Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử tốt nghiệp THPT lần 2 (Sở GD và ĐT tỉnh Đồng Nai) SVIP
Đọc đoạn trích sau:
ƯỚC MƠ VỀ MỘT “ĐỒNG ĐÔ” THẾ KỶ XXI
Xin khẳng định để tránh hiểu nhầm “Đồng Đô” ở đây không phải là Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội) mà Hồ Quý Ly đổi danh xưng Thăng Long thành Đông Đô để phân biệt với Tây Đô ở Thanh Hoá năm 1397, “Đồng Đô” ở đây là một mỹ danh mà dân gian dành cho vùng đất Biên Hoà – Đồng Nai xưa. Cũng như người ta gọi Cần Thơ là Tây Đô vậy và đó là một bộ phận không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam.
1. Nam Bộ bao gồm cả miền Đông và miền Tây là một vùng đất trẻ của dân tộc Việt Nam. Trong vùng đất mới hơn 300 năm ấy, “tuổi đất” lẫn tuổi “giấy” khai sinh – tên hành chánh “quốc gia” của miền Tậy Nam Bộ, trong đó có Trấn Giang (tên cũ của Cần Thơ – trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long [...]) hẳn còn trẻ lắm so với đất phù sa cổ của miền Đông Nam Bộ với Trấn Biên, rôi Biên Hoà với tư cách là trung tâm của các tỉnh miền Đông. [...]
Đặc biệt, Biên Hoà có thương cảng Nông Nại (cù lao Phố) sầm uất bậc nhất ở phương Nam. Mặc dù chỉ là một cảng sông, nằm cách biển gần 70 cây số nhưng nhờ địa thế về luồng lạch sâu, phong cách mua bán, thế mạnh về các mặt hàng nông – lâm – thổ sản [...] nên Nông Nại trở thành một thương cảng mang tầm vóc quốc tế. Cho nên từ thương cảng Nông Nại, Biên Hoà kết nối với các đường hàng hải quốc tế, nhờ đó đây là nơi mở cửa ra thể giới sớm nhất Nam Bộ.
2. Thương cảng nằm ở cù lao có 13 thôn nối với Bàn Lân bên đất liền bằng một chiếc cầu gỗ bắc qua rạch Cát (vị trí ở đầu cầu Hiệp Hoà hiện nay) kết nối với chợ Dinh, chợ lớn nhất Trấn Biên lúc bấy giờ có dáng dấp như một chợ đầu mối ngày nay (vị trí nằm phía sau đình Phước Lư hiện nay).
Điều đặc biệt là cù lao chỉ rộng 700 mẫu ấy có 13 thôn, mỗi thôn đều mang một tên riêng từ thời người Việt mới đến. Vậy mà khi nhắc đến vùng đất cù lao hình quả chuông sau khi có thương cảng, người ta gọi là cù lao Phố. Nghĩa là trên đất cù lao có phố xá – không phải là những dãy phố nhỏ bình thường mà là phố lớn: Nông Nại Đại phố. [...]
Cho nên người ta gọi thương cảng Nông Nại – Dou nai – Đồng Nai là Nông Nại Đại phố, cũng có khi gọi là Đông phố. Sau này, dù 13 thôn sáp nhập thành 3 ấp: Nhứt Hoà, Nhị Hoà và Tam Hoà, rồi tiếp tục sáp nhập thành Hiệp Hoà nhưng dân gian vẫn gọi vùng đất hình quả chuông này là cù lao Phố một cách tự hào, hãnh diện.
3. Nông Nại Đại phố mở cứa ra biển lớn, chỉ độ gần 100 năm, nó góp phần làm cho thế giới biết đến Đồng Nai – Đông phố – là một nơi “đại đô hội”.
Đến giữa những năm 20 của thế kỷ XXI, qua Cảng hàng không quốc tế (sân bay) Long Thành, Đồng Nai mở cửa bầu trời, đưa cái tên Long Thành – “Thành Rồng” ra với cộng đồng thế giới. Đi cùng với đẩy nhanh quá trình xây dựng sân bay, một đề án quy hoạch đô thị sân bay rộng 43 ngàn hécta đã được Đồng Nai thông qua và triển khai thực hiện đến năm 2045. Đây sẽ là một đô thị lớn với trung tâm là Sân bay Long Thành rộng 5 ngàn hécta. Rồi đây, bằng tình yêu, lòng tự hào, trách nhiệm, ước mơ và cả khát vọng, người Đồng Nai sẽ biến những vùng đất ven các trục giao thông chính kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh thành một nơi đô hội đáng sống làm bệ phóng cho những ý tưởng sáng tạo.
Cù lao Phố – Nông Nại Đại phố – Đông Phố – Đông Đô một thời trong ký ức người Biên Hoà – Đồng Nai (Biên Hoà ở đây xin hiểu theo nghĩa rộng của thời Nam Kỳ lục tỉnh), tương lai sẽ trở thành “Thành Rồng” – Đông Đô mới của Biên Hoà – Đồng Nai thế kỷ XXI.
(Mai Sông Bé, Nguồn: https://baodongnai.com.vn, ngày 24/04/2026)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra một yếu tố hình thức của văn bản thông tin trong đoạn trích trên.
Câu 2. Theo văn bản, yếu tố nào giúp Đồng Nai xưa và nay được thế giới biết đến?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê trong câu văn sau: Rồi đây, bằng tình yêu, lòng tự hào, trách nhiệm, ước mơ và cả khát vọng, người Đồng Nai sẽ biến những vùng đất ven các trục giao thông chính kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh thành một nơi đô hội đáng sống làm bệ phóng cho những ý tưởng sáng tạo.
Câu 4. Nêu mục đích của việc tác giả trình bày thông tin theo trật tự thời gian (từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai) trong đoạn trích.
Câu 5. Theo anh/ chị, việc khai thác và phát huy các giá trị lịch sử có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của quê hương? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng).
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
– HS chỉ ra được một yếu tố hình thức của văn bản thông tin trong đoạn trích
– Một số yếu tố hình thức của văn bản thông tin trong đoạn trích: Văn bản được trình bày theo các đề mục đánh số (“1.”, “2.”, “3.”); có nhan đề, có nguồn trích dẫn, có thông tin thời gian đăng bài,…
Câu 2. (0,5 điểm)
Theo văn bản, yếu tố giúp Đồng Nai xưa và nay được thế giới biết đến là:
– Xưa: “thương cảng Nông Nại” – “một thương cảng mang tầm vóc quốc tế”, giúp Biên Hoà – Đồng Nai “kết nối với các đường hàng hải quốc tế”.
– Nay: “Cảng hàng không quốc tế (sân bay) Long Thành”, góp phần “đưa cái tên Long Thành – “Thành Rồng” ra với cộng đồng thế giới”.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Biện pháp liệt kê: Rồi đây, bằng tình yêu, lòng tự hào, trách nhiệm, ước mơ và cả khát vọng.
– Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Cách diễn đạt tạo nhịp điệu dồn dập, tăng sức biểu cảm cho câu văn.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh những tình cảm, động lực tinh thần to lớn của người Đồng Nai trong công cuộc xây dựng quê hương; thể hiện niềm tin vào sự phát triển của Đồng Nai trong tương lai; qua đó gợi niềm tự hào và khơi dậy ý thức trách nhiệm của con người đối với quê hương, đất nước.
Câu 4. (1,0 điểm)
Mục đích của việc trình bày thông tin theo trật tự thời gian (từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai):
– Giúp thông tin mạch lạc, logic và dễ theo dõi hơn.
– Giúp người đọc thấy được quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Biên Hoà – Đồng Nai qua các thời kì.
– Làm nổi bật truyền thống lịch sử, vị thế giao thương quan trọng của Đồng Nai từ xưa đến nay.
– Khẳng định sự kế thừa giữa truyền thống và hiện đại, từ đó thể hiện niềm tin và khát vọng về sự phát triển trong tương lai của quê hương.
Câu 5. (1,0 điểm)
– HS trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
– Gợi ý trả lời: Việc khai thác và phát huy các giá trị lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của quê hương:
+ Giúp giữ gìn bản sắc văn hoá, truyền thống lịch sử và bồi đắp lòng yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.
+ Tạo nền tảng để phát triển du lịch, dịch vụ, quảng bá hình ảnh địa phương trong nước và quốc tế.
+ Khơi dậy ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo tồn di sản và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
+ Góp phần kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hoá bền vững.
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những chuẩn bị cần thiết của người trẻ để thích ứng với sự thay đổi của quê hương trong bối cảnh phát triển hiện nay.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/ Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng Tổ quốc được thể hiện qua hai đoạn thơ sau:
Tổ quốc là khi mẹ sinh con
Có cái mũi dọc dừa, màu da vàng như nắng
Đêm trở dạ có bà con chòm xóm
Bếp lửa hồng ấm suốt cả đời ta
Con lớn như măng trong sự tích đằng ngà
Hồn trẻ Việt tự mang hồn Thánh Gióng
Nết phúc hậu dịu dàng cô Tấm
Nghĩa đồng bào ôm trọn biển và non
Là ngọt ngào tiếng Việt môi son
Ôi tiếng Việt bao thăng trầm xa xót
Cánh cò bay lả vào câu hát
Chạm trang Kiều, tiếng Việt hoá lung linh
[…]
(Nguyễn Sĩ Đại1, trích Tổ quốc, Trái tim người lính, NXB Hội Nhà văn, 1998, tr.78)
Tổ quốc là tiếng mẹ
Ru ta từ trong nôi
Qua nhọc nhằn năm tháng
Nuôi lớn ta thành người
Tổ quốc là mây trắng
Trên ngút ngàn Trường Sơn
Bao người con ngã xuống
Cho quê hương mãi còn
Tổ quốc là cây lúa
Chín vàng mùa ca dao
Như dáng người thôn nữ
Nghiêng vào mùa chiêm bao
[…]
(Nguyễn Việt Chiến2, trích Tổ quốc là tiếng mẹ, Tổ quốc nhìn từ biển, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr.45)
* Chú thích:
(1) Nguyễn Sĩ Đại (sinh năm 1955, Hà Tĩnh) là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca đương đại Việt Nam, đặc biệt gắn với vùng đất xứ Nghệ giàu truyền thống văn hoá. Thơ ông giản dị, chân thành, dễ tiếp nhận. Một số tác phẩm tiêu biểu: Lá (1980 – 1990), Nơi em về (1989), Trái tim người lính (1998).
(2) Nguyễn Việt Chiến (sinh năm 1952, Hà Nội) là nhà thơ, nhà báo. Thơ ông giàu chất suy tưởng, mang cảm hứng công dân và tình yêu Tổ quốc gắn với lịch sử, chủ quyền. Một số tác phẩm tiêu biểu: Mưa lúc không giờ (1992), Ngọn sóng thời gian (1998), Tổ quốc nhìn từ biển (2011).
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng.
– Vấn đề nghị luận: Những chuẩn bị cần thiết của người trẻ để thích ứng với sự thay đổi của quê hương trong bối cảnh phát triển hiện nay.
– Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song song.
– Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể (1,0 điểm): HS triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các thao tác lập luận.
b1. Giải thích vấn đề:
– Sự thay đổi của quê hương là quá trình phát triển về kinh tế, đô thị, công nghệ, giao thông, đời sống xã hội,…
– Chuẩn bị cần thiết là trang bị kiến thức, kĩ năng, tư tưởng và trách nhiệm để thích nghi, đóng góp cho sự phát triển của quê hương.
b2. Bàn luận: HS có thể triển khai theo nhiều hướng nhưng cần làm nổi bật một số ý cơ bản sau:
– Người trẻ cần chủ động học tập, nâng cao tri thức và năng lực nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.
– Cần rèn luyện các kĩ năng thích ứng như tư duy sáng tạo, sử dụng công nghệ, khả năng giao tiếp – hợp tác,…
– Phải có tinh thần trách nhiệm, ý thức cống hiến và khát vọng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp; có thái độ sống tích cực, sẵn sàng trước những thay đổi và cơ hội mới của quê hương.
– Biết giữ gìn bản sắc văn hoá, trân trọng các giá trị lịch sử truyền thống trong quá trình hội nhập và phát triển.
b3. Đánh giá, mở rộng (0,25 điểm):
– Sự phát triển của quê hương vừa tạo ra cơ hội vừa đặt ra nhiều thách thức đối với thế hệ trẻ. Nếu không chủ động chuẩn bị, người trẻ dễ bị tụt hậu, khó thích nghi với nhịp sống hiện đại.
– Ngược lại, khi có tri thức, bản lĩnh và trách nhiệm, người trẻ sẽ trở thành lực lượng quan trọng góp phần phát triển quê hương, đất nước.
b4. Sáng tạo (0,25 điểm):
– Có cách diễn đạt mạch lạc, lập luận thuyết phục.
– Thể hiện được suy nghĩ riêng, góc nhìn tích cực và phù hợp với vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (1,0 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng.
– Vấn đề nghị luận: So sánh, đánh giá hình tượng Tổ quốc được thể hiện qua hai đoạn thơ Tổ quốc (Nguyễn Sĩ Đại) và Tổ quốc là tiếng mẹ (Nguyễn Việt Chiến).
– Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: Chủ yếu lấy từ hai đoạn thơ; có thể liên hệ thêm những tác phẩm viết về Tổ quốc để mở rộng vấn đề.
b. Yêu cầu cụ thể: HS triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận văn học.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội (0,5 điểm):
– Mở bài: Giới thiệu được khái quát đề tài Tổ quốc trong thơ ca Việt Nam và dẫn vào hai đoạn thơ.
– Kết bài: Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ; nêu cảm nhận về tình yêu quê hương, đất nước được khơi gợi từ tác phẩm.
b2. Giải thích, khái quát vấn đề nghị luận (0,5 điểm):
Cả hai đoạn thơ đều thể hiện hình tượng Tổ quốc gần gũi, thiêng liêng qua những hình ảnh quen thuộc của đời sống dân tộc. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ lại có cách cảm nhận và biểu đạt riêng, tạo nên những sắc thái độc đáo cho hình tượng Tổ quốc.
b3. Phân tích, so sánh và đánh giá (1,0 điểm):
– Điểm giống nhau:
+ Cả hai đoạn thơ đều thể hiện hình tượng Tổ quốc qua những hình ảnh gần gũi, bình dị của đời sống dân tộc. Tổ quốc không hiện lên bằng những khái niệm lớn lao, trừu tượng mà gắn với những điều thân thuộc như “mẹ sinh con”, “bếp lửa hồng”, “tiếng mẹ”, “cây lúa”, “câu hát”, “ca dao”.
+ Các nhà thơ khẳng định Tổ quốc được hình thành từ chiều sâu văn hoá, truyền thống và đời sống tinh thần của nhân dân.
+ Cả hai đoạn thơ đều bộc lộ tình yêu tha thiết, niềm tự hào sâu sắc đối với quê hương, đất nước bằng giọng thơ giàu cảm xúc, tha thiết, chân thành.
– Điểm khác nhau:
+ Đoạn thơ Tổ quốc (Nguyễn Sĩ Đại):
++ Hình tượng Tổ quốc được cảm nhận ở chiều sâu văn hoá – lịch sử dân tộc: “mẹ sinh con”, “bếp lửa hồng”, “tiếng Việt”, “cô Tấm”, “Thánh Gióng”, “Truyện Kiều”,… Tổ quốc gắn với cội nguồn dân tộc, truyền thống văn học, văn hoá và tâm hồn của người Việt.
++ Nhà thơ nhấn mạnh sự hình thành nhân cách, tâm hồn con người Việt Nam trong dòng chảy văn hoá dân tộc.
++ Giọng thơ giàu chất suy tưởng, liên tưởng phong phú; hình ảnh mang chiều sâu biểu tượng.
+ Đoạn thơ Tổ quốc là tiếng mẹ (Nguyễn Việt Chiến):
++ Hình tượng Tổ quốc được cảm nhận qua vẻ đẹp gần gũi của quê hương và sự hi sinh của con người: “tiếng mẹ”, “mây trắng”, “Trường Sơn”, “cây lúa”, “mùa ca dao”,… Tổ quốc vừa dịu dàng, thân thương, vừa thiêng liêng bởi sự đánh đổi, hi sinh của bao thế hệ.
++ Nhà thơ nhấn mạnh công lao của những người đã ngã xuống “Cho quê hương mãi còn”.
++ Giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết; hình ảnh giàu chất trữ tình.
– Đánh giá:
+ Hai đoạn thơ đều góp phần làm phong phú hình tượng Tổ quốc trong thơ ca hiện đại.
+ Qua những cảm nhận riêng, cả hai nhà thơ đều khẳng định rằng Tổ quốc hiện diện trong những điều gần gũi nhất của đời sống; tình yêu Tổ quốc bắt nguồn từ tình yêu gia đình, quê hương, tiếng nói và truyền thống dân tộc.
b4. Mở rộng, nâng cao vấn đề (0,5 điểm):
– Đề tài Tổ quốc luôn là nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Việt Nam qua nhiều thời kì. Trong bối cảnh hôm nay, những vần thơ về Tổ quốc vẫn có ý nghĩa bồi đắp lòng yêu nước, ý thức giữ gìn văn hoá dân tộc và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
– Liên hệ một số tác phẩm cùng đề tài như Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), Tổ quốc (Huy Cận),…
b5. Sáng tạo (0,5 điểm):
– Có cách diễn đạt mạch lạc, giàu cảm xúc; lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phù hợp.
– Biết kết hợp phân tích và so sánh hài hoà.
– Thể hiện được những cảm nhận riêng sâu sắc về hình tượng Tổ quốc trong thơ ca Việt Nam.