Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử kì tuyển sinh vào 10 SVIP
Đọc văn bản sau:
Ước mơ đi xa vời nhưng nếu không ước mơ thì chẳng bao giờ điều mong muốn của chúng ta thành hiện thực. Ta chỉ có thể có trong tay những gì mà tâm ta khao khát mạnh mẽ muốn được như thế.
Để đạt được ước mơ thì phải không ngừng suy nghĩ về nó, đến khi nó thấm sâu vào tiềm thức.
Khi chúng ta có thể nói ra thành lời những ước muốn thì cũng là lúc chúng ta bắt đầu hành động, và nhờ những hành động thực tế, chúng ta đã có thể biến những ước muốn thành hiện thực.
Hoài bão càng lớn thì quãng đường để đi càng xa. Tuy nhiên nếu ta có thể "thấy" rõ ràng sự vật được hoàn tất, nếu ta làm đi làm lại theo phương pháp mô phỏng đi tới kết quả, và hình dung được toàn bộ một cách chi tiết thì cũng với việc hiện rõ con đường dẫn đến thành công, chúng ta cũng có được vô số đáp án để tiến gần hơn mục tiêu. [...]
Người ta thường hay lấy ví dụ: Biết bao người đã từng nhìn thấy quả táo rơi từ trên cây xuống nhưng chỉ có Newton nhận ra sự tồn tại của lực hấp dẫn mà thôi.
Đó là do Newton luôn ý thức vấn đề một cách mãnh liệt, thấm sâu vào mọi suy nghĩ hằng ngày. Và ở phần trước tôi đã nói về "lời thì thầm của vị thần" – cảm hứng sáng tạo – chỉ được ban cho những người luôn ấp ủ hoài bão, không bao giờ từ bỏ khát vọng mãnh liệt trong giấc mơ của mình.
Chúng ta hãy ấp ủ hoài bão đến tận cuối cuộc đời, chúng ta hãy trở thành con người có thể tạo nên tương lai xán lạn cho chính mình.
(Trích Cách sống từ bình thường trở nên phi thường,
Inamori Kazuo, NXB Lao động, 2022, tr.77-78)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định vấn đề nghị luận của đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra thành phần biệt lập trong câu văn sau: Và ở phần trước tôi đã nói về "lời thì thầm của vị thần" – cảm hứng sáng tạo – chỉ được ban cho những người luôn ấp ủ hoài bão, không bao giờ tù bỏ khát vọng mãnh liệt trong giấc mơ của mình.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích vai trò của bằng chứng được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu thái độ của tác giả thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích, em hãy trình bày những việc bản thân cần làm để theo đuổi ước mơ.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Vấn đề nghị luận: Vai trò của ước mơ, hoài bão và cách con người theo đuổi ước mơ để biến nó thành hiện thực.
Câu 2. (0,5 điểm)
– Thành phần biệt lập là: "cảm hứng sáng tạo".
– Phân loại: Thành phần phụ chú (Dùng để giải thích cho cụm từ "lời thì thầm của vị thần").
Câu 3. (1,0 điểm)
– Đoạn trích sử dụng dẫn chứng về Newton và quả táo rơi.
– Tác dụng:
+ Làm sáng tỏ luận điểm: Thành công đến từ việc luôn suy nghĩ, ấp ủ hoài bão mãnh liệt.
+ Tăng tính thuyết phục, cụ thể và sinh động cho lập luận.
+ Giúp người đọc hiểu rằng phát hiện vĩ đại không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình suy nghĩ bền bỉ.
Câu 4. (1,0 điểm)
Thái độ của tác giả thể hiện trong đoạn trích:
– Tin tưởng và lạc quan: Tác giả tin rằng mỗi người đều có khả năng tạo nên tương lai xán lạn nếu có ước mơ.
– Chân thành và khích lệ: Sử dụng những từ ngữ như "chúng ta hãy", "hãy ấp ủ" thể hiện sự cổ vũ, truyền cảm hứng mạnh mẽ đến người đọc.
– Sâu sắc và nghiêm túc: Tác giả nhìn nhận việc theo đuổi ước mơ không phải là mơ mộng hão huyền mà là một quá trình rèn luyện tâm trí và hành động thực tế đầy quyết tâm.
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh đề cuất một số việc cần làm để theo đuổi ước mơ. Gợi ý:
– Xác định ước mơ rõ ràng: Phải biết bản thân thực sự khao khát điều gì và dám ước mơ những điều lớn lao (hoài bão).
– Nuôi dưỡng ước mơ trong tâm trí: Luôn suy nghĩ, trăn trở về mục tiêu đó hằng ngày để nó thấm sâu vào tiềm thức, tạo thành nguồn lực nội sinh.
– Hành động quyết liệt: Không dừng lại ở việc mơ mộng mà phải bắt đầu bằng những việc làm cụ thể, thực tế vì "hành động mới biến ước muốn thành hiện thực".
– Kiên trì và không từ bỏ: Giữ vững khát vọng mãnh liệt cho đến cuối cuộc đời, dù quãng đường đi có xa hay gặp nhiều khó khăn.
Câu 1 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước mơ trong cuộc sống con người.
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật người bà trong truyện ngắn sau:
BÁT CANH CỦA BÀ
Nếu như bà ngoại tôi còn sống đến giờ thì năm nay bà đã trên một trăm tuổi. Nói vậy thôi, chứ bà làm sao có thể sống được đến nay, vì chính tôi – khi xưa là thằng bé tám, chín tuổi – bây giờ đã có một lũ cháu gọi bằng ông rồi.
Ngày ấy, tôi sống với thầy mẹ tôi ở tỉnh xa, lâu lâu mới được về quê. Tôi nhớ quê mình hồi đó thật nghèo, bốn bên là đồng chiêm trũng. Bà ngoại ở tít xóm trên, được tin chúng tôi về, bà thường mang quà đến cho, khi thì tấm mía, khi thì mấy củ khoai lang luộc, toàn những thứ tự tay bà trồng ra cả. Bà làm gì có tiền để mua cho chúng tôi các thứ quà chợ.
Tôi nhớ người bà gầy quá, đầu bà vấn khăn mỏ quạ, áo nâu vá lắm sẹo, áo cánh nâu. Bà không biết chữ, nhưng bà thuộc nhiều câu ca, câu vè lắm.
Kỉ niệm đậm nét nhất trong tôi về bà ngoại là hôm bà cho chúng tôi ăn bữa canh cua nấu với rau tập tàng. Rau tập tàng có nghĩa là các loại rau hỗn hợp, phần lớn là mọc hoang. Tôi xin đi theo bà để hái rau. Bà chỉ cho tôi từng loại rau một. Đây là cây dền cơm mọc từng bụi, lá xanh, có hoa làm tấm ở đầu nhánh. Đây là rau đay, cọng tía, lá hình mắt người. Nơi rau dền và rau đay mọc, thường có các loại châu chấu, cào cào sinh sống; tôi quên cả hái rau để vồ bắt chúng, khiến bà tôi phải nhắc. Đây là rau sam mọc lan từng khóm sát đất, lá nhỏ như tai chuột mà dày, trên xanh dưới tía, hoa vàng li ti. Đây là dây mùng tơi leo trên bụi duối, hàng chục ngọn ngóc lên tinh nghịch như cùng nhau chơi trốn tìm, từng chuỗi hoa trắng như hạt cườm, quả chín màu tím đậm. Bà tôi và tôi đã hái đầy một rổ.
Bà bảo tôi:
– Cháu đợi bà hái ít bông thiên lý, bát canh có nó thơm mà mát lắm.
Bà ra gần bờ ao, nơi có giàn thiên lý bà trồng. Tôi đòi cùng được hái với bà. Bà nói:
– Không được đâu. Nhỡ có rắn lúc nó cắn cháu. Rắn lúc thích hoa thiên lý lắm.
Tôi hỏi:
– Bà ơi, thế bà đã trông thấy rắn lúc bao giờ chưa?
Bà cười:
– Ấy là nghe các cụ nói thế, chứ bà chưa thấy bao giờ. Cứ phải cẩn thận là hơn, cháu ạ.
Bà tôi hái xuống năm bông hoa thiên lý, chùm đang nụ, chùm nở màu vàng xanh, hương thơm ngọt lịm. Sau đó bà ra cầu ao rửa rau và đi làm cua. Cua bà bắt là cua bờ nông. Tiết tháng sáu ta, nắng gắt nung đốt làm nước ruộng sủi tăm, nhưng con cua phải bò lên thân cây lúa để trốn nóng. Bà ngoại bắt chúng khá dễ dàng. Trong giỏ cua bà có đến năm chục con, con mai vàng, con mai màu xanh đá, con nào con nấy đều giương càng lên như để doạ tôi. Ấy thế mà bà trị được hết, chả con nào cắp được vào ngón tay bà.
Tôi thật không sao quên được bữa cơm chiều hôm ấy. Chỉ có món canh cua nấu rau tập tàng và cà muối, với một niêu cơm gạo đỏ. Bà ơi, đã gần sáu chục năm qua, cháu vẫn nhớ bát canh của bà, gạch cua béo ngậy, các loại rau thơm và mát, quả cà giòn tan, còn cơm bà nấu sao mà bùi và ngọt thế. Bà cứ tìm tôi ngồi nhìn cháu ăn, bà còn quạt cho cháu bằng cái mo cau nữa.
Bây giờ thì quê ta đã giàu có hơn, khác hẳn trước rồi. Bà đã có một đàn cháu, chắt, chút, chít, được nuôi nấng và học hành tử tế. Rau cỏ bây giờ nhiều loại hơn trước. Thức ăn cũng sẵn. Nhưng quên làm sao được nồi canh rau tập tảng ngày ấy, ngọt ngào lòng thơm thảo của bà.
Tháng 7/1995
(Những truyện hay viết cho thiếu nhi,
Vũ Tú Nam, NXB Kim Đồng, 2024, tr.188-189)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước mơ trong cuộc sống con người.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Mở đoạn:
+ Dẫn dắt vấn đề: Cuộc đời mỗi người là một hành trình dài, và hành trình ấy sẽ vô nghĩa nếu thiếu đi những ước mơ.
+ Nêu vấn đề: Ước mơ đóng vai trò là "kim chỉ nam" và nguồn động lực vô tận dẫn dắt con người tới thành công.
– Thân đoạn:
+ Giải thích: Ước mơ là những mục tiêu, hoài bão, là những điều tốt đẹp mà con người khao khát đạt được trong tương lai.
+ Vai trò của ước mơ:
++ Định hướng cuộc sống: Ước mơ giúp con người xác định được mục đích sống, biết mình là ai và mình muốn đi đâu, tránh rơi vào trạng thái sống hoài, sống phí.
++ Tạo động lực mạnh mẽ: Khi có ước mơ, con người có thêm sức mạnh để vượt qua nghịch cảnh, biến những khó khăn thành thuốc thử để rèn luyện bản lĩnh (như ví dụ về Newton hay các nhà khoa học).
++ Hoàn thiện bản thân: Quá trình theo đuổi ước mơ buộc chúng ta phải học hỏi, rèn luyện kỹ năng và đạo đức, từ đó trở thành phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình.
++ Đóng góp cho xã hội: Những ước mơ lớn lao của cá nhân thường tạo ra những giá trị hữu ích cho cộng đồng (ví dụ: Ước mơ chữa bệnh, ước mơ bảo vệ môi trường).
+ Phản đề/ Mở rộng:
++ Phân biệt ước mơ với mộng tưởng hão huyền (ước mơ cần đi đôi với hành động thực tế).
++ Phê phán những người sống không mục đích, không có khát vọng.
– Kết đoạn:
+ Khẳng định lại ý nghĩa: Ước mơ làm cho cuộc sống trở nên rực rỡ và đáng sống hơn.
+ Thông điệp/ Bài học: Đừng sợ ước mơ lớn, hãy bắt đầu bằng những hành động nhỏ để chinh phục nó.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Phân tích nhân vật người bà trong truyện ngắn "Bát canh của bà".
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
* Mở bài:
– Giới thiệu tác phẩm: "Bát canh của bà" là một câu chuyện cảm động về tình bà cháu, về những ký ức tuổi thơ nơi thôn dã.
– Giới thiệu nhân vật: Người bà trong truyện là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ nông thôn Việt Nam xưa; nghèo khó, tảo tần nhưng giàu đức hy sinh và tình yêu thương con cháu vô bờ bến.
* Thân bài:
– Hình ảnh người bà gắn liền với sự nghèo khó và tảo tần.
+ Ngoại hình: Gầy gò, đầu vấn khăn mỏ quạ, áo nâu "vá lắm sẹo". Đây là chân dung của người lao động cả đời vất vả.
+ Hoàn cảnh: Sống ở vùng quê nghèo, chiêm trũng. Những món quà bà cho cháu đều là "của nhà trồng được" như tấm mía, củ khoai.
+ Sự khéo léo, chịu khó: Bà tự tay trồng thiên lý, đi bắt cua giữa cái nắng gắt "nung đốt" của tháng sáu.
– Người bà là kho tàng tri thức dân gian và sự bảo ban ân cần.
+ Dù không biết chữ, bà thuộc nhiều ca dao, câu vè.
+ Bà dạy cháu nhận biết từng loại rau tập tàng: Dền cơm, rau đay, rau sam, mùng tơi,...
+ Sự chu đáo, cẩn thận: Bà không cho cháu hái hoa thiên lý vì sợ rắn, bảo ban cháu "cứ phải cẩn thận là hơn".
– Tình yêu thương cháu được gửi gắm qua bát canh và sự chăm sóc chỉn chu.
+ Bát canh cua rau tập tàng: Không chỉ là món ăn, đó là tinh tuý của sự chắt chiu, là vị "ngọt ngào lòng thơm thảo".
+ Hành động chăm sóc: "Bà cứ tìm tôi ngồi nhìn cháu ăn", tay quạt bằng mo cau. Hình ảnh bà ngồi nhìn cháu ăn cho thấy hạnh phúc của bà chính là sự no ấm của con cháu.
– Đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật.
+ Nhân vật được hiện lên qua dòng hồi tưởng đầy xúc động của người cháu.
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lý và cử chỉ tinh tế.
+ Ngôn ngữ giản dị, đậm chất làng quê Bắc Bộ.
* Kết bài:
– Khẳng định lại giá trị nhân vật: Người bà là biểu tượng của quê hương, là điểm tựa tinh thần của người cháu suốt cuộc đời.
– Liên hệ bản thân: Bài học về lòng biết ơn và sự trân trọng những giá trị giản dị từ tình thân.