Khúng. Bởi thế, hành động nhân vật thả con bò về rừng hoang, thay vì đem bán nó ở chợ để cuối cùng bị làm thịt thành thức ăn cho người, nhất là dân thành thị, có thể xem là cuộc nổi loạn hiện sinh. Việc này khiến toàn bộ hành trình đi từ nhà lúc khuya khoắt đến chợ của lão Khúng trở thành một hành trình vô mục đích và không thể hiểu nổi theo lẽ thông thường. Theo Hoàng Ngọc Hiến, hành động này thể hiện "ảo tưởng tự do hoang dã" của lão Khúng, cho dù việc con bò cuối cùng lại quay trở về gặp chủ nó là "sự thất bại não nùng" của ảo tưởng ấy. [...] Nhưng khoảnh khắc đột nhiên nhân vật cảm thấy cần phải giải thoát cho con bò chính là lúc ông lão lấy lại sức mạnh nội tại, dù chỉ trước đó thôi, ông còn có cảm giác mình "sắp chết". Sức mạnh ấy giúp ông đủ can đảm để chấm dứt việc tái diễn chu trình vô nhân đạo nhưng đã trở nên bình thường, thậm chí bị coi như tất yếu, của đời sống, để còn có thể là người – điều mà ông phải giữ lại dẫu có thể tất cả những thứ khác, dù vô cùng quý giá trong đời ông, như đất đai, con cái, đều mất hết: "Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng vô nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa chứ còn đâu nửa người nửa thú vật? Một lát sau lão không lên án, tự sỉ vả mình nữa mà chỉ thấy trong người mình một cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát...". Ý thức giữ lại tư cách người ở lão Khúng có thể gợi nhớ đến lão già Xan-ti-a-gô (Santiago) trong Ông già và biển cả của Ơ-nít Hê-minh-uê (Ernest Hemingway) – người chấp nhận đương đầu không cân sức với đàn cá dữ giữa đại dương để không chỉ bảo vệ thành quả lao động của mình mà để khẳng định sự kiên định của việc làm người: "Con người có thể bị huỷ diệt, nhưng không thể bị đánh bại". [...] Lão Khúng, vì thế, có thể xem là hình tượng người già cứng cỏi còn trụ lại trong thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu, dù thực chất, khác hẳn với ông lão Xan-ti-a-gô của Hê-minh-uê, lão không được nhà văn tạo hình như một mẫu nhân vật chiến bại anh hùng trong cuộc hiện sinh.
2.3. Trải nghiệm sám hối và ý thức chuộc tội
Khủng hoảng hiện sinh ở nhân vật tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu còn được khắc hoạ ở những trải nghiệm ăn năn, sám hối và ý thức chuộc tội. Ở trên, tôi đã nói đến mặc cảm tội lỗi ở Lực bởi chính sự sống sót của anh sau chiến tranh có thể phá vỡ cuộc sống mà anh nghĩ đã yên ổn. Nhưng sâu xa hơn, chính cuộc chiến tranh mà Lực trải qua cũng là nguồn gốc của mặc cảm trong anh: nó không hề là kì tích, chiến công dù anh trở về đây trong tư cách của người thắng trận. [...] Kết thúc Cỏ lau là một tưởng tượng của Lực về tương lai của mình, nơi anh chấp nhận sẽ sống về già trong cô độc và trong trách nhiệm chịu tội: đó là thế giới nơi chỉ có anh và người cha già sống những ngày cuối đời cùng nấm mộ của Phi. Phiên chợ Giát cũng mở đầu bằng cảm giác tội đồ của lão Khúng khi giật mình khỏi cơn ác mộng mà ở đó, lão nhìn thấy mình như một hung thần đang giương cây búa to nặng để đập chết bò khoang. Nỗi sợ hãi bởi cảm giác như thấy phần tăm tối nhất trong con người mình, khả năng trở nên ác độc, tàn nhẫn của chính bản thân khiến lão bàng hoàng: "Giá như người khác, là người biết ngoan ngoãn tuân phục một thứ tôn giáo nào thì chắc chắn lúc này, giữa đêm hôm khuya khoắt, lão đã lập tức quỳ sụp xuống mà hối hả đọc kinh, đập đầu xuống đất mà van nài kẻ tôn thờ, trút lòng ăn nănsám hối trước đấng thiêng liêng ở trên đầu trên cổ. Đằng này là một kẻ vô đạo, lão Khúng chỉ biết lật mình ngồi dậy trên tấm phản gỗ mà run sợ một mình, vật vã đau khổ một mình, tự mình lại lấy làm sợ hãi trước chính mình. Lão mở trùng trùng hai con mắt mà nhìn tên hung thần đổ tể vừa nhập vào lão, ngay khi lão bình yên ngủ trên tấm phản quen thuộc giữa nhà mình.". Nỗi sợ hãi trước chính mình này có thể xem là cơ chế tâm lí bề sâu chi phối quyết định tưởng như đột nhiên và có vẻ "điên rồ" của lão Khúng khi giải thoát cho bò khoang ở cuối truyện. Nội tâm của nhân vật không chỉ dày đặc nỗi day dứt khi nghĩ về mối quan hệ giữa mình với con bò đã gắn bó cả đời mà còn trĩu nặng những niềm áy náy khi nghĩ đến những đứa con, đặc biệt sự ân hận khi nghĩ về Dũng – đứa conhi sinh nơi xứ người. Những lí do cao cả không đủ khoả lấp được nỗi đau trần trụi của một người cha mất con và cũng có thể mất luôn ảo ảnh về con khi lão không có dù chỉ một tấm hình của con chụp khi còn sống.
[...] Những chi tiết về thế giới người già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thực ra có thể nói lên một số thay đổi quan trọng trong khung tư duy của nhà văn khi ta thử làm phép so sánh với những hình tượng cùng loại trong sáng tác của một số nhà văn ở thập niên 1980. Trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ [...], Trương Ba có thể lạc lõng trong nhà nhưng không lạc loài, sự lựa chọn của ông – chấp nhận tan vào hư vô hơn là duy trì sự tồn tại trong hình hài vay mượn của kẻ khác – ít nhiều còn có thể lay tỉnh con cái và đặc biệt khiến ông kết nối lại được với thế hệ cháu mình. [...] Đến Nguyễn Minh Châu, người già mất con trong và sau chiến tranh, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó là tự sự của những người già côi cút, bất lực với chính những đứa con của mình. Tướng Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp thấy mình "lạc loài" trong thời bình, không thể thích nghi với tất cả những phức tạp, nhốn nháo của thời bình. [...] Sự suy giảm trọng lực của tiếng nói và vị thế của người già từ Lưu Quang Vũ qua Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp phản ánh sự biến động về cảm quan đạo đức ở mỗi nhà văn tương ứng với nhận thức của họ về những rạn nứt, xáo trộn về giá trị của xã hội hậu chiến. Điều này, đến lượt mình, dẫn đến sự khác nhau cơ bản về tính chất bức tranh thế giới trong sáng tác của ba nhà văn. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ ở trạng thái có thể bắt bệnh và chữa lành lại, đó là nơi sự hoà giải thế hệ có thể diễn ra. Thế giới của Nguyễn Minh Châu là thế giới nơi con người phạm lỗi, mê lầm, nó đòi hỏi sự ăn năn, sám hối và điều này được tự giác thực hiện trước hết bởi những người đã đi gần hết chặngđường của mình. Thế giới của Nguyễn Huy Thiệp đối lập với thế giới của Lưu Quang Vũ ở chỗ nó mất đi ảo tưởng lãng mạn về khả năng chữa lành những căn bệnh của xã hội. [...]
KẾT LUẬN
Thế giới tuổi già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là thế giới mang nhiều nếm trải bi kịch. Có nhiều lí do để Nguyễn Minh Châu quan tâm đến lát cắt đặc biệt này của đời người, trong đó, hẳn phải nhắc đến việc ở ngưỡng cuối cùng này, con người cần thiết phải sống thành thật, không được phép chạy trốn việc đối diện với chính mình. Sự trung thực là phẩm giá mà ông đòi hỏi ở nhân vật của ông trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của đời mình. Song đó cũng chính là yêu cầu mà ông tự đặt ra cho bản thân, thậm chí ở mức độ cao nhất. Đó cũng là điều quan trọng làm nên sức sống của trang văn Nguyễn Minh Châu qua thời gian.
Tài liệu tham khảo
1. A.Ja.Gu-rê-vích (1996), Các phạm trù văn hoá Trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Giăng Si-va-li-ơ (Jean Chevalier) – A-lanh Ghia-bran (Alain Gheerbrant) (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.
3. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn, 2007), Nguyễn Minh Châu – Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Đoàn Cầm Thi (2016), Đọc "tôi" bên bến lạ, NXB Hội Nhà văn – Công ti cổ phần Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội.
(Trần Ngọc Hiếu, tạp chí Sông Hương, số 374, tháng 4/2020)
![]()