Phần 1

(10 câu)
Câu 1
Tự luận

Tựa "Gió đầu mùa"

Khái Hưng

Viết truyện ngắn nào có khó gì đâu! Một sự xảy ra ở ngoài phố làm rung động trái tim ta, một câu chuyện thuật trong phòng khách làm nở một nụ cười khoái trá trên môi ta, một khu rừng âm u lạnh lẽo, một xóm nhà tranh rải rác dưới ven đồi, một cái quán bán nước, một cái xe với anh phu kéo,… hay không cái gì cả, sự trống rỗng một phút, một giây của tâm hồn. Những cảnh tượng ấy dù trọng dù khinh đều là đầu đề câu chuyện, đều kích thích trí nghĩ ta mà ngấm ngầm tự cấu tạo nên một truyện ngắn. Ta chỉ việc viết lên giấy những điều trông thấy, nghe thấy và những ý tưởng nẩy ra trong thâm tâm ta. Có thế thôi. Cái khó – nếu quả có cái khó – chỉ ở chỗ phải biết có thế thôi.

Đó là quan niệm về truyện ngắn của Thạch Lam, tác giả tập truyện Gió đầu mùa.

Một gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con đầu lòng mới ra đời, một dãy phố chợ tồi tàn với bọn ngụ cư nghèo đói, cái vui sướng của một người thất nghiệp về làng sống với dân quê, sự đùa bỡn oái oăm của duyên số, cái kết quả tai hại của một cơn giận, sức áp bức quyết liệt của sự đói, cái chết đau đớn của người bạn trẻ nghèo. Toàn những chuyện giản dị cả. Muốn tả những sự xảy ra hằng ngày ấy, tác giả không cần đến những tình tiết ngoắt ngoéo, tối tăm, nhiều khi rất trẻ con mà ta thấy nhan nhản trong những truyện kiểu cách, loè loẹt của những nhà văn thiếu thành thực.

Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn. Ở Thạch Lam, sự thành thực lại trở nên sự can đảm. Đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành thực (nhất trong truyện Những ngày mới). Tôi xin thú thực rằng những điều xét nhận gay go về mình và những người sống chung quanh mình, tôi cũng thường có, song vị tất đã dám viết ra. Nhưng sao lại thế nhỉ? Đáng lẽ bọn nhà văn chúng ta ai ai cũng phải can đảm hơn người thường. Đáng lẽ ta phải mạnh bạo viết nên điều mà mọi người, mà ta, nhất là ta, giấu kĩ ở tận đáy linh hồn, những nỗi băn khoăn, những nỗi vui mừng, lo sợ, tức tối, thèm muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim ta. Tôi vẫn ước ao có cái can đảm ấy, nhưng không sao có được, cái can đảm mà tôi thấy ở Tôn-xtôi (Tolstoy), mà trong đám văn sĩ mới nước ta tôi thấy ở Thạch Lam.

Lòng ta là một thế giới mênh mông. Nếu ta để trí suy xét của ta len vào các ngách các nơi kín tối, chăm chỉ tìm tòi, ta sẽ thấy nhiều sự mới lạ. Tưởng sống tới trăm tuổi ta cũng không biết thực rõ được lòng ta.

Phái tả chân thường khoe khoang chỉ suy xét theo phương diện khách quan. Nhưng chỉ theo phương diện khách quan liệu có được không? Tả một người giận dữ mà chỉ tả những hiện trạng của sự giận dữ thì bức tranh của ta không thể đầy đủ được. Muốn nó đầy đủ, ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi kí ức ta xem khi ta tức giận thì ý nghĩ và tính tình ta ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một cơn giận.

Người chủ động trong truyện Một cơn giận của Thạch Lam có thể chỉ là Thạch Lam. Ông tự vẽ ông. Nhưng cũng có thể là bức tranh tả chân hết thảy ai ai trong một cơn giận vô lí giữa lúc ta thấy “lòng ta chán nản và buồn bực, những ngày mà tự nhiên không hiểu sao, ta thấy khó chịu và hay gắt gỏng”.

Có lẽ vì không bao giờ rời bỏ phương diện chủ quan nên Thạch Lam dễ làm ta rung động: trước ta, chính ông đã rung động. Tả cái lạnh đầu mùa, ông nhớ ngay tới cảm giác mà ông có “một đêm mưa rào rồi trời bỗng đổi ra gió bấc” (Gió lạnh đầu mùa). Ông tả cái ngõ hẻm ở một xóm quê bằng cảm giác của ông khi ông đi qua nơi đó: “một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai. Tâm ngửng đầu lên nhìn: chàng vừa đi vào dưới vòm tre xanh trong ngõ.” (Trở về). Cả đến một buổi gặt, ông cũng tả bằng cảm giác của ông: “Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu” (Những ngày mới).

Nếu ta có thể chia ra làm hai dạng nhà văn: nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. Ở chỗ mà người khác dùng tư tưởng, dùng lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói một cách rất giản dị cái cảm giác của ông. Cái cảm giác ấy bao quát hết tư tưởng của tác giả và của độc giả, nhiều khi đi xa hơn, sâu hơn tư tưởng vì có cái ta cảm thấy mà không thể dùng tư tưởng để mô tả, giải phẫu cái cảm giác của ta ra được, dù là một cái cảm giác nhẹ nhàng, “cái rung động khẽ như cánh bướm non” của người cha đứng ngắm đứa con đầu lòng nằm ngủ.

Chính tác giả cũng bảo cho ta biết rằng “cái rung động khẽ như cánh bướm non” ấy là một “tình cảm sâu xa”.

Thực vậy, những cảm giác đạm mạc như thế mà ta thấy khắp trong truyện của Thạch Lam đều giấu một tình cảm sâu xa. Tác giả, mà ta tưởng rất điềm tĩnh, kì thực là một người có những tính tình mãnh liệt. Đứng trước sự khốn cùng của bác Lê, tác giả chỉ thủ thỉ nói: “giá cứ có người mướn làm thì cũng không đến nỗi”. Nhưng trong cái thủ thỉ ấy ta cảm thấy lòng tức giận sôi lên đến cực điểm. Sau năm, sáu năm xa cách, người con mới giàu có về thăm mẹ già nghèo ở nhà quê, khi hắn ta từ giã bà cụ ra đi, tác giả thản nhiên lạnh lùng viết: “Ra đến ngoài, Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận”. Nhưng sự thản nhiên, sự lạnh lùng ấy giấu một tính tình khinh bỉ, một cảm tưởng chua chát không biết đến chừng nào.

Những kẻ giàu có huênh hoang trong bọn trưởng giả như người con trong truyện Trở về, Thạch Lam rất ghét, cũng như ông rất yêu, rất thương bọn nghèo đói, bọn bác Lê, anh Sinh, cu Dư,… Ông đem hết tâm hồn ra để ghét, tuy ông chỉ lãnh đạm nói đến họ. Lòng ghét âm thầm và dữ dội của ông có khi làm cho ông thiên lệch. Một lần nghe tôi đọc đến tên một người bạn mới giàu sang, ông chau mày nói: “Ồ! Tôi ghét hắn ta lạ”. Tôi chưa kịp hỏi vì lẽ gì thì ông đã tiếp luôn: “Trông cái má hắn ta phinh phính, cái bụng hắn xề xệ!”.

Rồi ta sẽ thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam rất nhiều nhân vật có cặp má phính và cái bụng xệ.

3/12/1937

(Khái Hưng, Tựa, in trong Thạch Lam, Gió đầu mùa, Sđd, tr. 11 – 15)

Bài làm:
Câu 2
Tự luận

Tựa "Gió đầu mùa"

Khái Hưng

Viết truyện ngắn nào có khó gì đâu! Một sự xảy ra ở ngoài phố làm rung động trái tim ta, một câu chuyện thuật trong phòng khách làm nở một nụ cười khoái trá trên môi ta, một khu rừng âm u lạnh lẽo, một xóm nhà tranh rải rác dưới ven đồi, một cái quán bán nước, một cái xe với anh phu kéo,… hay không cái gì cả, sự trống rỗng một phút, một giây của tâm hồn. Những cảnh tượng ấy dù trọng dù khinh đều là đầu đề câu chuyện, đều kích thích trí nghĩ ta mà ngấm ngầm tự cấu tạo nên một truyện ngắn. Ta chỉ việc viết lên giấy những điều trông thấy, nghe thấy và những ý tưởng nẩy ra trong thâm tâm ta. Có thế thôi. Cái khó – nếu quả có cái khó – chỉ ở chỗ phải biết có thế thôi.

Đó là quan niệm về truyện ngắn của Thạch Lam, tác giả tập truyện Gió đầu mùa.

Một gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con đầu lòng mới ra đời, một dãy phố chợ tồi tàn với bọn ngụ cư nghèo đói, cái vui sướng của một người thất nghiệp về làng sống với dân quê, sự đùa bỡn oái oăm của duyên số, cái kết quả tai hại của một cơn giận, sức áp bức quyết liệt của sự đói, cái chết đau đớn của người bạn trẻ nghèo. Toàn những chuyện giản dị cả. Muốn tả những sự xảy ra hằng ngày ấy, tác giả không cần đến những tình tiết ngoắt ngoéo, tối tăm, nhiều khi rất trẻ con mà ta thấy nhan nhản trong những truyện kiểu cách, loè loẹt của những nhà văn thiếu thành thực.

Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn. Ở Thạch Lam, sự thành thực lại trở nên sự can đảm. Đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành thực (nhất trong truyện Những ngày mới). Tôi xin thú thực rằng những điều xét nhận gay go về mình và những người sống chung quanh mình, tôi cũng thường có, song vị tất đã dám viết ra. Nhưng sao lại thế nhỉ? Đáng lẽ bọn nhà văn chúng ta ai ai cũng phải can đảm hơn người thường. Đáng lẽ ta phải mạnh bạo viết nên điều mà mọi người, mà ta, nhất là ta, giấu kĩ ở tận đáy linh hồn, những nỗi băn khoăn, những nỗi vui mừng, lo sợ, tức tối, thèm muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim ta. Tôi vẫn ước ao có cái can đảm ấy, nhưng không sao có được, cái can đảm mà tôi thấy ở Tôn-xtôi (Tolstoy), mà trong đám văn sĩ mới nước ta tôi thấy ở Thạch Lam.

Lòng ta là một thế giới mênh mông. Nếu ta để trí suy xét của ta len vào các ngách các nơi kín tối, chăm chỉ tìm tòi, ta sẽ thấy nhiều sự mới lạ. Tưởng sống tới trăm tuổi ta cũng không biết thực rõ được lòng ta.

Phái tả chân thường khoe khoang chỉ suy xét theo phương diện khách quan. Nhưng chỉ theo phương diện khách quan liệu có được không? Tả một người giận dữ mà chỉ tả những hiện trạng của sự giận dữ thì bức tranh của ta không thể đầy đủ được. Muốn nó đầy đủ, ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi kí ức ta xem khi ta tức giận thì ý nghĩ và tính tình ta ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một cơn giận.

Người chủ động trong truyện Một cơn giận của Thạch Lam có thể chỉ là Thạch Lam. Ông tự vẽ ông. Nhưng cũng có thể là bức tranh tả chân hết thảy ai ai trong một cơn giận vô lí giữa lúc ta thấy “lòng ta chán nản và buồn bực, những ngày mà tự nhiên không hiểu sao, ta thấy khó chịu và hay gắt gỏng”.

Có lẽ vì không bao giờ rời bỏ phương diện chủ quan nên Thạch Lam dễ làm ta rung động: trước ta, chính ông đã rung động. Tả cái lạnh đầu mùa, ông nhớ ngay tới cảm giác mà ông có “một đêm mưa rào rồi trời bỗng đổi ra gió bấc” (Gió lạnh đầu mùa). Ông tả cái ngõ hẻm ở một xóm quê bằng cảm giác của ông khi ông đi qua nơi đó: “một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai. Tâm ngửng đầu lên nhìn: chàng vừa đi vào dưới vòm tre xanh trong ngõ.” (Trở về). Cả đến một buổi gặt, ông cũng tả bằng cảm giác của ông: “Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu” (Những ngày mới).

Nếu ta có thể chia ra làm hai dạng nhà văn: nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. Ở chỗ mà người khác dùng tư tưởng, dùng lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói một cách rất giản dị cái cảm giác của ông. Cái cảm giác ấy bao quát hết tư tưởng của tác giả và của độc giả, nhiều khi đi xa hơn, sâu hơn tư tưởng vì có cái ta cảm thấy mà không thể dùng tư tưởng để mô tả, giải phẫu cái cảm giác của ta ra được, dù là một cái cảm giác nhẹ nhàng, “cái rung động khẽ như cánh bướm non” của người cha đứng ngắm đứa con đầu lòng nằm ngủ.

Chính tác giả cũng bảo cho ta biết rằng “cái rung động khẽ như cánh bướm non” ấy là một “tình cảm sâu xa”.

Thực vậy, những cảm giác đạm mạc như thế mà ta thấy khắp trong truyện của Thạch Lam đều giấu một tình cảm sâu xa. Tác giả, mà ta tưởng rất điềm tĩnh, kì thực là một người có những tính tình mãnh liệt. Đứng trước sự khốn cùng của bác Lê, tác giả chỉ thủ thỉ nói: “giá cứ có người mướn làm thì cũng không đến nỗi”. Nhưng trong cái thủ thỉ ấy ta cảm thấy lòng tức giận sôi lên đến cực điểm. Sau năm, sáu năm xa cách, người con mới giàu có về thăm mẹ già nghèo ở nhà quê, khi hắn ta từ giã bà cụ ra đi, tác giả thản nhiên lạnh lùng viết: “Ra đến ngoài, Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận”. Nhưng sự thản nhiên, sự lạnh lùng ấy giấu một tính tình khinh bỉ, một cảm tưởng chua chát không biết đến chừng nào.

Những kẻ giàu có huênh hoang trong bọn trưởng giả như người con trong truyện Trở về, Thạch Lam rất ghét, cũng như ông rất yêu, rất thương bọn nghèo đói, bọn bác Lê, anh Sinh, cu Dư,… Ông đem hết tâm hồn ra để ghét, tuy ông chỉ lãnh đạm nói đến họ. Lòng ghét âm thầm và dữ dội của ông có khi làm cho ông thiên lệch. Một lần nghe tôi đọc đến tên một người bạn mới giàu sang, ông chau mày nói: “Ồ! Tôi ghét hắn ta lạ”. Tôi chưa kịp hỏi vì lẽ gì thì ông đã tiếp luôn: “Trông cái má hắn ta phinh phính, cái bụng hắn xề xệ!”.

Rồi ta sẽ thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam rất nhiều nhân vật có cặp má phính và cái bụng xệ.

3/12/1937

(Khái Hưng, Tựa, in trong Thạch Lam, Gió đầu mùa, Sđd, tr. 11 – 15)

Bài làm:
Câu 3
Tự luận

Tựa "Gió đầu mùa"

Khái Hưng

Viết truyện ngắn nào có khó gì đâu! Một sự xảy ra ở ngoài phố làm rung động trái tim ta, một câu chuyện thuật trong phòng khách làm nở một nụ cười khoái trá trên môi ta, một khu rừng âm u lạnh lẽo, một xóm nhà tranh rải rác dưới ven đồi, một cái quán bán nước, một cái xe với anh phu kéo,… hay không cái gì cả, sự trống rỗng một phút, một giây của tâm hồn. Những cảnh tượng ấy dù trọng dù khinh đều là đầu đề câu chuyện, đều kích thích trí nghĩ ta mà ngấm ngầm tự cấu tạo nên một truyện ngắn. Ta chỉ việc viết lên giấy những điều trông thấy, nghe thấy và những ý tưởng nẩy ra trong thâm tâm ta. Có thế thôi. Cái khó – nếu quả có cái khó – chỉ ở chỗ phải biết có thế thôi.

Đó là quan niệm về truyện ngắn của Thạch Lam, tác giả tập truyện Gió đầu mùa.

Một gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con đầu lòng mới ra đời, một dãy phố chợ tồi tàn với bọn ngụ cư nghèo đói, cái vui sướng của một người thất nghiệp về làng sống với dân quê, sự đùa bỡn oái oăm của duyên số, cái kết quả tai hại của một cơn giận, sức áp bức quyết liệt của sự đói, cái chết đau đớn của người bạn trẻ nghèo. Toàn những chuyện giản dị cả. Muốn tả những sự xảy ra hằng ngày ấy, tác giả không cần đến những tình tiết ngoắt ngoéo, tối tăm, nhiều khi rất trẻ con mà ta thấy nhan nhản trong những truyện kiểu cách, loè loẹt của những nhà văn thiếu thành thực.

Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn. Ở Thạch Lam, sự thành thực lại trở nên sự can đảm. Đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành thực (nhất trong truyện Những ngày mới). Tôi xin thú thực rằng những điều xét nhận gay go về mình và những người sống chung quanh mình, tôi cũng thường có, song vị tất đã dám viết ra. Nhưng sao lại thế nhỉ? Đáng lẽ bọn nhà văn chúng ta ai ai cũng phải can đảm hơn người thường. Đáng lẽ ta phải mạnh bạo viết nên điều mà mọi người, mà ta, nhất là ta, giấu kĩ ở tận đáy linh hồn, những nỗi băn khoăn, những nỗi vui mừng, lo sợ, tức tối, thèm muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim ta. Tôi vẫn ước ao có cái can đảm ấy, nhưng không sao có được, cái can đảm mà tôi thấy ở Tôn-xtôi (Tolstoy), mà trong đám văn sĩ mới nước ta tôi thấy ở Thạch Lam.

Lòng ta là một thế giới mênh mông. Nếu ta để trí suy xét của ta len vào các ngách các nơi kín tối, chăm chỉ tìm tòi, ta sẽ thấy nhiều sự mới lạ. Tưởng sống tới trăm tuổi ta cũng không biết thực rõ được lòng ta.

Phái tả chân thường khoe khoang chỉ suy xét theo phương diện khách quan. Nhưng chỉ theo phương diện khách quan liệu có được không? Tả một người giận dữ mà chỉ tả những hiện trạng của sự giận dữ thì bức tranh của ta không thể đầy đủ được. Muốn nó đầy đủ, ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi kí ức ta xem khi ta tức giận thì ý nghĩ và tính tình ta ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một cơn giận.

Người chủ động trong truyện Một cơn giận của Thạch Lam có thể chỉ là Thạch Lam. Ông tự vẽ ông. Nhưng cũng có thể là bức tranh tả chân hết thảy ai ai trong một cơn giận vô lí giữa lúc ta thấy “lòng ta chán nản và buồn bực, những ngày mà tự nhiên không hiểu sao, ta thấy khó chịu và hay gắt gỏng”.

Có lẽ vì không bao giờ rời bỏ phương diện chủ quan nên Thạch Lam dễ làm ta rung động: trước ta, chính ông đã rung động. Tả cái lạnh đầu mùa, ông nhớ ngay tới cảm giác mà ông có “một đêm mưa rào rồi trời bỗng đổi ra gió bấc” (Gió lạnh đầu mùa). Ông tả cái ngõ hẻm ở một xóm quê bằng cảm giác của ông khi ông đi qua nơi đó: “một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai. Tâm ngửng đầu lên nhìn: chàng vừa đi vào dưới vòm tre xanh trong ngõ.” (Trở về). Cả đến một buổi gặt, ông cũng tả bằng cảm giác của ông: “Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu” (Những ngày mới).

Nếu ta có thể chia ra làm hai dạng nhà văn: nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. Ở chỗ mà người khác dùng tư tưởng, dùng lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói một cách rất giản dị cái cảm giác của ông. Cái cảm giác ấy bao quát hết tư tưởng của tác giả và của độc giả, nhiều khi đi xa hơn, sâu hơn tư tưởng vì có cái ta cảm thấy mà không thể dùng tư tưởng để mô tả, giải phẫu cái cảm giác của ta ra được, dù là một cái cảm giác nhẹ nhàng, “cái rung động khẽ như cánh bướm non” của người cha đứng ngắm đứa con đầu lòng nằm ngủ.

Chính tác giả cũng bảo cho ta biết rằng “cái rung động khẽ như cánh bướm non” ấy là một “tình cảm sâu xa”.

Thực vậy, những cảm giác đạm mạc như thế mà ta thấy khắp trong truyện của Thạch Lam đều giấu một tình cảm sâu xa. Tác giả, mà ta tưởng rất điềm tĩnh, kì thực là một người có những tính tình mãnh liệt. Đứng trước sự khốn cùng của bác Lê, tác giả chỉ thủ thỉ nói: “giá cứ có người mướn làm thì cũng không đến nỗi”. Nhưng trong cái thủ thỉ ấy ta cảm thấy lòng tức giận sôi lên đến cực điểm. Sau năm, sáu năm xa cách, người con mới giàu có về thăm mẹ già nghèo ở nhà quê, khi hắn ta từ giã bà cụ ra đi, tác giả thản nhiên lạnh lùng viết: “Ra đến ngoài, Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận”. Nhưng sự thản nhiên, sự lạnh lùng ấy giấu một tính tình khinh bỉ, một cảm tưởng chua chát không biết đến chừng nào.

Những kẻ giàu có huênh hoang trong bọn trưởng giả như người con trong truyện Trở về, Thạch Lam rất ghét, cũng như ông rất yêu, rất thương bọn nghèo đói, bọn bác Lê, anh Sinh, cu Dư,… Ông đem hết tâm hồn ra để ghét, tuy ông chỉ lãnh đạm nói đến họ. Lòng ghét âm thầm và dữ dội của ông có khi làm cho ông thiên lệch. Một lần nghe tôi đọc đến tên một người bạn mới giàu sang, ông chau mày nói: “Ồ! Tôi ghét hắn ta lạ”. Tôi chưa kịp hỏi vì lẽ gì thì ông đã tiếp luôn: “Trông cái má hắn ta phinh phính, cái bụng hắn xề xệ!”.

Rồi ta sẽ thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam rất nhiều nhân vật có cặp má phính và cái bụng xệ.

3/12/1937

(Khái Hưng, Tựa, in trong Thạch Lam, Gió đầu mùa, Sđd, tr. 11 – 15)

Bài làm:
Câu 4
Tự luận

Chân trời không bao giờ cũ

Vương Trí Nhàn

Hồ Dzếnh qua đời ở tuổi 75, song quả thật, ông đã ngưng viết trước đó rất lâu. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) cũng đã có một vài cuốn sách mang tên ông được xuất bản – cả sách sáng tác lẫn sách dịch – có điều chúng không có gì đáng kể và thực sự là trong cuốn Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc làm năm 1987 khi ông còn sống, phần chủ yếu vẫn là tập truyện ngắn Chân trời cũ cùng ít bài thơ trong Quê ngoại.

Bảo rằng về già, Hồ Dzếnh sống trong chờ đợi thì cũng không hẳn. Những gì tâm huyết đã mang cống hiến cho đời và ông sống khá thanh thản. May mà trong trường hợp này lịch sử đã công bằng. Mấy năm trước khi mất, chẳng những Hồ Dzếnh có tuyển tập mang tặng bạn bè mà ông còn có dịp chứng kiến Chân trời cũ được in lại ở mấy chỗ, trong sự tha thiết yêu chiều của bạn đọc, nhất là những bạn đã đọc văn Hồ Dzếnh từ lâu, mà không kiếm được sách. Thật là một sự ơn trả nghĩa đền xứng đáng.

Cuộc đời mỗi nhà văn – cũng giống như cuộc đời mỗi con người – là một cái gì độc đáo, không ai giống ai, và mọi ý muốn người ta áp đặt cho nhau, khuyên bảo nhau, suy cho cùng đều chả mấy nghĩa lí: số phận là cái không ai có thể chọn lựa.

Dẫu sao nghĩ lại thì thấy trừ những kẻ bất tài và lười biếng, ở đây, trong văn chương đại khái có hai cách tồn tại. Một là những tác giả, viết luôn tay, viết rất đều, có khi lại hoạt động trên các thể loại khác nhau, và như có bàn tay vàng, làm gì cũng nổi lên tự nhiên và sự nghiệp toà ngang dãy dọc đồ sộ. Và thứ hai là loại người sống như kẻ lơ đãng, tâm trí để tận đâu đâu, họ chỉ viết rất ít, cả một đời văn thu gọn trong một vài quyển sách chi đó. Song chỉ thế thôi mà cứ sống mãi trong lòng người yêu văn chương. Không nói đâu xa, ngay trong các nhà văn Việt Nam thế kỉ hai mươi cũng đã thấy có sự phân chia đôi ngả đôi dòng như vậy. Một bên là Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính,… và bên kia là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Nhược Pháp, và lùi về phía sau một chút, là Quang Dũng.

Cố nhiên, Hồ Dzếnh cũng thuộc cái loại thứ hai chúng ta đang nói. Tên tuổi ông gắn liền với Chân trời cũ, ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời sống và cả cách cảm cách nghĩ riêng của Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa. Mặc dù được viết ra khi tác giả mới 26 tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng. Nó là thứ văn chương không có tuổi. Thậm chí – bây giờ đã đến lúc có thể nói được điều này – nó là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt. Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học.

Những người có dịp gặp Hồ Dzếnh mấy năm cuối đời hẳn còn nhớ ông già trên 70 tuổi ấy luôn luôn có cái vẻ thản nhiên, hình như mọi chuyện “thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng” – chữ của Hồ Dzếnh – mình đều đã biết cả rồi, thiệt hơn thế nào cũng được, cuộc sống là thực mà cũng là một cõi hư vô nào đó. Thành thử, ông lại luôn luôn tìm được niềm vui hồn nhiên của mình. Nụ cười ấy đã thường trực trong tâm trí Hồ Dzếnh cho đến khi ông chia tay chúng ta.

(Vương Trí Nhàn, Chuyện cũ văn chương, NXB Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 89 – 91)

Bài làm:
Câu 5
Tự luận

Chân trời không bao giờ cũ

Vương Trí Nhàn

Hồ Dzếnh qua đời ở tuổi 75, song quả thật, ông đã ngưng viết trước đó rất lâu. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) cũng đã có một vài cuốn sách mang tên ông được xuất bản – cả sách sáng tác lẫn sách dịch – có điều chúng không có gì đáng kể và thực sự là trong cuốn Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc làm năm 1987 khi ông còn sống, phần chủ yếu vẫn là tập truyện ngắn Chân trời cũ cùng ít bài thơ trong Quê ngoại.

Bảo rằng về già, Hồ Dzếnh sống trong chờ đợi thì cũng không hẳn. Những gì tâm huyết đã mang cống hiến cho đời và ông sống khá thanh thản. May mà trong trường hợp này lịch sử đã công bằng. Mấy năm trước khi mất, chẳng những Hồ Dzếnh có tuyển tập mang tặng bạn bè mà ông còn có dịp chứng kiến Chân trời cũ được in lại ở mấy chỗ, trong sự tha thiết yêu chiều của bạn đọc, nhất là những bạn đã đọc văn Hồ Dzếnh từ lâu, mà không kiếm được sách. Thật là một sự ơn trả nghĩa đền xứng đáng.

Cuộc đời mỗi nhà văn – cũng giống như cuộc đời mỗi con người – là một cái gì độc đáo, không ai giống ai, và mọi ý muốn người ta áp đặt cho nhau, khuyên bảo nhau, suy cho cùng đều chả mấy nghĩa lí: số phận là cái không ai có thể chọn lựa.

Dẫu sao nghĩ lại thì thấy trừ những kẻ bất tài và lười biếng, ở đây, trong văn chương đại khái có hai cách tồn tại. Một là những tác giả, viết luôn tay, viết rất đều, có khi lại hoạt động trên các thể loại khác nhau, và như có bàn tay vàng, làm gì cũng nổi lên tự nhiên và sự nghiệp toà ngang dãy dọc đồ sộ. Và thứ hai là loại người sống như kẻ lơ đãng, tâm trí để tận đâu đâu, họ chỉ viết rất ít, cả một đời văn thu gọn trong một vài quyển sách chi đó. Song chỉ thế thôi mà cứ sống mãi trong lòng người yêu văn chương. Không nói đâu xa, ngay trong các nhà văn Việt Nam thế kỉ hai mươi cũng đã thấy có sự phân chia đôi ngả đôi dòng như vậy. Một bên là Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính,… và bên kia là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Nhược Pháp, và lùi về phía sau một chút, là Quang Dũng.

Cố nhiên, Hồ Dzếnh cũng thuộc cái loại thứ hai chúng ta đang nói. Tên tuổi ông gắn liền với Chân trời cũ, ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời sống và cả cách cảm cách nghĩ riêng của Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa. Mặc dù được viết ra khi tác giả mới 26 tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng. Nó là thứ văn chương không có tuổi. Thậm chí – bây giờ đã đến lúc có thể nói được điều này – nó là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt. Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học.

Những người có dịp gặp Hồ Dzếnh mấy năm cuối đời hẳn còn nhớ ông già trên 70 tuổi ấy luôn luôn có cái vẻ thản nhiên, hình như mọi chuyện “thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng” – chữ của Hồ Dzếnh – mình đều đã biết cả rồi, thiệt hơn thế nào cũng được, cuộc sống là thực mà cũng là một cõi hư vô nào đó. Thành thử, ông lại luôn luôn tìm được niềm vui hồn nhiên của mình. Nụ cười ấy đã thường trực trong tâm trí Hồ Dzếnh cho đến khi ông chia tay chúng ta.

(Vương Trí Nhàn, Chuyện cũ văn chương, NXB Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 89 – 91)

Bài làm:
Câu 6
Tự luận

Chân trời không bao giờ cũ

Vương Trí Nhàn

Hồ Dzếnh qua đời ở tuổi 75, song quả thật, ông đã ngưng viết trước đó rất lâu. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) cũng đã có một vài cuốn sách mang tên ông được xuất bản – cả sách sáng tác lẫn sách dịch – có điều chúng không có gì đáng kể và thực sự là trong cuốn Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc làm năm 1987 khi ông còn sống, phần chủ yếu vẫn là tập truyện ngắn Chân trời cũ cùng ít bài thơ trong Quê ngoại.

Bảo rằng về già, Hồ Dzếnh sống trong chờ đợi thì cũng không hẳn. Những gì tâm huyết đã mang cống hiến cho đời và ông sống khá thanh thản. May mà trong trường hợp này lịch sử đã công bằng. Mấy năm trước khi mất, chẳng những Hồ Dzếnh có tuyển tập mang tặng bạn bè mà ông còn có dịp chứng kiến Chân trời cũ được in lại ở mấy chỗ, trong sự tha thiết yêu chiều của bạn đọc, nhất là những bạn đã đọc văn Hồ Dzếnh từ lâu, mà không kiếm được sách. Thật là một sự ơn trả nghĩa đền xứng đáng.

Cuộc đời mỗi nhà văn – cũng giống như cuộc đời mỗi con người – là một cái gì độc đáo, không ai giống ai, và mọi ý muốn người ta áp đặt cho nhau, khuyên bảo nhau, suy cho cùng đều chả mấy nghĩa lí: số phận là cái không ai có thể chọn lựa.

Dẫu sao nghĩ lại thì thấy trừ những kẻ bất tài và lười biếng, ở đây, trong văn chương đại khái có hai cách tồn tại. Một là những tác giả, viết luôn tay, viết rất đều, có khi lại hoạt động trên các thể loại khác nhau, và như có bàn tay vàng, làm gì cũng nổi lên tự nhiên và sự nghiệp toà ngang dãy dọc đồ sộ. Và thứ hai là loại người sống như kẻ lơ đãng, tâm trí để tận đâu đâu, họ chỉ viết rất ít, cả một đời văn thu gọn trong một vài quyển sách chi đó. Song chỉ thế thôi mà cứ sống mãi trong lòng người yêu văn chương. Không nói đâu xa, ngay trong các nhà văn Việt Nam thế kỉ hai mươi cũng đã thấy có sự phân chia đôi ngả đôi dòng như vậy. Một bên là Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính,… và bên kia là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Nhược Pháp, và lùi về phía sau một chút, là Quang Dũng.

Cố nhiên, Hồ Dzếnh cũng thuộc cái loại thứ hai chúng ta đang nói. Tên tuổi ông gắn liền với Chân trời cũ, ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời sống và cả cách cảm cách nghĩ riêng của Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa. Mặc dù được viết ra khi tác giả mới 26 tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng. Nó là thứ văn chương không có tuổi. Thậm chí – bây giờ đã đến lúc có thể nói được điều này – nó là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt. Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học.

Những người có dịp gặp Hồ Dzếnh mấy năm cuối đời hẳn còn nhớ ông già trên 70 tuổi ấy luôn luôn có cái vẻ thản nhiên, hình như mọi chuyện “thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng” – chữ của Hồ Dzếnh – mình đều đã biết cả rồi, thiệt hơn thế nào cũng được, cuộc sống là thực mà cũng là một cõi hư vô nào đó. Thành thử, ông lại luôn luôn tìm được niềm vui hồn nhiên của mình. Nụ cười ấy đã thường trực trong tâm trí Hồ Dzếnh cho đến khi ông chia tay chúng ta.

(Vương Trí Nhàn, Chuyện cũ văn chương, NXB Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 89 – 91)

Bài làm:
Câu 7
Tự luận

Chân trời không bao giờ cũ

Vương Trí Nhàn

Hồ Dzếnh qua đời ở tuổi 75, song quả thật, ông đã ngưng viết trước đó rất lâu. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) cũng đã có một vài cuốn sách mang tên ông được xuất bản – cả sách sáng tác lẫn sách dịch – có điều chúng không có gì đáng kể và thực sự là trong cuốn Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc làm năm 1987 khi ông còn sống, phần chủ yếu vẫn là tập truyện ngắn Chân trời cũ cùng ít bài thơ trong Quê ngoại.

Bảo rằng về già, Hồ Dzếnh sống trong chờ đợi thì cũng không hẳn. Những gì tâm huyết đã mang cống hiến cho đời và ông sống khá thanh thản. May mà trong trường hợp này lịch sử đã công bằng. Mấy năm trước khi mất, chẳng những Hồ Dzếnh có tuyển tập mang tặng bạn bè mà ông còn có dịp chứng kiến Chân trời cũ được in lại ở mấy chỗ, trong sự tha thiết yêu chiều của bạn đọc, nhất là những bạn đã đọc văn Hồ Dzếnh từ lâu, mà không kiếm được sách. Thật là một sự ơn trả nghĩa đền xứng đáng.

Cuộc đời mỗi nhà văn – cũng giống như cuộc đời mỗi con người – là một cái gì độc đáo, không ai giống ai, và mọi ý muốn người ta áp đặt cho nhau, khuyên bảo nhau, suy cho cùng đều chả mấy nghĩa lí: số phận là cái không ai có thể chọn lựa.

Dẫu sao nghĩ lại thì thấy trừ những kẻ bất tài và lười biếng, ở đây, trong văn chương đại khái có hai cách tồn tại. Một là những tác giả, viết luôn tay, viết rất đều, có khi lại hoạt động trên các thể loại khác nhau, và như có bàn tay vàng, làm gì cũng nổi lên tự nhiên và sự nghiệp toà ngang dãy dọc đồ sộ. Và thứ hai là loại người sống như kẻ lơ đãng, tâm trí để tận đâu đâu, họ chỉ viết rất ít, cả một đời văn thu gọn trong một vài quyển sách chi đó. Song chỉ thế thôi mà cứ sống mãi trong lòng người yêu văn chương. Không nói đâu xa, ngay trong các nhà văn Việt Nam thế kỉ hai mươi cũng đã thấy có sự phân chia đôi ngả đôi dòng như vậy. Một bên là Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính,… và bên kia là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Nhược Pháp, và lùi về phía sau một chút, là Quang Dũng.

Cố nhiên, Hồ Dzếnh cũng thuộc cái loại thứ hai chúng ta đang nói. Tên tuổi ông gắn liền với Chân trời cũ, ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời sống và cả cách cảm cách nghĩ riêng của Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa. Mặc dù được viết ra khi tác giả mới 26 tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng. Nó là thứ văn chương không có tuổi. Thậm chí – bây giờ đã đến lúc có thể nói được điều này – nó là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt. Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học.

Những người có dịp gặp Hồ Dzếnh mấy năm cuối đời hẳn còn nhớ ông già trên 70 tuổi ấy luôn luôn có cái vẻ thản nhiên, hình như mọi chuyện “thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng” – chữ của Hồ Dzếnh – mình đều đã biết cả rồi, thiệt hơn thế nào cũng được, cuộc sống là thực mà cũng là một cõi hư vô nào đó. Thành thử, ông lại luôn luôn tìm được niềm vui hồn nhiên của mình. Nụ cười ấy đã thường trực trong tâm trí Hồ Dzếnh cho đến khi ông chia tay chúng ta.

(Vương Trí Nhàn, Chuyện cũ văn chương, NXB Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 89 – 91)

Bài làm:
Câu 8
Tự luận

Nhà thơ Quang Dũng −

khúc song hành thơ và hoạ

Chu Hồng Tiến

Hướng tới kỉ niệm 100 năm ngày sinh Quang Dũng (1921 – 2021), NXB Kim Đồng đã ra mắt tuyển tập “Nhà thơ Quang Dũng – Người mang trong trắng đi tìm thanh cao”, tuyển chọn những bài thơ, bức tranh nổi bật của nhà thơ. Cuốn sách do hai tác giả Phương Thảo (con gái của Quang Dũng) và hoạ sĩ Tô Chiêm biên soạn, gồm ba phần chính: 30 bài thơ, 29 bức tranh – là tác phẩm của Quang Dũng và một số bài giới thiệu, phê bình.

Toàn bộ các bài thơ trong tập Nhà thơ Quang Dũng – Người mang trong trắng đi tìm thanh cao được in dựa theo bút tích chép tay của ông trong các cuốn sổ, thư từ, tư liệu,... được gia đình và bạn bè ông gìn giữ.

Người mang trong trắng đi tìm thanh cao

Nhà thơ Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê gốc ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Với cuộc đời cống hiến cho công cuộc kháng chiến và nghệ thuật, ông từng nhận Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Quang Dũng làm thơ từ tuổi niên thiếu, đến năm mười sáu tuổi đã có thơ đăng báo. Bài thơ Chiêu Quân viết năm 1937 với những câu thơ mang dấu ấn thời kì Thơ mới, nhưng vẫn có một sắc thái riêng của Quang Dũng: “Tì bà lanh lảnh buốt cung thương/Tang tình năm ngón sầu dâng lệ.../ Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống/ Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang”.

Quang Dũng tham gia cách mạng từ ngày Tổng khởi nghĩa 19/8/1945, làm phái viên Phòng quân vụ Bắc Bộ. Kháng chiến bùng nổ, ông làm Chính trị viên phó đại đội vệ binh khu II một thời gian thì được cử đi học lớp Bổ túc quân sự ở Sơn Tây. Đến đầu năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến mới được thành lập với nhiệm vụ phối hợp cùng bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân Pháp. Chiến sĩ Tây Tiến là những người hào hoa, vui nhộn ngay cả trong hoàn cảnh rất gian nan. Chính trong môi trường này, Quang Dũng đã có được những bài thơ hay bậc nhất trong nền thơ ca kháng chiến cứu quốc: “Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi/ Tháng Chạp màn sương trùm đất nước/ Gió mùa chết héo mạ non xanh/ Sương muối thấm vào bao đạn ướt” (Những làng đi qua),...

Có thể nói, con đường số phận đã đưa Quang Dũng đến với đoàn Tây Tiến. Và rồi, tài năng của ông đã khiến một phần đời sống tinh thần của đoàn binh này, qua những bài thơ, bức tranh, còn sống lâu dài trong nền văn học và trong tâm hồn bao thế hệ độc giả.

olm, kí hoạ đèo

Kí hoạ đèo Mã Phục của Quang Dũng

Thơ ông như cuộc kiếm tìm khuôn mặt, hình dáng đích thực của tình yêu, của số phận trong cái khốc liệt của chiến tranh. Đời sống kháng chiến trong thơ ca của ông là cuộc đối thoại tràn trề sức trẻ, biến những gian nan, cách xa, lửa đạn thành kỉ niệm của tình yêu thương đùm bọc: “Tiếng hát hành quân vui trong mưa/ Gió bấc về sân buổi tiễn đưa/ Nải chuối tiễn nhau em mới cắt/ Nắm cơm hàng xóm gửi trung đoàn” (Những làng đi qua).

Bộc bạch, mô tả hoàn cảnh, không khí kháng chiến, nhưng cái đích đến của nhà thơ là tình yêu và khát vọng hoà bình. Ngập tràn thơ Quang Dũng là thế giới hoang dã cây cỏ, hoa lá, chim muông. Thiên nhiên đã truyền vào thơ ông những âm thanh, sắc màu vang động, những vẻ đẹp lộng lẫy và những bí ẩn kì diệu như cánh đồng, dòng sông, hồ nước, dãy núi, trong một trí tưởng tượng vô tận: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” (Tây Tiến).

Không gian thơ và hoạ

Không gian hội hoạ mà ta cảm nhận được trong thơ Quang Dũng cũng là không gian cảm giác. Ở nhiều bài thơ, qua cách miêu tả đối tượng, cách thức tổ chức câu thơ, dễ thấy yếu tố không gian hội hoạ được gợi lên bởi sự tinh tế của cả thị giác và cảm giác: “Đường ấy đi về qua bóng núi/ Miếu đêm soi lạnh xuống sông dài/ Lay động màn sương trên khói sóng/ Thuyền câu ai gõ mạn xa khơi” (Đường trăng).

Cũng vậy, không gian tranh của ông dung dị, khoáng đạt như chứa chất bao nỗi niềm, cảm xúc, cảnh sắc thiên nhiên gắn bó với tâm trạng, và qua đó thể hiện tình cảm của tác giả.

olm, tranh kháng chiến

Tranh Kháng chiến của Quang Dũng, vẽ năm 1967

Thời niên thiếu, Quang Dũng rất yêu thơ và hội hoạ, được bố mẹ dành cho một buồng riêng trong căn nhà gác thoáng rộng. Ở đó, chính Quang Dũng đã trang trí căn buồng bằng nhiều bức tranh ông tự vẽ, những tranh vẽ trên toan, lồng khung treo lên và cả mấy bức ông vẽ thẳng vào tường (Người mẹ của Quang Dũng vẫn giữ gìn nguyên vẹn những bức vẽ đó đằng đẵng suốt bao năm, khi Quang Dũng đi kháng chiến).

Nhiều bài thơ được thi sĩ vẽ minh hoạ bằng bút chì ngay bên cạnh. Hoạ sĩ Tô Chiêm nhận định: “Ông thích tự làm bìa, minh hoạ cho thơ và bút kí của mình. Dường như người nghệ sĩ tài hoa ấy mong muốn những đứa con tinh thần có được sự hài hoà tuyệt đối”.

Tranh Quang Dũng chủ yếu là phong cảnh: Nhớ Tây Tiến, Đường lên Tây Bắc, Làng ven đê sông Đáy, Mây đầu ô, Dốc Yên Phụ, Vườn đào Nhật Tân, Ba Vì,... Vẽ là cách để Quang Dũng ghim giữ lại bằng ngôn ngữ tạo hình những cảm xúc trong thơ. Tranh của Quang Dũng dựng nên một thế giới thanh bình và lãng mạn, an hoà, như điều luôn được thể hiện trong thơ, văn của ông (tương tự, trong mỗi bài thơ, trang văn của ông có chứa sẵn một bức tranh, một bản nhạc).

Quang Dũng tựa bóng “mây phiêu lưu, mây lang thang”, hồn nhiên viết thơ trên từng tờ giấy vương vãi hoặc trong sổ tay của các bè bạn. Cũng vậy, say mê vẽ, vượt thoát tham vọng có tác phẩm để đời, ông vẽ như chỉ để lưu giữ lại kỉ niệm với bờ bãi, sông nước, làng mạc, cỏ cây, con người,… Màu sắc, đường nét như tự do đến với ông nhưng có lẽ chính vì vậy mà các bức hoạ của ông luôn thể hiện được nét riêng, chiếm được trọn vẹn cảm tình của những người mê thơ – hoạ, thích nét tài hoa, tài tử ở những lớp nghệ sĩ đặc biệt như Quang Dũng.

(Theo Chu Hồng Tiến, Thể thao và Văn hoá, ngày 13/11/2020)

Bài làm:
Câu 9
Tự luận

Nhà thơ Quang Dũng −

khúc song hành thơ và hoạ

Chu Hồng Tiến

Hướng tới kỉ niệm 100 năm ngày sinh Quang Dũng (1921 – 2021), NXB Kim Đồng đã ra mắt tuyển tập “Nhà thơ Quang Dũng – Người mang trong trắng đi tìm thanh cao”, tuyển chọn những bài thơ, bức tranh nổi bật của nhà thơ. Cuốn sách do hai tác giả Phương Thảo (con gái của Quang Dũng) và hoạ sĩ Tô Chiêm biên soạn, gồm ba phần chính: 30 bài thơ, 29 bức tranh – là tác phẩm của Quang Dũng và một số bài giới thiệu, phê bình.

Toàn bộ các bài thơ trong tập Nhà thơ Quang Dũng – Người mang trong trắng đi tìm thanh cao được in dựa theo bút tích chép tay của ông trong các cuốn sổ, thư từ, tư liệu,... được gia đình và bạn bè ông gìn giữ.

Người mang trong trắng đi tìm thanh cao

Nhà thơ Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê gốc ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Với cuộc đời cống hiến cho công cuộc kháng chiến và nghệ thuật, ông từng nhận Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Quang Dũng làm thơ từ tuổi niên thiếu, đến năm mười sáu tuổi đã có thơ đăng báo. Bài thơ Chiêu Quân viết năm 1937 với những câu thơ mang dấu ấn thời kì Thơ mới, nhưng vẫn có một sắc thái riêng của Quang Dũng: “Tì bà lanh lảnh buốt cung thương/Tang tình năm ngón sầu dâng lệ.../ Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống/ Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang”.

Quang Dũng tham gia cách mạng từ ngày Tổng khởi nghĩa 19/8/1945, làm phái viên Phòng quân vụ Bắc Bộ. Kháng chiến bùng nổ, ông làm Chính trị viên phó đại đội vệ binh khu II một thời gian thì được cử đi học lớp Bổ túc quân sự ở Sơn Tây. Đến đầu năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến mới được thành lập với nhiệm vụ phối hợp cùng bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân Pháp. Chiến sĩ Tây Tiến là những người hào hoa, vui nhộn ngay cả trong hoàn cảnh rất gian nan. Chính trong môi trường này, Quang Dũng đã có được những bài thơ hay bậc nhất trong nền thơ ca kháng chiến cứu quốc: “Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi/ Tháng Chạp màn sương trùm đất nước/ Gió mùa chết héo mạ non xanh/ Sương muối thấm vào bao đạn ướt” (Những làng đi qua),...

Có thể nói, con đường số phận đã đưa Quang Dũng đến với đoàn Tây Tiến. Và rồi, tài năng của ông đã khiến một phần đời sống tinh thần của đoàn binh này, qua những bài thơ, bức tranh, còn sống lâu dài trong nền văn học và trong tâm hồn bao thế hệ độc giả.

olm, kí hoạ đèo

Kí hoạ đèo Mã Phục của Quang Dũng

Thơ ông như cuộc kiếm tìm khuôn mặt, hình dáng đích thực của tình yêu, của số phận trong cái khốc liệt của chiến tranh. Đời sống kháng chiến trong thơ ca của ông là cuộc đối thoại tràn trề sức trẻ, biến những gian nan, cách xa, lửa đạn thành kỉ niệm của tình yêu thương đùm bọc: “Tiếng hát hành quân vui trong mưa/ Gió bấc về sân buổi tiễn đưa/ Nải chuối tiễn nhau em mới cắt/ Nắm cơm hàng xóm gửi trung đoàn” (Những làng đi qua).

Bộc bạch, mô tả hoàn cảnh, không khí kháng chiến, nhưng cái đích đến của nhà thơ là tình yêu và khát vọng hoà bình. Ngập tràn thơ Quang Dũng là thế giới hoang dã cây cỏ, hoa lá, chim muông. Thiên nhiên đã truyền vào thơ ông những âm thanh, sắc màu vang động, những vẻ đẹp lộng lẫy và những bí ẩn kì diệu như cánh đồng, dòng sông, hồ nước, dãy núi, trong một trí tưởng tượng vô tận: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” (Tây Tiến).

Không gian thơ và hoạ

Không gian hội hoạ mà ta cảm nhận được trong thơ Quang Dũng cũng là không gian cảm giác. Ở nhiều bài thơ, qua cách miêu tả đối tượng, cách thức tổ chức câu thơ, dễ thấy yếu tố không gian hội hoạ được gợi lên bởi sự tinh tế của cả thị giác và cảm giác: “Đường ấy đi về qua bóng núi/ Miếu đêm soi lạnh xuống sông dài/ Lay động màn sương trên khói sóng/ Thuyền câu ai gõ mạn xa khơi” (Đường trăng).

Cũng vậy, không gian tranh của ông dung dị, khoáng đạt như chứa chất bao nỗi niềm, cảm xúc, cảnh sắc thiên nhiên gắn bó với tâm trạng, và qua đó thể hiện tình cảm của tác giả.

olm, tranh kháng chiến

Tranh Kháng chiến của Quang Dũng, vẽ năm 1967

Thời niên thiếu, Quang Dũng rất yêu thơ và hội hoạ, được bố mẹ dành cho một buồng riêng trong căn nhà gác thoáng rộng. Ở đó, chính Quang Dũng đã trang trí căn buồng bằng nhiều bức tranh ông tự vẽ, những tranh vẽ trên toan, lồng khung treo lên và cả mấy bức ông vẽ thẳng vào tường (Người mẹ của Quang Dũng vẫn giữ gìn nguyên vẹn những bức vẽ đó đằng đẵng suốt bao năm, khi Quang Dũng đi kháng chiến).

Nhiều bài thơ được thi sĩ vẽ minh hoạ bằng bút chì ngay bên cạnh. Hoạ sĩ Tô Chiêm nhận định: “Ông thích tự làm bìa, minh hoạ cho thơ và bút kí của mình. Dường như người nghệ sĩ tài hoa ấy mong muốn những đứa con tinh thần có được sự hài hoà tuyệt đối”.

Tranh Quang Dũng chủ yếu là phong cảnh: Nhớ Tây Tiến, Đường lên Tây Bắc, Làng ven đê sông Đáy, Mây đầu ô, Dốc Yên Phụ, Vườn đào Nhật Tân, Ba Vì,... Vẽ là cách để Quang Dũng ghim giữ lại bằng ngôn ngữ tạo hình những cảm xúc trong thơ. Tranh của Quang Dũng dựng nên một thế giới thanh bình và lãng mạn, an hoà, như điều luôn được thể hiện trong thơ, văn của ông (tương tự, trong mỗi bài thơ, trang văn của ông có chứa sẵn một bức tranh, một bản nhạc).

Quang Dũng tựa bóng “mây phiêu lưu, mây lang thang”, hồn nhiên viết thơ trên từng tờ giấy vương vãi hoặc trong sổ tay của các bè bạn. Cũng vậy, say mê vẽ, vượt thoát tham vọng có tác phẩm để đời, ông vẽ như chỉ để lưu giữ lại kỉ niệm với bờ bãi, sông nước, làng mạc, cỏ cây, con người,… Màu sắc, đường nét như tự do đến với ông nhưng có lẽ chính vì vậy mà các bức hoạ của ông luôn thể hiện được nét riêng, chiếm được trọn vẹn cảm tình của những người mê thơ – hoạ, thích nét tài hoa, tài tử ở những lớp nghệ sĩ đặc biệt như Quang Dũng.

(Theo Chu Hồng Tiến, Thể thao và Văn hoá, ngày 13/11/2020)

Bài làm:
Câu 10
Tự luận

Nhà thơ Quang Dũng −

khúc song hành thơ và hoạ

Chu Hồng Tiến

Hướng tới kỉ niệm 100 năm ngày sinh Quang Dũng (1921 – 2021), NXB Kim Đồng đã ra mắt tuyển tập “Nhà thơ Quang Dũng – Người mang trong trắng đi tìm thanh cao”, tuyển chọn những bài thơ, bức tranh nổi bật của nhà thơ. Cuốn sách do hai tác giả Phương Thảo (con gái của Quang Dũng) và hoạ sĩ Tô Chiêm biên soạn, gồm ba phần chính: 30 bài thơ, 29 bức tranh – là tác phẩm của Quang Dũng và một số bài giới thiệu, phê bình.

Toàn bộ các bài thơ trong tập Nhà thơ Quang Dũng – Người mang trong trắng đi tìm thanh cao được in dựa theo bút tích chép tay của ông trong các cuốn sổ, thư từ, tư liệu,... được gia đình và bạn bè ông gìn giữ.

Người mang trong trắng đi tìm thanh cao

Nhà thơ Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê gốc ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Với cuộc đời cống hiến cho công cuộc kháng chiến và nghệ thuật, ông từng nhận Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Quang Dũng làm thơ từ tuổi niên thiếu, đến năm mười sáu tuổi đã có thơ đăng báo. Bài thơ Chiêu Quân viết năm 1937 với những câu thơ mang dấu ấn thời kì Thơ mới, nhưng vẫn có một sắc thái riêng của Quang Dũng: “Tì bà lanh lảnh buốt cung thương/Tang tình năm ngón sầu dâng lệ.../ Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống/ Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang”.

Quang Dũng tham gia cách mạng từ ngày Tổng khởi nghĩa 19/8/1945, làm phái viên Phòng quân vụ Bắc Bộ. Kháng chiến bùng nổ, ông làm Chính trị viên phó đại đội vệ binh khu II một thời gian thì được cử đi học lớp Bổ túc quân sự ở Sơn Tây. Đến đầu năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến mới được thành lập với nhiệm vụ phối hợp cùng bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân Pháp. Chiến sĩ Tây Tiến là những người hào hoa, vui nhộn ngay cả trong hoàn cảnh rất gian nan. Chính trong môi trường này, Quang Dũng đã có được những bài thơ hay bậc nhất trong nền thơ ca kháng chiến cứu quốc: “Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi/ Tháng Chạp màn sương trùm đất nước/ Gió mùa chết héo mạ non xanh/ Sương muối thấm vào bao đạn ướt” (Những làng đi qua),...

Có thể nói, con đường số phận đã đưa Quang Dũng đến với đoàn Tây Tiến. Và rồi, tài năng của ông đã khiến một phần đời sống tinh thần của đoàn binh này, qua những bài thơ, bức tranh, còn sống lâu dài trong nền văn học và trong tâm hồn bao thế hệ độc giả.

olm, kí hoạ đèo

Kí hoạ đèo Mã Phục của Quang Dũng

Thơ ông như cuộc kiếm tìm khuôn mặt, hình dáng đích thực của tình yêu, của số phận trong cái khốc liệt của chiến tranh. Đời sống kháng chiến trong thơ ca của ông là cuộc đối thoại tràn trề sức trẻ, biến những gian nan, cách xa, lửa đạn thành kỉ niệm của tình yêu thương đùm bọc: “Tiếng hát hành quân vui trong mưa/ Gió bấc về sân buổi tiễn đưa/ Nải chuối tiễn nhau em mới cắt/ Nắm cơm hàng xóm gửi trung đoàn” (Những làng đi qua).

Bộc bạch, mô tả hoàn cảnh, không khí kháng chiến, nhưng cái đích đến của nhà thơ là tình yêu và khát vọng hoà bình. Ngập tràn thơ Quang Dũng là thế giới hoang dã cây cỏ, hoa lá, chim muông. Thiên nhiên đã truyền vào thơ ông những âm thanh, sắc màu vang động, những vẻ đẹp lộng lẫy và những bí ẩn kì diệu như cánh đồng, dòng sông, hồ nước, dãy núi, trong một trí tưởng tượng vô tận: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” (Tây Tiến).

Không gian thơ và hoạ

Không gian hội hoạ mà ta cảm nhận được trong thơ Quang Dũng cũng là không gian cảm giác. Ở nhiều bài thơ, qua cách miêu tả đối tượng, cách thức tổ chức câu thơ, dễ thấy yếu tố không gian hội hoạ được gợi lên bởi sự tinh tế của cả thị giác và cảm giác: “Đường ấy đi về qua bóng núi/ Miếu đêm soi lạnh xuống sông dài/ Lay động màn sương trên khói sóng/ Thuyền câu ai gõ mạn xa khơi” (Đường trăng).

Cũng vậy, không gian tranh của ông dung dị, khoáng đạt như chứa chất bao nỗi niềm, cảm xúc, cảnh sắc thiên nhiên gắn bó với tâm trạng, và qua đó thể hiện tình cảm của tác giả.

olm, tranh kháng chiến

Tranh Kháng chiến của Quang Dũng, vẽ năm 1967

Thời niên thiếu, Quang Dũng rất yêu thơ và hội hoạ, được bố mẹ dành cho một buồng riêng trong căn nhà gác thoáng rộng. Ở đó, chính Quang Dũng đã trang trí căn buồng bằng nhiều bức tranh ông tự vẽ, những tranh vẽ trên toan, lồng khung treo lên và cả mấy bức ông vẽ thẳng vào tường (Người mẹ của Quang Dũng vẫn giữ gìn nguyên vẹn những bức vẽ đó đằng đẵng suốt bao năm, khi Quang Dũng đi kháng chiến).

Nhiều bài thơ được thi sĩ vẽ minh hoạ bằng bút chì ngay bên cạnh. Hoạ sĩ Tô Chiêm nhận định: “Ông thích tự làm bìa, minh hoạ cho thơ và bút kí của mình. Dường như người nghệ sĩ tài hoa ấy mong muốn những đứa con tinh thần có được sự hài hoà tuyệt đối”.

Tranh Quang Dũng chủ yếu là phong cảnh: Nhớ Tây Tiến, Đường lên Tây Bắc, Làng ven đê sông Đáy, Mây đầu ô, Dốc Yên Phụ, Vườn đào Nhật Tân, Ba Vì,... Vẽ là cách để Quang Dũng ghim giữ lại bằng ngôn ngữ tạo hình những cảm xúc trong thơ. Tranh của Quang Dũng dựng nên một thế giới thanh bình và lãng mạn, an hoà, như điều luôn được thể hiện trong thơ, văn của ông (tương tự, trong mỗi bài thơ, trang văn của ông có chứa sẵn một bức tranh, một bản nhạc).

Quang Dũng tựa bóng “mây phiêu lưu, mây lang thang”, hồn nhiên viết thơ trên từng tờ giấy vương vãi hoặc trong sổ tay của các bè bạn. Cũng vậy, say mê vẽ, vượt thoát tham vọng có tác phẩm để đời, ông vẽ như chỉ để lưu giữ lại kỉ niệm với bờ bãi, sông nước, làng mạc, cỏ cây, con người,… Màu sắc, đường nét như tự do đến với ông nhưng có lẽ chính vì vậy mà các bức hoạ của ông luôn thể hiện được nét riêng, chiếm được trọn vẹn cảm tình của những người mê thơ – hoạ, thích nét tài hoa, tài tử ở những lớp nghệ sĩ đặc biệt như Quang Dũng.

(Theo Chu Hồng Tiến, Thể thao và Văn hoá, ngày 13/11/2020)

Bài làm: