Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Ngàn sao làm việc SVIP
Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)
− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
− Quá trình hoạt động:
+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.
+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.
+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.
+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.
+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).
− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật
+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.
+ Thể loại đa dạng:
++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.
++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thủy Tinh, Những chiếc áo ấm).
++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).
− Phong cách sáng tác:
+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.
+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.
+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.
− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:
+ Các tác phẩm chính:
++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...
++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...
+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.
Đối tượng sáng tác chính và xuyên suốt trong cả đời cầm bút của Võ Quảng là ai?
Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)
− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
− Quá trình hoạt động:
+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.
+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.
+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.
+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.
+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).
− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật
+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.
+ Thể loại đa dạng:
++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.
++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thủy Tinh, Những chiếc áo ấm).
++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).
− Phong cách sáng tác:
+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.
+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.
+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.
− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:
+ Các tác phẩm chính:
++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...
++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...
+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.
Ngoài sáng tác thơ và truyện ngắn, Võ Quảng còn tham gia vào lĩnh vực nghệ thuật nào?
Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)
− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
− Quá trình hoạt động:
+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.
+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.
+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.
+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.
+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).
− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật
+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.
+ Thể loại đa dạng:
++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.
++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thủy Tinh, Những chiếc áo ấm).
++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).
− Phong cách sáng tác:
+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.
+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.
+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.
− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:
+ Các tác phẩm chính:
++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...
++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...
+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.
Nhận định nào sau đây là đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ viết cho thiếu nhi của Võ Quảng?
Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)
− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
− Quá trình hoạt động:
+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.
+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.
+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.
+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.
+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).
− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật
+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.
+ Thể loại đa dạng:
++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.
++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thủy Tinh, Những chiếc áo ấm).
++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).
− Phong cách sáng tác:
+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.
+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.
+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.
− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:
+ Các tác phẩm chính:
++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...
++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...
+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.
Tác phẩm nào dưới đây là một tập thơ nổi tiếng của nhà thơ Võ Quảng?
Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)
− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
− Quá trình hoạt động:
+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.
+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.
+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.
+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.
+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).
− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật
+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.
+ Thể loại đa dạng:
++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.
++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thủy Tinh, Những chiếc áo ấm).
++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).
− Phong cách sáng tác:
+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.
+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.
+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.
− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:
+ Các tác phẩm chính:
++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...
++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...
+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.
Giọng điệu chủ đạo trong các tác phẩm thơ thiếu nhi của Võ Quảng là gì?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Bài thơ "Ngàn sao làm việc" được viết theo thể thơ
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Nhân vật trữ tình trong bài thơ "Ngàn sao làm việc" là ai?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Trong hai khổ thơ đầu, thời gian cảnh vật được miêu tả là vào lúc nào?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Dải Ngân Hà trên bầu trời đêm được tác giả miêu tả với trạng thái nào?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Trong bài thơ, sao Thần Nông được so sánh với hình ảnh lao động nào?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau:
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Nhóm Đại Hùng tinh đang làm công việc gì bên sông Ngân?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Tâm trạng của nhân vật "tôi" trong hai khổ thơ đầu được thể hiện như thế nào?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Nét chung độc đáo ở tất cả các hình ảnh so sánh được sử dụng trong bài thơ là gì?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Điền từ thích hợp vào chỗ trống.
Hình ảnh "chiếc quạt hồng" ở khổ thơ cuối là một hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp báo hiệu thời điểm đến, kết thúc ca làm việc đêm của ngàn sao. Tác giả đã sử dụng biện pháp độc đáo để ví ánh hồng rực rỡ của buổi sớm mai như một làn gió mát lành xua tan đêm tối. Qua đó, bức tranh thiên nhiên không chỉ mang vẻ đẹp mà còn ngập tràn sức sống và niềm vui. Chi tiết này khép lại bài thơ một cách trọn vẹn, tôn vinh giá trị của tinh thần hăng hái.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật chính nào khi miêu tả "Thần Nông", "sao Hôm", "Đại Hùng tinh"?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Chi tiết "những sao dọc ngang" được so sánh với "tôm cua bơi lội" gợi lên khung cảnh như thế nào?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Nếu cần vẽ một bức tranh minh hoạ cho đoạn thơ tả sao Thần Nông và dải Ngân Hà, em nên chọn những gam màu và hình ảnh chủ đạo nào sau đây?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Hình ảnh "Trâu tôi đi đủng đỉnh/ Như bước giữa ngàn sao" thể hiện mối quan hệ gì giữa con người và thiên nhiên?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Từ láy "đủng đỉnh" trong câu thơ "Trâu tôi đi đủng đỉnh" có vai trò gợi tả điều gì?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Nhận xét nào sau đây phản ánh đúng nhất nét nghệ thuật đặc sắc về ngôn ngữ của bài thơ?
NGÀN SAO LÀM VIỆC
Võ Quảng
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc vó bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.
Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.
Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...
Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)
Điền từ thích hợp vào chỗ trống.
Bài thơ "Ngàn sao làm việc" của Võ Quảng là một bức tranh thiên nhiên rực rỡ, tràn đầy sức sống và đậm đà sắc màu Việt Nam. Bằng thể thơ nhịp nhàng cùng trí tưởng tượng bay bổng, nhà thơ đã biến bầu trời đêm bao la thành một không gian lao động , nơi các hiện lên qua những hình ảnh so sánh độc đáo gắn liền với dụng cụ . Bức tranh ấy phản chiếu tâm hồn hồn nhiên của chú bé chăn trâu, đồng thời gửi gắm bài học sâu sắc về niềm vui của sự cống hiến. Qua đó, tác phẩm tiếp tục khẳng định phong cách thơ thiếu nhi đặc trưng của Võ Quảng: , ngộ nghĩnh và giàu chất tạo hình.
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây