Đề thi tuyển sinh lớp 10 Sở GD&ĐT Hà Nội năm 2020 - 2021
Cho hai biểu thức $A = \dfrac{\sqrt x + 1}{\sqrt x+2}$ và $B = \dfrac3{\sqrt x-1} - \dfrac{\sqrt x+5}{x-1}$ với $x \ge 0,$ $x \ne 1$.
1. Tính giá trị của biểu thức $A$ khi $x = 4$.
2. Chứng minh $B = \dfrac2{\sqrt x+1}$.
3. Tìm tất cả các giá trị của $x$ để biểu thức $P = 2A.B + \sqrt x$ đạt giá trị nhỏ nhất.
1.
Thay $x = 4$ (thỏa mãn ĐKXĐ) vào biểu thức $A$ ta có
$A = \dfrac34$.
2.
Với $x \ge 0,$ $x \ne 1$ ta có
$B = \dfrac3{\sqrt x-1} - \dfrac{\sqrt x+5}{\left(\sqrt x - 1\right)\left(\sqrt x + 1\right)} = \dfrac{3\left(\sqrt x + 1\right) - \left(\sqrt x + 5\right)}{\left(\sqrt x - 1\right)\left(\sqrt x + 1\right)}$
$=\dfrac{2\left(\sqrt x - 1\right)}{\left(\sqrt x - 1\right)\left(\sqrt x + 1\right)} = \dfrac2{\sqrt x+1}.$
3.
$P = 2A.B + \sqrt x = \dfrac4{\sqrt x + 2} + \sqrt x$.
Ta có $P-2 = \dfrac4{\sqrt x + 2} + \sqrt x - 2 =\dfrac x{\sqrt x+2} \ge 0$ với mọi $x \ge 0$.
Suy ra $P \ge 2$. Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi $x = 0.$
Vậy $x = 0$ thì biểu thức $P$ đạt giá trị nhỏ nhất.
1. Giải bài toán sau bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình:
Quãng đường từ nhà An đến nhà Bình dài $3$ km. Buổi sáng, An đi bộ từ nhà An đến nhà Bình. Buổi chiều cùng ngày, An đi xe đạp từ nhà Bình về nhà An trên quãng đường đó với vận tốc lớn hơn vận tốc đi bộ của An là $9$ km/h. Tính vận tốc đi bộ của An, biết thời gian đi buổi chiều ít hơn thời gian đi buổi sáng là $45$ phút. (Giả định rằng An đi bộ với vận tốc không đổi trên toàn bộ quãng đường đó.)
2. Một quả bóng bàn có dạng một hình cầu có bán kính bằng $2$ cm. Tính diện tích bề mặt của quả bóng bàn đó (lấy $\pi \approx 3,14$).
1.
Gọi vận tốc đi bộ của An là $x$ (km/h), $x>0$.
Vận tốc đi xe đạp của An là $x + 9$ (km/h).
Thời gian An đi bộ từ nhà An đến nhà Bình là $\dfrac3 x$ (giờ).
Thời gian An đi xe đạp từ nhà Bình về nhà An là $\dfrac3{x+9}$ (giờ).
Ta có phương trình: $\dfrac3x - \dfrac3{x+9} = \dfrac34$
$\Rightarrow x^2 + 9x - 36 = 0 \Leftrightarrow (x-3)(x+12) = 0 \Leftrightarrow \left[\begin{aligned} &x = 3 \\ &x = -12 \\ \end{aligned} \right.$.
Kết hợp điều kiện, loại $x = -12$. Thử lại, $x = 3$ thỏa mãn yêu cầu bài toán.
Vậy vận tốc đi bộ của An là $3$ km/h.
2.
Diện tích bề mặt của quả bóng bàn đó là: $S = 4\pi R^2 \approx 4 \times 3,14 \times 2^2 = 50,24$ (cm$^2$).
1. Giải hệ phương trình $\left\{\begin{aligned} &2x + \dfrac3{y-1} = 5\\ &4x - \dfrac1{y-1} = 3\\ \end{aligned} \right.$.
2. Trong mặt phẳng tọa độ $Oxy,$ xét đường thẳng $(d):$ $y = mx+4$ với $m \ne 0$.
a. Gọi $A$ là giao điểm của đường thẳng $(d)$ và trục $Oy$. Tìm tọa độ của điểm $A$.
b. Tìm tất cả các giá trị của $m$ để đường thẳng $(d)$ cắt trục $Ox$ tại điểm $B$ sao cho tam giác $OAB$ là tam giác cân.
1.
ĐKXĐ: $y \ne 1.$
Đặt $\dfrac1{y-1} = b$, ta có hệ phương trình $\left\{\begin{aligned} &2x + 3b = 5\\ &4x - b = 3\\ \end{aligned} \right. \Leftrightarrow \left\{\begin{aligned} &b = 1\\ &x = 1\\ \end{aligned} \right.$.
Với $b = 1 \Rightarrow \dfrac1{y-1} = 1 \Rightarrow y = 2$ (thỏa mãn ĐKXĐ).
Vậy hệ phương trình có nghiệm duy nhất là $(x;y) = (1;2).$
2.a
Gọi tọa độ điểm $A$ là $(x_A;y_A)$. Do điểm $A$ thuộc trục $Oy$ nên $x_A = 0.$
Do điểm $A$ thuộc đường thẳng $(d)$: $y = mx+4$ nên $y_A = mx_A + 4 = m.0 + 4 = 4.$
Tọa độ điểm $A$ là $(0;4).$
2.b
Gọi tọa độ điểm $B$ là $(x_B;y_B)$. Do điểm $B$ thuộc trục $Ox$ nên $y_B = 0.$
Vì điểm $B$ thuộc đường thẳng $(d)$: $y = mx+4$ nên $0 = mx_B + 4.$
Vì $m \ne 0 \Rightarrow x_B = \dfrac{-4}{m} \Rightarrow OB = |x_B| = \left|\dfrac{-4}{m}\right|$.
Vì $\widehat{OAB} = 90^{\circ}$ nên để tam giác $OAB$ là tam giác cân thì $OA = OB$. Mà $OA = 4$ nên $OB = 4$.
Giải phương trình $\left|\dfrac{-4}{m}\right|=4 \Leftrightarrow \left[\begin{aligned} &m=1 \\ &m = -1\\ \end{aligned} \right.$.
Vậy $m=1$ hoặc $m = -1$.
(Hà Nội - 2020)
Cho tam giác $ABC$ có ba góc nhọn và đường cao $BE$. Gọi $H$ và $K$ lần lượt là chân các đường vuông góc kẻ từ điểm $E$ đến các đường thẳng $AB$ và $BC$.
1. Chứng minh tứ giác $BHEK$ là tứ giác nội tiếp.
2. Chứng minh $BH.BA = BK.BC$.
3. Gọi $F$ là chân đường vuông góc kẻ từ điểm $C$ đến đường thẳng $AB$ và $I$ là trung điểm của đoạn thẳng $EF$. Chứng minh ba điểm $H, I , K$ thẳng hàng.
1.
Chứng minh được $\widehat{BHE} = 90^{\circ}$ và $\widehat{BKE} = 90^{\circ}$.
Suy ra $\widehat{BHE} + \widehat{BKE} = 180^{\circ}$.
Vậy tứ giác $BHEK$ là tứ giác nội tiếp.
2.
Áp dụng hệ thức lượng cho $\Delta AEB$ vuông tại $E$, đường cao $EH$ có: $BH.BA = BE^2$.
Chứng minh tương tự ta có: $BK.BC = BE^2$.
Vậy $BH.BA = BK.BC$.
3.
Chứng minh được:
$\widehat{BHK} = \widehat{BEK}$ (1) ($BHEK$ nội tiếp);
$\widehat{BEK} = \widehat{BCE}$ (2) (cùng phụ với $\widehat{EBC}$);
$\widehat{BCE} = \widehat{HFE}$ (3) ($BCEF$ nội tiếp);
$\widehat{HFE} = \widehat{FHI}$ (4) (tam giác $FHI$ cân tại $I$).
Từ (1), (2), (3) và (4) suy ra $\widehat{BHK} = \widehat{FHI}$. Do $\Delta ABC$ nhọn nên hai điểm $I$ và $K$ nằm cùng phía với đường thẳng $HF$ nên ba điểm $H, I , K$ thẳng hàng.
Giải phương trình $\sqrt x + \sqrt{3x-2} = x^2 + 1$.
ĐKXĐ: $x \ge \dfrac23$.
$\sqrt x + \sqrt{3x-2} = x^2 + 1$
$\Leftrightarrow 2\sqrt x + 2\sqrt{3x-2} = 2x^2 + 2$
$\Leftrightarrow 2(x-1)^2 + (\sqrt x - 1)^2 + (\sqrt{3x-2}-1)^2 = 0.$
Phương trình có nghiệm duy nhất $x=1.$