Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của THPT Lục Ngạn SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
[...] Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này, người ta nhắc tới anh Hết còn nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp. Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: “Lại coi thằng Hết kìa! Ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương.”.
[...] Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay: “Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi.”. Chừng năm năm trước, ông còn vô bếp nấu cơm, mắt mũi tèm nhem để lửa táp vô vách lá, nhà cháy rụi. Anh Hết cất lại nhà trên nền cũ đầy tro, nhìn xa nhà lớn hơn miếu ông Tà một chút [...].
Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về. Có bữa chờ tới mỏi mòn, để bụng đói ngồi ngủ gà gật. Người ở xóm biểu cứ ăn trước đi chớ chờ gì, anh cười, mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều. Nhưng có bữa, anh mới vừa giở cửa chui vô nhà, ông già đã ngồi nhai cơm cháy, bị nghẹn, mắt ầng ậng nước. Anh thương tía quá chừng vội vàng chạy đi vo gạo.
Anh Hết mồ côi má từ mới lọt lòng [...]. Tía anh không đi bước nữa, ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên “Chớ ầu ơ... Cây khô đâu dễ mọc chồi...”. Chừng này tuổi rồi, mỗi khi anh đặt lưng xuống bộ vạc, lại nhớ ngơ nhớ ngẩn lời hát của tía anh ngày xưa. Buồn lắm, nghe đứt ruột lắm. Càng nhớ anh càng thương ông. Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình. Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ. Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già. Đi cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm.
Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ. Tía đầu bạc rượt thằng con đầu xanh chạy cà tưng đuổi nhau lòng vòng quanh mấy cây me già ngoài mé lộ. Đám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội. Hỏi anh Hết sao không chịu chạy nhanh để bị dính đòn, anh bảo, chạy thì được, nhưng càng nhanh thì tía anh càng mệt, chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì.
Ai nghe nói cũng thương. Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình. [...]
(Trích Hiu hiu gió bấc, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ – Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.27 – 36)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản trên.
Câu 2. Chỉ ra lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn văn sau: Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay: “Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi.”.
Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn: Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa trước cửa chờ tía anh về.
Câu 4. Nhận xét tình cảm của nhân vật anh Hết dành cho cha được thể hiện trong văn bản.
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân và lí giải ngắn gọn vì sao.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,75 điểm)
Ngôi kể của người kể chuyện: Ngôi thứ ba.
Câu 2. (0,75 điểm)
– Lời người kể chuyện: Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay.
– Lời nhân vật: “Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi.”.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Biện pháp tu từ liệt kê: Liệt kê các hành động của nhân vật anh Hết (chổng mông thổi lửa, dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa chờ tía anh về).
– Hiệu quả:
+ Tạo nhịp điệu cho câu văn, làm cho câu văn trở nên sinh động, cụ thể, giàu sức gợi.
+ Khắc hoạ rõ nét những công việc hằng ngày của anh Hết, qua đó làm nổi bật sự tần tảo, chu đáo và tình cảm hiếu thảo của anh đối với cha.
+ Thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca của tác giả đối với vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật anh Hết.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Tình cảm của nhân vật Anh Hết dành cho cha: Hiếu thảo, yêu thương và tận tuỵ với cha. Anh chăm sóc cha từng bữa ăn, giấc ngủ, luôn nhường nhịn, hi sinh vì cha.
– Nhận xét: Đó là những tình cảm chân thành, sâu sắc, cảm động.
Câu 5. (0,5 điểm)
– Học sinh trình bày được thông điệp có ý nghĩa với bản thân; lí giải hợp lí, thuyết phục.
(Gợi ý: Trân trọng, yêu thương, gắn bó với gia đình; Biết ơn công lao của cha mẹ;…)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật anh Hết trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về chủ đề: Tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng.
– Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật anh Hết.
– Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp,…
– Dung lượng: Trình bày đoạn văn khoảng 200 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể: HS triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Phân tích được vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật anh Hết qua những bằng chứng dẫn từ văn bản đọc hiểu:
– Hiếu thảo, yêu thương cha hết mực:
+ Chăm sóc cha từng bữa ăn, giấc ngủ: Nấu cơm, giặt giũ, chờ cha về mới ăn.
+ Dành phần ngon cho cha, nhường phần xương xẩu cho mình.
=> Tình cảm chân thành, sâu nặng.
– Tận tuỵ, hi sinh thầm lặng:
+ Đi làm thuê vất vả nhưng vẫn chu toàn việc nhà.
+ Tranh thủ giờ nghỉ về tắm rửa, chăm sóc cha.
=> Luôn đặt cha lên trên bản thân.
– Nhẫn nhịn, thấu hiểu cha: Khi bị cha rượt đánh, không chạy nhanh để cha đỡ mệt.
=> Yêu thương thể hiện bằng hành động nhỏ mà cảm động.
b2. Đánh giá:
– Anh Hết hiện lên là người lao động nghèo nhưng có vẻ đẹp phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng và ngợi ca.
– Nghệ thuật miêu tả chân thực, tinh tế của tác giả đã góp phần khắc hoạ sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.
b3. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: Xác định được yêu cầu nghị luận, đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng và sử dụng bằng chứng:
– Vấn đề nghị luận: Tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
– Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: Thực tế đời sống.
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội:
– Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giải thích được vấn đề nghị luận:
Tinh thần lạc quan là thái độ sống tích cực của con người, luôn biết tin tưởng vào điều tốt đẹp trong cuộc sống, không bi quan hay chán nản trước khó khăn, thử thách.
b3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận:
– Phân tích, chứng minh vì sao cần có tinh thần lạc quan:
+ Cuộc sống luôn có nhiều khó khăn, thử thách, thất bại mà con người phải đối mặt.
+ Nếu bi quan, con người dễ chán nản, bỏ cuộc, mất niềm tin vào bản thân.
+ Tinh thần lạc quan giúp con người nhìn nhận khó khăn theo hướng tích cực, có động lực vươn lên.
+ Nhờ đó, con người không chỉ vượt qua thử thách mà còn trưởng thành, mạnh mẽ hơn.
– Phân tích, chứng minh ý nghĩa của tinh thần lạc quan:
+ Tinh thần lạc quan giúp con người giữ được sự cân bằng cảm xúc, không bị căng thẳng, áp lực hay tiêu cực chi phối, từ đó sống nhẹ nhàng và bình tĩnh hơn trước mọi hoàn cảnh.
+ Lạc quan góp phần hình thành lối sống tích cực, yêu đời, giúp mỗi người biết trân trọng những điều giản dị, tìm thấy niềm vui trong cuộc sống hằng ngày.
+ Tinh thần lạc quan còn có khả năng lan toả năng lượng tích cực, truyền cảm hứng và động lực cho những người xung quanh, góp phần tạo nên môi trường sống thân thiện, nhân văn.
+ Nhờ có lạc quan, con người luôn hướng về tương lai với niềm tin và hi vọng, không bị chìm trong thất bại hay quá khứ, từ đó mạnh dạn theo đuổi ước mơ và mục tiêu của mình.
b4. Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận và rút ra bài học:
– Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận: Lạc quan không phải là ảo tưởng, chủ quan mà cần đi kèm với hành động và nỗ lực thực tế; phê phán lối sống bi quan, dễ bỏ cuộc.
– Rút ra bài học: Mỗi người cần rèn luyện tinh thần lạc quan trong học tập và cuộc sống; biết suy nghĩ tích cực, kiên trì trước khó khăn, không ngừng cố gắng,...
b5. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.