Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Nguyệt cầm (Phần 2) SVIP
NGUYỆT CẦM
(Xuân Diệu)
(Phần 2)
3. Tìm hiểu về tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình
– Xác định chủ thể trữ tình của bài thơ “Nguyệt cầm”:
Câu hỏi:
@208178592659@
– Cảm giác của chủ thể trữ tình thể hiện thông qua một số từ ngữ, hình ảnh:
+ Cảm giác “lạnh” (khổ 1):
++) Ngón tay chơi đàn chạm vào dây đàn (“dây cung nguyệt”).
++) Khí lạnh của đêm trăng (“lạnh”).
++) Nghe tiếng đàn buồn lặng chậm rãi, tàn dần (“Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm”).
=> Người chơi đàn cảm nhận dây lạnh của đàn; chủ thể trữ tình cảm nhận khí lạnh của đêm trăng; cảm nhận tiếng đàn buồn lặng, chậm rãi rồi tàn dần.
+ Cảm giác “rung mình” (khổ 2):
Câu hỏi:
@208178593832@
+ Cảm giác “ghê như nước” (khổ 3):
++) Tiếng đàn như nước chảy, réo rắt và len lỏi vào tâm hồn (“Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời”, “đàn”).
++) Hơi lạnh đêm trăng nhập vào tiếng đàn thấu suốt khắp tâm hồn.
++) Dư âm cảm giác xót thương bởi câu chuyện nương tử “chết đêm rằm theo nước xanh” ở khổ trên.
=> Cảm giác mê đắm, rợn ngợp của chủ thể trữ tình trước “biển pha lê” – sự giao hoà đến tột đỉnh giữa ánh sáng và âm thanh, bao trùm khắp không gian tạo ra sắc thái kì ảo, huyền diệu.
+ Cảm giác “rợn” (khổ 4): Cảm giác mê đắm, rợn ngợp trước “biển pha lê” (“Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê”) – sự giao hoà đến tột đỉnh giữa ánh sáng và âm thanh, bao trùm khắp không gian tạo ra sắc thái kì ảo, huyền diệu.
– Chi tiết thể hiện cảm xúc của chủ thể trữ tình:
+ Chi tiết “dây cung nguyệt lạnh”, “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh”, “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm”, “Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân”.
=> Cảm xúc khi nghe đàn: Lạnh lẽo, thương nhớ, u buồn.
=> Tình cảm về những kiếp tài hoa: Hình ảnh “giọt rơi tàn như lệ ngân” báo trước niềm xót thương và những nỗi đau ở khổ sau.
+ Chi tiết: “Linh lung bóng sáng bỗng rung mình”, “Vì nghe nương tử trong câu hát”, “Đã chết đêm rằm theo nước xanh”.
=> Cảm xúc khi nghe đàn: Rung động cả thân thể, tâm hồn trước sự giao hoà của âm thanh, ánh sáng.
=> Tình cảm về những kiếp tài hoa: Trân trọng và xót thương cho “nương tử” – người con gái đẹp chết trong đêm trăng.
+ Chi tiết: “Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,/ Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi.../ Long lanh tiếng sỏi vang vang hận/ Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người”.
=> Cảm xúc khi nghe đàn: Cảm thấy lạnh lẽo trước sự hoà quyện khí hàn của trăng và âm thanh tiếng đàn – như làn nước len lỏi vào tâm hồn.
=> Tình cảm về những kiếp tài hoa: Nhớ thương, hiểu được nỗi hận của người phụ nữ chơi đàn trong “Tỳ bà hành” (Bạch Cư Dị).
+ Chi tiết: “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề./ Sương bạc làm thinh, khuya nín thở/ Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.”.
=> Cảm xúc khi nghe đàn: Hoàn toàn rợn ngợp, đắm chìm trong sự huyền diệu của “ánh nhạc”, “biển pha lê”.
=> Tình cảm về những kiếp tài hoa: Thương xót cho những thân phận tài hoa nghệ sĩ muôn đời phải chịu khổ đau, cô đơn (“sao Khuê”).
4. Tìm hiểu về nhạc điệu trong bài thơ
NGUYỆT CẦM
Trăng nhập vào dây/ cung/ nguyệt/ lạnh,
Trăng thương,/ trăng nhớ,/ hỡi trăng ngần.
Đàn buồn,/ đàn lặng,/ ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn/ như lệ ngân.
Mây vắng,/ trời trong,/ đêm thuỷ tinh;
Linh lung bóng sáng/ bỗng rung mình
Vì nghe nương tử/ trong câu hát
Đã chết đêm rằm/ theo nước xanh.
Thu lạnh/ càng thêm/ nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước,/ lạnh,/ trời ơi...
Long lanh tiếng sỏi/ vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương,/ nhạc nhớ người.
Bốn bề ánh nhạc:/ biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi/ rợn bốn bề.
Sương bạc làm thinh,/ khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc/ đến sao Khuê.
(In trong Gửi hương cho gió, NXB Hội Nhà văn, Hội Nghiên cứu – Giảng dạy văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 1992)
Câu hỏi:
@208178595356@
=> Cách ngắt nhịp của bài thơ: Chủ yếu là nhịp 4/3 đặc trưng của thơ cổ điển, tạo cảm giác hoài cổ. Các nhịp 2/2/3; 4/1/2 là những phá cách từ nhịp 4/3 để tạo điểm nhấn về âm thanh và cảm xúc.
=> Vần (chú ý vào cách gieo vần và các âm tiết của vần): Chủ yếu là vần chân với các âm tiết mở (ân, inh, anh, ê) gợi ra sự vang vọng của âm thanh, ánh sáng và cảm xúc.
Trăng (B) nhập (T) vào (B) dây (B) cung (B) nguyệt (T) lạnh (T),
Trăng (B) thương (B), trăng (B) nhớ (T), hỡi (T) trăng (B) ngần (B).
Đàn (B) buồn (B), đàn (B) lặng (T), ôi (B) đàn (B) chậm (T)!
Mỗi (T) giọt (T) rơi (B) tàn (B) như (B) lệ (T) ngân (B).
=> Cách phối thanh: Hài hoà giữa bằng và trắc, tạo nhạc điệu du dương mang màu sắc cổ điển, gợi ra sự tương giao giữa các yếu tố trăng và nhạc.
=> Nhận xét về nhạc điệu của bài thơ: Hài hoà, cân xứng, du dương, gợi sắc thái hoài cổ.
=> Nhạc điệu đó gợi ra hình dung: Tiếng đàn trong bài thơ; sự giao hoà giữa trăng và đàn; nhịp điệu cảm xúc của chủ thể trữ tình (gợi ta hình tượng và tình cảm trong bài thơ).
5. Tìm hiểu về cấu tứ trong bài thơ
– Cách triển khai mạch tình cảm, cảm xúc: Một người nghe tiếng đàn nguyệt trong đêm trăng lạnh, xót thương, suy ngẫm về giá trị của cái đẹp và số phận của những kiếp tài hoa xưa, nay.
– Cách triển khai hình tượng trong bài thơ: Hệ thống hình tượng trong bài thơ là sự hoà điệu những rung động ánh sáng, âm thanh và hồn người. Cụ thể như sau:
+ Sự tương giao giữa trăng – đàn: Hình tượng trăng – đàn tương giao với nhau (sự xuất hiện cùng lúc trong khổ thơ; các từ ngữ vừa gợi trăng vừa gợi đàn); hợp thể với nhau như hồn và xác (“ánh nhạc”, “biển pha lê”).
+ Sự rung động của hồn người: Cảm thấy lạnh, rung mình, đắm say rợn ngợp trước sự tương giao trăng – đàn; xót thương cho số phận kiếp tài hoa đi từ quá khứ (“nương tử”, “bến Tầm Dương”), đến hiện tại (bản thân mình) và muôn đời (“sao Khuê”).
+ Đỉnh điểm của hai mạch phát triển hình tượng là cặp “biển pha lê” – “chiếc đảo hồn tôi”: Trăng và đàn hợp thể trọn vẹn bao trùm tạo ra không gian huyền diệu, hồn người hoàn toàn rợn ngợp, mê đắm, cô đơn; sững sờ trước vẻ đẹp và nỗi đau.
– Thể hiện tư tưởng, chủ đề của bài thơ:
+ Niềm say mê trước vẻ đẹp huyền diệu của nghệ thuật và sự thăng hoa tột đỉnh giữa cuộc sống – nghệ thuật – hồn người.
+ Trăng trở về giá trị của cái đẹp và thân phận đau khổ, cô đơn muôn đời của các kiếp tài hoa xưa nay.
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung
Bài thơ thể hiện sự giao cảm giữa hương sắc và thanh âm, giữa đất trời và cỏ cây, giữa vũ trụ và con người, giữa trần gian và âm cảnh. Qua bài thơ, ta thấy được trực giác nhạy cảm của Xuân Diệu, ông đã nắm bắt giây phút hội ngộ thiêng liêng giữa thực tại và siêu hình, giữa nội tâm và ngoại giới để đạt tới thăng hoa trong tác phẩm nghệ thuật.
2. Nghệ thuật
– Sử dụng thể thơ bảy chữ, với cách ngắt nhịp, gieo vần hài hoà.
– Sử dụng hình ảnh thơ giàu giá trị biểu tượng, mang tính gợi hình, gợi cảm cao. Sự kết hợp giữa cổ điển (thể thơ, thi ảnh) và hiện đại (cảm thức tượng trưng). Hình ảnh thơ “nguyệt” (trăng) và “cầm” (đàn) hoà quyện, thể hiện nỗi xót xa, nuối tiếc thời gian và tình yêu.
– Vận dụng âm thanh miêu tả hình ảnh.
– Thủ pháp chuyển đổi cảm giác: Đây là đặc trưng nổi bật, nơi tiếng đàn (thính giác) được hình dung qua ánh trăng (thị giác) và hơi lạnh (xúc giác), tạo nên thế giới nghệ thuật siêu thực.
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây