pin

Đề thi thử tuyển sinh vào lớp 10 của trường THPT Gang Thép (lần 2)

Đọc văn bản sau:

NÚI CỐC – BA BỂ: VẺ ĐẸP GẮN KẾT TỪ THIÊN NHIÊN

Hồ Núi Cốc – hồ Ba Bể là sự kết nối tinh tế giữa hai thắng cảnh tiêu biểu của Thái Nguyên, nơi thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp, bản sắc riêng và sức hấp dẫn du lịch. Từ mặt hồ phẳng lặng đến núi rừng xanh thẳm, cả hai cùng kể câu chuyện về sự hoà hợp bền vững giữa cảnh quan tự nhiên và con người.

Ảnh Hồ Ba Bể - Hồ Núi Cốc

Hồ Ba Bể  Hồ Núi Cốc

Mênh mang nước biếc

Hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể mỗi nơi có một nét đẹp riêng biệt. Một bên là sự giao hoà hài hoà giữa thiên nhiên và dấu ấn sáng tạo của con người, một bên là vẻ đẹp nguyên sơ, trầm lắng của đại ngàn. Dù mang những sắc thái khác nhau, cả hai cùng gặp nhau ở những giá trị cốt lõi: mặt nước mênh mang, núi rừng xanh thẳm, khí hậu trong lành và chiều sâu văn hoá dân gian. Hồ Núi Cốc nằm yên bình giữa những dãy núi xanh của Thái Nguyên, mặt nước phẳng lặng soi bóng mây trời. Với diện tích mặt nước khoảng 2.500ha, hồ Núi Cốc hiện đang được đầu tư phát triển thành khu du lịch tổng hợp, bao gồm du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, du lịch tâm linh và sinh thái, hướng tới vai trò hạt nhân thúc đẩy phát triển du lịch – dịch vụ của tỉnh. Trong khi đó, hồ Ba Bể mở ra giữa lòng núi rừng như một thế giới riêng, gắn với Vườn Quốc gia Ba Bể và hệ sinh thái rừng nguyên sinh phong phú. Nước hồ xanh thẫm, sâu và rộng, nối liền những dải núi đá vôi sừng sững in bóng xuống mặt nước. Không gian nơi đây tĩnh lặng, cổ xưa, mang lại cảm giác nguyên sơ và cuốn hút. Hồ Ba Bể có diện tích hơn 500ha, gắn với bản sắc văn hoá đặc trưng của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và trải nghiệm văn hoá bản địa.

Trọng điểm phát triển du lịch xanh

Đề án nhấn mạnh phát triển hồ Núi Cốc theo vai trò động lực, thu hút đầu tư các dự án du lịch quy mô lớn, đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông kết nối vùng và các sản phẩm nghỉ dưỡng cao cấp. Ngược lại, hồ Ba Bể được định vị theo hướng phát triển xanh và bền vững, đặt trọng tâm vào bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan và giá trị văn hoá truyền thống, đồng thời khuyến khích các mô hình du lịch cộng đồng, homestay gắn với sinh kế của người dân địa phương. [...]

Đặt trong mối liên kết không gian rộng hơn, hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể không chỉ là những điểm đến đơn lẻ mà còn là các mắt xích quan trọng trong mạng lưới du lịch sinh thái, văn hoá của vùng Việt Bắc. Khi được quy hoạch, đầu tư và khai thác hài hoà, hai thắng cảnh này sẽ trở thành biểu tượng của du lịch xanh, nhân văn và bền vững, góp phần gắn kết con người với thiên nhiên, hiện tại với tương lai, đồng thời nâng cao vị thế du lịch Thái Nguyên trên bản đồ du lịch quốc gia.

(Hải Yến, https://baothainguyen.vn/van-hoa/du-lich-thai-nguyen/202602/nui-coc-ba-be-ve-dep-gan-ket-tu-thien-nhien-99218cf)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra giá trị cốt lõi của hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể thể hiện trong văn bản.

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích ý nghĩa của nhan đề văn bản.

Câu 4 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của hai hình ảnh trong văn bản.

Câu 5 (1,0 điểm). Là một người dân của tỉnh Thái Nguyên, em hãy chia sẻ những việc có thể làm để quảng bá du lịch cho hai thắng cảnh hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn trên là: Thuyết minh.

Câu 2. Giá trị cốt lõi của hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể thể hiện trong văn bản: Mặt nước mênh mang, núi rừng xanh thẳm, khí hậu trong lành và chiều sâu văn hoá dân gian.

Câu 3. Ý nghĩa của nhan đề Núi Cốc – Ba Bể: Vẻ đẹp gắn kết từ thiên nhiên.

– Nhan đề đã khái quát nội dung chính của văn bản: Gợi lên sự tương đồng giữa hai địa danh hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể – hai hồ nước lớn của Thái Nguyên là ở vẻ đẹp thiên nhiên, thể hiện chủ đề ca ngợi thắng cảnh quê hương.

– Nhan đề tạo sự hấp dẫn cho văn bản, khơi gợi tâm thế tiếp nhận cho người đọc khi muốn tìm hiểu về hai danh thắng Núi Cốc và Ba Bể.

– Qua nhan đề, tác giả bày tỏ niềm yêu mến, tự hào về đất nước, mong muốn con người luôn biết trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên.

Câu 4.

– Hai hình ảnh trong văn bản: Hình ảnh hồ Ba Bể và hình ảnh hồ Núi Cóc.

– Tác dụng:

+ Hình ảnh tạo tính trực quan về vẻ đẹp hồ Núi Cốc và hồ Ba Bể.

+ Tạo nên tính hấp dẫn, sinh động cho văn bản, khơi gợi sự hứng thú tìm hiểu, khám phá cho người đọc.

+ Qua đó thấy được tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào của tác giả về những danh thắng của quê hương Thái Nguyên.

Câu 5.

– HS chia sẻ những việc có thể làm hợp lí, thuyết phục.

– Gợi ý:

+ Giới thiệu vẻ đẹp hồ Núi Cốc trên mạng xã hội, video, báo chí.

+ Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cảnh quan môi trường du lịch.

+ Tham gia các lễ hội, hoạt động văn hoá để thu hút du khách.

+ Giới thiệu các món ăn, sản phẩm đặc trưng của địa phương.

+ …

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm). Từ nội dung phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của thiên nhiên trong cuộc sống con người.

Câu 2 (4,0 điểm). Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích chủ đề và một số đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn sau:

QUÊ HƯƠNG

Cả lớp lặng im, những con mắt đổ dồn về phía tôi khi nghe tôi đọc xong bài văn tả phong cảnh quê hương được cô giáo cho điểm cao nhất lớp hôm nay. Cô giáo đi lại gần, hỏi tôi thoáng một chút nghi ngờ:

Là một học sinh thành phố, làm thế nào mà em có thể viết được một bài văn tả quê hương sâu sắc, chân thật và gần gũi đến như vậy?

– Thưa cô... bà em... giúp em ạ!

– Sao? Em vừa nói gì? Bà em viết hộ em à?

– Thưa cô, không ạ!... Vâng, đúng ạ!

Tôi nhìn ra hàng phượng vĩ trước sân trường và chợt nhớ đến mùa hè năm ấy... Tháng 5, bố đưa tôi về quê nội. Quê nội tôi, một xóm nghèo bên kia sông Hồng. Biết bao lần, tôi đã mơ ước được về thăm quê, thăm bà, thế nhưng mới bước chân lên con đường làng lầy lội, lớp nhớp bùn sau cơn mưa, nhìn những mái nhà tranh thấp tè ẩm ướt sau luỹ tre làng, tôi đã bắt đầu thất vọng. Tôi không dám cằn nhằn nhưng ấm ức nghĩ thầm: “Sao mà bẩn thế! Biết thế này, mình chẳng đòi bố cho về nữa.”. Bố tôi tươi cười chào người làng, có lúc lại còn đứng lại nói chuyện với một bác gánh phân. Bữa cơm trưa hôm ấy, bà tôi tấm tắc khen ngon và gắp vào bát tôi miếng thịt luộc. Tôi gắp ra nhăn mặt: “Mỡ thế này, cháu ăn làm sao được!”. Bố chan cho tôi canh cua, mới ăn được một miếng tôi đã vội kêu lên: “Canh chưa cho mì chính, nhạt lắm, lại hôi hôi, con ăn chưa quen...”. Cả nhà lặng người. Bố tôi tái mặt vì giận...

Tối hôm ấy trăng rằm, bà tôi kê ghế ra ngoài sân nhặt khoai lang và kể cho tôi nghe đủ mọi chuyện. Bà kể rằng, bố tôi đã từ nơi này ra đi. Và chính nơi này, bố tôi đã lớn lên bằng lời ru của bà, bằng đôi tay ẵm bồng của bao người. Bà đã từng mớm cơm cho tôi, nuôi tôi khôn lớn ở đây... Tình cảm quê mùa nhưng chân thật. Bà chỉ tay về phía góc trời sáng rực lên và bảo đó là Hà Nội. Bà bảo rằng: “Ở Hà Nội sướng hơn ở quê nên ai ai cũng ước ao được sống ở Hà Nội, còn bà thì bà thích ở quê hơn vì bà quen mát rồi. Nếu cháu cứ ở Hà Nội mãi, sẽ chẳng bao giờ biết được ánh trăng ở quê đẹp như thế nào đâu!”. Tôi ngước nhìn lên bầu trời xanh thẳm không một gợn mây chi chít những vì sao. Trăng treo lơ lửng trên đầu ngọn tre in đậm lên nền trời. Ánh trăng trùm lấy mái nhà và khu vườn rau xanh tốt của bà. Lúc ấy, tôi bỗng nắm chặt lấy tay bà và thốt lên: “Bà ơi! Trăng ở quê đẹp thật bà ạ!”.

Sau mùa hè năm ấy, bà nội tôi đã ra đi mãi mãi. Hè nào tôi cũng xin bố cho về thăm quê. Quê nội tôi bây giờ cũng khác hẳn, chẳng còn một tý dấu vết nào của ngày xưa nữa. Những dãy nhà hai, ba tầng san sát nhau mọc lên như nấm. Không ai còn nhớ nổi bóng dáng luỹ tre xanh... Tôi cầm bút viết, dồn tất cả tình cảm nhớ thương sâu đậm với bà vào bài tập làm văn tả phong cảnh quê hương hôm ấy... Tôi viết về quê hương tôi với luỹ tre xanh mát rượi và ánh trăng rằm dịu ngọt. Phải rồi, tôi bỗng hiểu ra rằng: chính bà đã làm xanh mãi ước mơ của tôi.

(Đào Quốc Thịnh, Tuyển tập truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi, 2018)

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

a. Đảm bảo thể thức đoạn văn nghị luận: Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, song hành, móc xích,...

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Suy nghĩ về vai trò của thiên nhiên trong cuộc sống con người.

c. Triển khai vấn đề nghị luận:

– Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ suy nghĩ của bản thân về vai trò của thiên nhiên.

– Có thể theo hướng:

+ Thiên nhiên cung cấp các nhu cầu sinh tồn cơ bản như không khí, nước, thức ăn và nguồn tài nguyên phong phú như đất, khoáng sản, lâm sản phục vụ sản xuất.

+ Thiên nhiên còn giúp điều hoà khí hậu, bảo vệ con người trước thiên tai và còn là nơi thư giãn, chữa lành tinh thần. Vẻ đẹp thiên nhiên cũng là nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật, văn học.

+ Ngoài ra, thiên nhiên còn góp phần phát triển kinh tế từ sản xuất nông nghiệp, lâm thuỷ sản, khoáng sản và du lịch sinh thái.

+ Bởi vậy, mỗi người phải có trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên và lên án mạnh mẽ những trường hợp cố tình phá hoại thiên nhiên.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2.

a. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận: Đảm bảo yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và một số đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Quê hương” – Đào Quốc Thịnh.

c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. Sau đây là một số gợi ý:

* Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tác phẩm “Quê hương”, tác giả Đào Quốc Thịnh và vấn đề nghị luận.

* Phân tích chủ đề:

– Chủ đề của truyện: Ca ngợi tình yêu quê hương gắn liền với tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu sâu nặng. Qua đó, truyện nhắn nhủ con người cần biết trân trọng cội nguồn, gia đình và những giá trị giản dị nhưng thiêng liêng của cuộc sống.

– Phân tích chủ đề thể hiện qua nhân vật: Vai trò quan trọng của gia đình và quê hương trong việc làm thay đổi suy nghĩ của nhân vật tôi theo chiều hướng tích cực:

+ Nhân vật tôi bồi hồi, xúc động nhớ lại kỷ niệm lần đầu về quê nội thăm bà. Lúc đó, nhân vật đã có thái độ chê bai, thất vọng vì cuộc sống ở quê: Đường làng lầy lội, thịt toàn mỡ, canh cua nhạt, không mì chính,...

+ Câu chuyện của bà về tuổi thơ của bố giúp nhân vật tôi nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống: Biết ơn, trân quý cội nguồn, gia đình và quê hương.

+ Khi bà đã mất, hè năm nào nhân vật tôi cũng về thăm quê dù quê hương đã đổi thay song những ký ức về bà, về ánh trăng, luỹ tre làng mãi in sâu trong tâm trí tôi.

– Một số đặc sắc nghệ thuật:

+ Ngôi kể thứ nhất: Người kể chuyện xưng tôi tạo sự gần gũi, chân thực.

+ Cốt truyện đơn giản nhưng giàu ý nghĩa.

+ Tình huống truyện tự nhiên đặt nhân vật vào tình huống đời thường để bộc lộ sự thay đổi trong tâm trạng, suy nghĩ của mình.

+ Nhân vật được xây dựng chủ yếu qua suy nghĩ, hành động, lời nói,...

* Đánh giá:

– Truyện ngắn “Quê hương” của tác giả Đào Quốc Thịnh đã giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn những điều giản dị trong cuộc sống: Biết yêu quý những người thân yêu, trân trọng cội nguồn. Đó cũng chính là biểu hiện của tình yêu quê hương, đất nước cần có của mỗi người trong hành trình trưởng thành.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này