Phần 1. Đọc hiểu (4,0 điểm)

(1 câu)
Câu 1
Tự luận

Đọc văn bản sau:

NỖI BUỒN RẤT LẠ
(Trích)

(Lược một đoạn: Ông Tư Đờ là giám đốc công ti xuất nhập khẩu giàu có, hào phóng và nổi tiếng. Ông có quen với ba của nhân vật "tôi" từ hồi kháng chiến nhưng mối quan hệ đã có phần phai nhạt theo thời gian.)

Vậy là ông Tư Đờ, giám đốc công ty xuất nhập khẩu bị bắt rồi. […] Vậy mà nghe tin này, ba tôi lặn lội từ xóm Xẻo lên gặp tôi. Ông lột dép xách tay từ ngoài chân thềm, tay kia cầm cái giỏ bàng chuối với rau, một con vịt trắng thò cổ ra thoi thóp. Ông ngó thấy mặt tôi đã hỏi:

− Thằng Tư Đờ sao mậy(1), tao nghe đài nói như búa bổ, nó bị bắt phải không?

Tôi bật cười:

− Ba làm gì mà dữ vậy, không kịp thở. Ổng bị bắt, ba à.

− Mày nói làm sao chớ, thằng Tư Đờ đâu có tệ hệ vậy, tao biết nó mấy chục năm trời… [...]

− Uống nước đi ba. Chuyện hồi xưa khác, bây giờ khác. Biết bao nhiêu năm rồi, ba quen ổng từ hồi nào? Sao ít nhắc quá vậy?

− Hồi chiến tranh. Hồi đó, cỡ tuổi mày bây giờ, nó là một tay du kích nổi tiếng lì. [...] Biết bao nhiêu lần tụi giặc càn vô vùng căn cứ xóm Xẻo, tụi tao đánh giạt hết. Tao nè, Tư Đấu nè, bác Mười Mực của mày nè... Bây giờ đứa còn, đứa chết. Nếu thiệt vậy thì thằng Tư Đờ coi vậy như là chết rồi, nhưng mà chết kiểu đó, tao không đang tâm.

− Làm kinh tế mà ba, đâu liên quan gì tới chuyện đánh giặc. Sẩy chân là chuyện thường.

Ba tôi xửng vửng(2):

− Bộ có nhiều đứa giống như nó lắm sao?

− Nhiều, lớn thuyền thì lớn sóng.

Ba tôi ngồi thẫn thờ. Con vịt trong giỏ để góc nhà thò đầu kêu cạc cạc. Lâu lắm ông mới lên tiếng:

− Hồi xưa, nó là thằng tốt nhứt(3), lâu rày(4) không gặp, ngờ đâu nó ra nông nỗi này...

− Không biết thế nào, công ty ông ta thâm hụt mấy tỉ đồng mà ổng thì ngày một giàu. Chìm xuồng mà không hay. Cuối cùng thì kết cuộc như vậy thôi, làm lớn mà.

Ba tôi nhướng đôi chân mày đã nhuốm bạc lên, cự:

− Bây nói vậy, chứ làm lớn ai cũng hư hết sao? Tao coi ti vi, coi tụi bây viết, hễ làm giám đốc là phải có bồ, phải tham lam tiền bạc, phải ăn chơi. Tao hổng(5) chịu. Má mày sanh(6) mày ra, tao cũng muốn mày làm ông lớn, ông này ông nọ. Nói kiểu mày, tao mơ ước vậy làm chi. Nhớ thằng Tư Đờ hồi đó dám cho đồ vợ rồi mà còn chưa dám nắm tay con gái người ta...

− Có tiền, giàu có, có quyền lực thì dễ hư hơn mà ba.

Ba bất giác nhìn tôi trân trân:

− Con đã gặp nhiều người như vậy lắm hả con?

[...] Tối nay lại khác, trông ông buồn rũ. Nói qua nói lại một hồi quay về ngay ông Tư Đờ.

− Tao nhớ coi, hồi Tết năm nào nè, Tư Đờ về nhà mình.

− Vậy sao ba?

− Ừ, nó nói cha sống như vầy mà khoẻ hơn tui. Chưa bao giờ tui sống được một ngày yên bình. Giặc bây giờ tứ phía. Tụi nó giết mình ngọt ngào mà mình không hay. Bây giờ tụi nó bắn bằng đạn đường không hà. Ngấm đạn rồi mới hay. Đau lắm. Cực lắm.

[...] Chợt ba tôi trầm ngâm:

− Coi chừng sống trong cuộc sống toàn máy lạnh làm cho máu người ta lạnh đi. Còn mày, mày lạnh được bao nhiêu phần rồi? Nói chuyện tao nghe được không... [...]

Tôi đưa ba ra bến đò về quê. Ông nhằn: "Đi chuyến này cốt là hỏi coi chuyện thằng Tư Đờ ra làm sao, về dưới bà con có hỏi thì cũng biết đường nói, mà cũng không đâu vô đâu hết, tốn công…". Tôi cười, vỗ vỗ lưng ông an ủi: "Thì ba biết rồi còn cái gì, báo nói, đài nói, người ta đồn đãi, không trúng mười thì trúng một, hai". Ông gạt ngang: "Nhưng tao muốn nghe thằng Tư nó nói, nói thẳng thắn, thật thà, nó phải nói với tao sao mà tới nông nỗi như vậy, nó phải trả lời bà con xóm Xẻo, chỗ bà con cưu mang nó mười mấy năm trời. Làm lớn, cũng khổ tâm lắm…". Câu cuối cùng ông buông xuống, nhẹ như một tiếng thở dài. [...]

(Nguyễn Ngọc Tư, Ngọn đèn không tắt,
NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2019, tr. 25 − 31)

* Chú thích:

(1)mậy (phương ngữ): mày.

(2)xửng vửng (phương ngữ): chỉ trạng thái choáng váng vì một tác động mạnh mẽ, bất ngờ.

(3)nhứt (phương ngữ): nhất.

(4)rày (phương ngữ): nay.

(5)hổng (phương ngữ): không.

(6)sanh (phương ngữ): sinh.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định dấu hiệu hình thức cho biết ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Theo văn bản, ông Tư Đờ hiện đang rơi vào hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: "Thằng Tư Đờ sao mậy, tao nghe đài nói như búa bổ, nó bị bắt phải không?".

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích sự khác biệt trong cách nhìn nhận về ông Tư Đờ của người ba với nhân vật "tôi".

Câu 5 (1,0 điểm). Theo anh/chị, có nên dựa vào những ấn tượng trong quá khứ để đánh giá giá trị của một con người ở hiện tại không? Vì sao? (Trình bày ngắn gọn trong 5 − 7 dòng)


Phần 2. Viết (6,0 điểm)

(2 câu)
Câu 2
Tự luận

Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người ba trong văn bản ở phần Đọc hiểu.


Câu 3
Tự luận

Từ nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về ý nghĩa của việc xây dựng các mối quan hệ chân thành trong cuộc sống nhiều biến động hiện nay.