Luyện tập

Câu 1
1đ

Tác giả Nguyễn Nam sinh năm nào?

1960.
1962.
1961.
1964.
Câu 2
1đ

Tác giả Nguyễn Nam không nghiên cứu về lĩnh vực nào sau đây?

Điện ảnh Đông Á.
Tư tưởng Đông Á.
Mĩ học Đông Á.
Văn chương Đông Á.
Câu 3
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục thuộc thể loại nào?

Văn bản chính luận.
Văn bản nhật dụng.
Văn bản thông tin.
Văn bản nghệ thuật.
Câu 4
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục có xuất xứ từ đâu?

Trong bộ sách Phiên dịch học lịch sử – văn hóa.
Bài đăng trên báo Vietnamnet.
Bài giảng tại trường Phổ thông liên cấp Olympia.
Bài giảng tại Đại học Fullbright.
Câu 5
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Việc kết hợp các phương thức biểu đạt trong tác phẩm có tác dụng gì?

Cung cấp thông tin khách quan.
Phô diễn kĩ thuật viết văn.
Cho thấy bài viết được tạo ra một cách linh hoạt, phong phú.
Thể hiện quan điểm người viết.
Thể hiện độ thông thái của người viết.
Câu 6
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Giáo dục khai phóng là gì?

Nhấn mạnh vào sự phát triển toàn diện của con người.
Đào tạo và rèn luyện sâu về tư duy và đạo đức.
Kích thích người học có sự sáng tạo và phát triển tài năng cá nhân.
Giúp con người tập trung phát triển trí tuệ.
Câu 7
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Đông Kinh Nghĩa Thục là gì?

Tên một quảng trường.
Là dấu mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về giáo dục và xã hội.
Tên một phong trào của thời đại.
Là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục.
Câu 8
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Tại sao Đông Kinh Nghĩa Thục lại được coi là một mô hình giáo dục khai phóng?

Khơi gợi tư duy phản biện, con người có quyền phản đối mọi ý kiến khác biệt.
Từ bỏ lối học từ chương, cho phép người học tự do học thuật, hướng tới thực học.
Giúp con người hướng tới tương lai tân tiến, tươi đẹp.
Khuyến khích con người tiếp tục lối học truyền thống từ trước đó để nắm chắc kiến thức.
Câu 9
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Nhan đề văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục có ý nghĩa gì?

Cung cấp những thông tin liên quan tới văn bản.
Thể hiện toàn bộ nội dung chính của tác phẩm.
Khiến người đọc yêu lịch sử phải chú ý.
Đưa ra quan điểm khái quát của tác giả.
Câu 10
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục diễn ra vào khoảng thời gian nào?

Giữa đến cuối thế kỉ XX.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
Giữa đến cuối thế kỉ XIX.
Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX.
Câu 11
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Ý nào sau đây là nhận định quan trọng của tác giả về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục?

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam.
Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.
Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
Câu 12
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Ý nào sau đây không phải điểm nhấn của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục?

Kết nối đào tạo con người cởi mở với khoa học nước ngoài nhưng vẫn hướng đến độc lập.
Dạy con người phương Đông theo những tư duy phương Tây để hòa nhập hơn với thế giới.
Giáo dục tiến bộ về khoa học.
Được tiến hành từ dưới lên - từ trong dân chúng.
Câu 13
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Mục đích của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục là gì?

Truyền bá tư tưởng tiến bộ của nước ngoài.
Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Đưa Việt Nam ngang tầm với các quốc gia khác.
Cổ vũ con người tập trung vào nghiên cứu.
Câu 14
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Sắp xếp các ý sau theo đúng trình tự các thông tin được đưa ra trong văn bản.

  • Đặc điểm.
  • Mục đích.
  • Bối cảnh.
  • Đánh giá.
Câu 15
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Dữ liệu thứ cấp trong văn bản có tác dụng gì?

Cho người đọc hình dung rõ hơn về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã tồn tại ở nước ta.
Làm văn bản trở nên hấp dẫn hơn với những dữ liệu xác thực.
Làm nổi bật tính chất dân chủ, tinh thần yêu nước ẩn chứa trong các hoạt động, phong trào.
Cho thấy tài năng của những người tạo ra phong trào.
Câu 16
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Việc sử dụng hai dữ liệu về Nguyễn Quyền và tác phẩm Văn minh tân học sách có ý nghĩa gì?

Cho thấy tinh thần khai phóng hiện đại của Đông Kinh Nghĩa Thục toát lên từ mọi phương diện.
Cho thấy ảnh hưởng của Văn minh tân học sách đến nền cổ học ở Việt Nam.
Tôn vinh tài năng của Nguyễn Quyền và người sáng tạo ra tác phẩm Văn minh tân học sách.
Thể hiện đánh giá của lịch sử đối với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
Câu 17
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Hình ảnh căn nhà riêng của cụ Lương Văn Can đã giúp người đọc thấy được điều gì?

Sự phổ biến của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
Làm cho văn bản bắt mắt người đọc hơn.
Sự gắn bó giữa cụ Lương Văn Can với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
Sự giàu có của cụ Lương Văn Can ở thời đại bấy giờ.
Câu 18
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Các phương tiện phi ngôn ngữ có vai trò gì?

Làm cho văn bản trở nên bắt mắt hơn.
Diễn đạt một cách sâu sắc hơn so với phương tiện ngôn ngữ.
Minh họa cho các thông tin được biểu đạt bằng các phương tiện ngôn ngữ.
Cung cấp thông tin quan trọng mà các phương tiện ngôn ngữ không thể biểu đạt.
Câu 19
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Điền từ phù hợp vào chỗ trống.

Văn bản cung cấp thông tin về phong trào : Bối cảnh ra đời, tính chất , ưu và nhược điểm. Từ đó cho thấy của phong trào đến văn hóa, xã hội, chính trị Việt Nam thời bấy giờ và đề cao vai trò của nền đối với con người.

Câu 20
1đ

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Nguyễn Nam

Thành lập năm 1907 ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp của những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm là cung cấp một nền tảng tri thức rộng mở, giúp người học phát triển tư duy phản biện, kĩ năng lập luận, phân tích và biểu đạt các ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng. Những nền tảng tri thức và kĩ năng này sẽ chuẩn bị cho người học năng lực xử lí các vấn đề phức tạp của thế giới và ứng phó với những thay đổi không thể lường trước trong tương lai.

OLM, Ngữ văn 12, Nhà riêng của cụ Lương Văn Can

Từ phải qua trái: Căn nhà số 4 (nhà riêng của cụ Lương Văn Can) và căn nhà số 10 (màu trắng, có ba cửa vòm) ở phố Hàng Đào, Hà Nội, từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: henri Gourdon, L'Indochin, Paris: Larousse, 1931, tr.131.

Nền tảng thực hành của một truyền thống giáo dục như thế có lịch sử lâu đời không chỉ ở các nước phương Tây mà còn ở các nước phương Đông như Ấn Độ, Trung Hoa, hay Ai Cập.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục (thường được dịch sang tiếng Anh là "The Tonkin Free School") ra đời trong bối cảnh thuộc địa đánh dấu một bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng Việt Nam. Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thời đại, đặc biệt là vấn đề canh tân đất nước về mọi mặt để mưu cầu tiến bộ, bình đẳng, hợp tác và độc lập dân tộc.

Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục trong vòng khoảng mười tháng tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này đối với truyền thống giáo dục Việt Nam nói riêng, và đối với sự phát triển theo định hướng mới của xã hội Việt Nam nói chung.

Bối cảnh lịch sử

Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã có tác động mạnh mẽ đến một nước Việt Nam bị phân cắt thành ba kì (Bắc, Trung, Nam), nằm trong vòng kiểm soát của những hệ thống chính trị bảo hộ - thuộc địa của Pháp. Thất bại của Mậu Tuất Duy tân ở Trung Hoa năm 1898 đã dẫn đến sự lưu vong của Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 - 1929) ở Nhật, và đó cũng chính là một trong những khởi điểm quan trọng cho việc tiếp xúc và truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây (đã được dịch khá nhiều ở Nhật) vào thế giới Đông Á (bao gồm Việt Nam) qua hình thức "tân thư".

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật - Nga (1905) cùng với những thành tựu cải cách chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội của nước này trong giai đoạn Minh Trị Duy tân (1868 - 1889) đã khiến các nước Đông Á phải nhận thức lại tiềm lực cách mạng, cải cách của chính mình để đối đầu với hiểm họa thôn tính từ phương Tây.

Dân trí, dân khí và dân sinh nổi lên như những yếu tố cốt tủy, then chốt mở lối cho dân tộc tự cường và hiện đại, cần được đặc biệt quan tâm và triển khai từ nền tảng giáo dục. Mô hình giáo dục Nhật Bản, đặc biệt là Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) được Phan Bội Châu (1867 - 1940) và Phan Châu Trinh (1872 - 1926) cùng thăm thú, quan sát năm 1906, đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can (1854 - 1927) làm hiệu trưởng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) năm 1907.

Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng mười tháng, từ tháng Ba dương lịch năm 1907 cho đến khi bị chính quyền thuộc địa đóng cửa vào đầu năm 1908 (tháng Chạp năm Đinh Mùi âm lịch), Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam, được tiến hành không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bắt nguồn trong dân chúng, do nhân sĩ đề xướng, theo định hướng độc lập dân tộc, khát vọng yêu nước, mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ nhằm phá bỏ những kìm hãm, trì trệ của xã hội thuộc địa và quân chủ Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Hẳn là nguyên nhân chính khiến chính quyền thực dân Pháp quyết định đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục không phải chỉ vì những nội dung giáo dục tiến bộ về khoa học phổ thông của nhà trường, mà quan trọng hơn là vì nguy cơ nối kết giữa việc đào tạo con người có tư duy khoa học, cởi mở - phản biện, nặng lòng ái quốc, có ý thức học hỏi - tiếp nhận từ năm châu, bốn bể nhưng luôn hướng đến độc lập quốc gia với những cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn đang tồn tại, luôn chờ dịp bùng phát trong cả nước.

Có một khoảng cách đáng kể giữa thời gian hiện hữu của Đông Kinh Nghĩa Thục và thời gian ra đời của những khảo cứu về ngôi trường lịch sử này. Phải đến gần ba mươi năm sau khi bị đình chỉ, những tập chuyên luận đầu tiên về nhà trường mới được biên soạn, nhưng số phận của chúng cũng thật truân chuyên.

Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (1900 - 1951) do nhà in Mai Lĩnh xuất bản số lượng lớn (10 000 bản vào tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội), vừa đến với người đọc vài tháng đã bị cấm cùng với một khảo cứu khác của ông có tên Đời cách mệnh Phan Bội Châu, không ai được "giới thiệu, lưu hành, bày bán, phân phối" trên toàn cõi An Nam từ ngày 17 tháng 3 năm 1938. Cũng từ năm 1936, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) đã có ý thức thu thập thông tin và trình bày rải rác về Đông Kinh Nghĩa Thục trên các tuần báo Thế giới (Sài Gòn) và Tân Việt Nam (Hà Nội). Đến năm 1945, khi tài liệu đã khá dày dặn, ông soạn thành sách Đông Kinh Nghĩa Thục, kí bút danh Mai Lâm, nhưng do chiến tranh tao loạn, bản thảo bị lạc mất khỏi tay người soạn.

OLM, Ngữ văn 12, Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục

Bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất do nhà Mai Lĩnh xuất bản năm 1937 với ảnh chân dung của Giám học Nguyễn Quyền

OLM, Ngữ văn 12, Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Đội Châu

Quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu được ban hành ngày 17 tháng 3 năm 1938 in trong Bulletin administratif de I'Annam, 15/02/1938 - 09/08/1938

Nguồn: Gallica, Thư viện Quốc gai Pháp

Sau đó hơn chục năm, Hoa Bằng mới có thể hoàn thành một bản thảo khác về ngôi trường lịch sử này, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được chính thức ấn hành. Trong một thời gian dài, tên gọi "Đông Kinh Nghĩa Thục" đã là một từ cấm kị, trở thành nỗi ám ảnh của chính quyền thực dân bắt đầu từ năm 1908 khi nó bị chính quyền thuộc địa dán cho cái nhãn "hội kín" (société sécrète) và gắn nó với những hoạt động cách mạng bạo động như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà thành năm ấy.

Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục

Nếu những điều sâu sắc nhất là những gì đọng lại trong kí ức sau một hành trình dài của thời gian, thì những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ được về Đông Kinh Nghĩa Thục sau gần ba mươi năm nhà trường bị rút giấy phép, những người sáng lập bị bắt bớ, tù đày tất yếu phải là những thành tựu đáng tự hào nhất của nhà trường. Ông tóm tắt mục đích - tôn chỉ giáo hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục trong sáu điểm như sau:

Giảng dạy bằng ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt: Với cấp phổ thông thì chú trọng giảng dạy quốc văn, thay thế hoàn toàn giáo dục Hán văn bằng quốc ngữ "để diễn dịch những thường thức và tư tưởng mới".

Trường chia làm ba cấp: Tiểu, Trung và Đại học. Chữ Pháp và chữ Hán được giảng dạy các bậc Trung và Đại học. Trường thu nhận cả nam sinh và nữ sinh ở bậc Tiểu học; có cả giáo viên nữ giảng dạy. Tất cả các lớp đều chỉ cốt "học để làm người dân, chớ không học lối từ chương khoa cử".

Nhà trường dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút, "muốn cho ai cũng có thể tới và học được".

Trường dạy "những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sanh, tự tồn".

Được phép của nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục mỗi tuần được tổ chức diễn thuyết công khai một lần về các vấn đề giáo dục, khoa học; các buổi diễn thuyết ban đầu chỉ ở Hà Nội nhưng sau còn phái cả người đi diễn thuyết ở các nơi khác.

Đông Kinh Nghĩa Thục được tổ chức với mục đích thực nghiệm để sẵn sàng mở rộng ra khắp ba kì.

Tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904) có thể xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Theo đó, có thể thấy trường khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học của người học, khuyến cáo xã hội nên học theo mẫu hình châu Âu mà "hạ lệnh cho khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ.". Quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học, "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết [...] để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Tất nhiên, những nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục trong khoảng gần mười tháng ngắn ngủi thời đó tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một mốc lịch sử giáo dục quan trọng.

Tinh thần khai phóng đó cho phép người học trải nghiệm tự do học thuật, hướng họ vào đường thực học, cho phép họ kiểm nghiệm những điều đã học được trong thực tế, tập cách suy nghĩ cởi mở, với tinh thần phản biện mà không phải kiêng dè chi cả.

Cùng với quốc văn, Hán văn và Pháp văn là những ngôn ngữ - văn tự cho phép người học mở rộng và hòa nhập hiệu quả với thế giới hiện đại mà không bị cắt đứt khỏi căn rễ văn hóa của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng của giáo dục Việt Nam trong khung cảnh thuộc địa của đất nước và trong bối cảnh biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỉ XX như thế đó.

(Theo Nguyễn Nam, báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022)

Nghệ thuật nổi bật của văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục là gì?

Kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt.
Sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ.
Ngôn ngữ trầm lắng, giàu tính triết lý và suy tư.
Người kể chuyện ngôi thứ nhất tạo sự chân thực.