Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của trường THCS Ngô Quyền (Lần 3) SVIP
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
(Lược đoạn đầu: Bỏng ngô là một món ăn vặt quen thuộc của nhân vật “tôi”. Món ăn “không thể ăn no, nhưng ăn mãi vẫn không thấy chán”. Khu phố của cậu rất đông hàng quán thì bỗng xuất hiện một bà lão bán bỏng ngô. Cậu đã rất thích thú và kể lại câu chuyện của mình.)
Một ngày kia, ngày nào thì tôi không xem lịch, bên cổng một nhà số chẵn, có bà cụ ra ngồi cùng một chiếc thúng to tướng, bên trong đặt bọc ni-lông trong suốt, nhìn rõ những hạt gì to to, tròn tròn căng mọng lên ở trong đó. Thấy hay hay, tôi bước tới ngó xem thì trời ơi! “Bỏng! Bỏng ngô!”. Cùng lúc có đứa đứng ở đằng sau tôi reo lên như đang xem đá bóng: “Bỏng ngô! Chúng mày ơi!”. Thấy vậy, bà cụ cười:
– Mua đi! Mua mở hàng cho bà đi nào!
Chẳng đứa nào có tiền hết cả. Có đứa cười trừ. Có đứa nghệt mặt ra. Tôi cũng lúng túng, thú thật:
– Cháu không có tiền ạ!
Tưởng bà cụ sẽ hất tay: “Thế thì đi chỗ khác!” như mọi người lớn vẫn hay nói với chúng tôi thế, thì bà cụ lại cười cười:
– Vậy thì bà đãi các cô các cậu mỗi cháu vài hạt. Lúc nào có tiền thì ra đây bà bán cho!
Tôi là đứa nhận nắm hạt bỏng sau cùng. Bà vừa đưa cho tôi, vừa khen:
– Anh này lớn, biết nhường các em nhỉ!
Tôi vừa sung sướng vừa nóng cả mặt. Bà cụ yêu con trẻ quá. Đứa nào là cháu của bà ở nhà, chắc tha hồ mà ăn bỏng, tha hồ mà sướng. Tôi cảm ơn, nói lời xin bà cụ và tự nhiên thấy lòng rưng rưng buồn. Tôi không có bà, Vì bà tôi mất đã lâu.
Là người cùng phố, nhưng mãi hôm ấy tôi mới được biết. Biết bà với cái tên chúng tôi gọi y như thấy bà khi ấy: “Bà bỏng ngô”.
Bà bán rất rẻ, lần nào, sau khi đong đầy cái bát bằng gỗ dùng để đong bỏng, đổ vào túi hay mũ cho chúng tôi, bà cũng nhón thêm cho vài hạt. Ấy thế mà có người lớn, lúc mua, bà đã thêm cho rồi, mà vẫn còn cố thọc tay vào bọc đòi thêm vài hạt nữa. Tham quá!
Bà cụ bán bỏng mà bọn trẻ chúng tôi rất thích như tôi đã kể, còn có một sự thân thiết nữa chỉ chúng tôi mới cảm thấy. Bà hiền lành và luôn luôn nhỏ nhẹ khuyên bảo chúng tôi vào những lúc giá như ở nhà thì đã bị mắng. Ví dụ như lúc bọn trẻ nói tục, cãi nhau, có đứa đánh nhau, thì bà lại can:
– Đừng thế các cháu ơi! Bà xin. Bà cho mấy hạt mà nhai này...
Có đứa trèo cây, bẻ cành, bà cũng gọi xuống nhắc nhở và dúm cho vài hạt. Nhiều hôm đi học về, không có việc gì, không biết chơi gì, tôi lại tha thẩn ra cái cổng có bà ngồi cho tôi một nắm. Tôi đã đủ trí khôn để nói:
– Thế này thì bà hết vốn mất!
Bà cười:
– Hết làm sao được. Hết bà lại mua...
Ngừng một thoáng, bà tiếp:
– Có thứ không thể mua được cháu ạ...
Câu bà nói với tôi, lúc đó tôi chưa hiểu. Nhưng rồi bỗng một ngày... Bà bỏng ngô không ra cổng ngồi.
Hôm sau, hôm sau nữa, vẫn vắng bà...
Tôi dè dặt hỏi thăm mới biết là bà cụ đã về trong quê ở với con cháu. Căn hộ đã để lại cho gia đình khác. Tôi ngẩn ngơ cả người, thờ thẫn mãi.
Từ buổi ấy, phố nhà tôi vẫn đông, lại có thêm hàng quán mới, nhưng sao tôi chẳng thấy vui hơn. Sung sướng quá cho cậu nào đang được ở với bà, có bà...
Ấy là tình thương. Tình thương là thứ không thể mua được.
(“Những hạt bỏng ngô”, Phong Thu, trích Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2024).
Chú thích:
Bỏng ngô: Còn gọi là bắp rang, là một món ăn vặt phổ biến làm từ hạt ngô, được rang ở nhiệt độ cao khiến cho các hạt ngô nở bung ra.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của văn bản. Nêu tác dụng của ngôi kể.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra 01 chi tiết thể hiện sự khác biệt trong cách cư xử của nhân vật bà cụ với bọn trẻ so với “những người lớn khác”. Chi tiết “bà cụ đã về trong quê ở với con cháu” có vai trò gì đối với cốt truyện?
Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét kiểu câu của những câu sau (xét về cấu tạo) và nêu tác dụng của chúng: “Bỏng! Bỏng ngô!”.
Câu 4 (1,0 điểm). Xác định lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau rồi chuyển thành lời dẫn gián tiếp:
Thấy vậy, bà cụ cười:
– Mua đi! Mua mở hàng cho bà đi nào!
Chẳng đứa nào có tiền hết cả. Có đứa cười trừ. Có đứa nghệt mặt ra. Tôi cũng lúng túng, thú thật:
– Cháu không có tiền ạ!
Câu 5 (1,0 điểm). Từ văn bản trên, hãy rút ra một bài học sâu sắc nhất cho bản thân mình. Lí giải rõ. (Trình bày thành đoạn văn khoảng 5 – 7 câu)
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
– Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất.
– Tác dụng: Giúp câu chuyện trở nên chân thực và thể hiện cảm xúc của người kể.
Câu 2.
– Chỉ ra 01 chi tiết thể hiện sự khác biệt trong cách cư xử của nhân vật bà cụ với bọn trẻ so với “những người lớn khác” (1 trong 2 ý cho 0,5 điểm).
+ Bà cho bỏng khi trẻ không có tiền.
+ Không xua đuổi mà còn “đãi mỗi cháu vài hạt”.
– Chi tiết “bà cụ đã về trong quê ở với con cháy” có vai trò: (mỗi ý cho 0,25 điểm).
+ Là chi tiết quan trọng tạo bước ngoặt cho cốt truyện.
+ Từ đó bộc lộ tính cách nhân vật “tôi” (yêu quý, kính trọng, biết ơn,…) với bà bỏng ngô, góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề của truyện.
Câu 3.
Nhận xét kiểu câu (xét về cấu tạo):
– Câu đặc biệt.
– Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc bất ngờ, thích thú của bọn trẻ.
Câu 4.
– Ghi đúng 2 lời dẫn trực tiếp => mỗi lời dẫn 0,25 điểm.
+ Mua đi! Mua mở hàng cho bà đi nào!
+ Cháu không có tiền ạ!
– Chuyển thành lời dẫn gián tiếp (chuyển đúng mỗi ý cho 0,25 điểm).
Bà cụ cười và bảo bọn trẻ mua mở hàng cho bà. Nhưng không đứa nào có tiền, “tôi” cũng lúng túng thú thật rằng mình không có tiền.
Câu 5.
– HS nêu được cụ thể 01 bài học rồi lí giải phù hợp.
– Gợi ý:
+ Trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu.
+ Biết yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh.
+ Quý trọng những điều giản dị, bình thường trong cuộc sống.
+ …
Câu 1. (2.0 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích chủ đề của truyện ngắn “Những hạt bỏng ngô” (Phong Thu) được dẫn ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm) “Nếu bạn liên tục bận tâm về những điều người khác chê bai. Thì bạn sẽ tự thu mình lại và dần dần không thể làm bất cứ việc gì nữa.”.
(Trích Yêu những điều không hoàn hảo, Hae Min, NXB Thế giới, 2018)
Theo em, học sinh nên ứng xử như thế nào trước những lời chê bai của người khác? Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của mình.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
Xác định đúng về hình thức của kiểu đoạn nghị luận văn học với dung lượng khoảng 200 chữ (không vượt quá 270 chữ).
b. Xác định được vấn đề nghị luận: Phân tích chủ đề của truyện ngắn “Những hạt bỏng ngô” (Phong Thu).
c. Học sinh viết đoạn văn đảm bảo các ý sau:
* Nội dung: Phân tích chủ đề của truyện ngắn Những hạt bỏng ngô (Phong Thu)
* Vận dụng kĩ năng dùng từ, viết câu, các phép liên kết, các thao tác lập luận đề:
a) Nêu rõ chủ đề: Truyện ngắn “Những hạt bỏng ngô” ca ngợi tình thương giản dị mà sâu sắc giữa con người với con người, đặc biệt là tình bà cháu ấm áp, đồng thời khẳng định tình thương là giá trị tinh thần vô giá, không thể mua bằng tiền.
b) Phân tích làm rõ chủ đề:
* Cốt truyện: Đơn giản, ít kịch tính làm nổi bật tình thương đời thường. Bà cụ cho trẻ em bỏng, quan tâm, dạy bảo chúng, nhân vật “tôi” gắn bó, thấy trống vắng, tiếc nuối khi vắng bà, thấy thấm thía về tình thương,...
* Nhân vật:
– Bà cụ: Hiền hậu, bao dung, yêu thương, gần gũi. Bà cho bỏng khi trẻ không có tiền, luôn “nhón thêm vài hạt”, nhẹ nhàng khuyên bảo khi trẻ hư, suy nghĩ sâu sắc,… Nhân vật người bà bán bỏng là trung tâm thể hiện chủ đề, là biểu tượng của tình thương.
– Nhân vật “tôi”: Hồn nhiên, biết yêu thương, biết suy nghĩ. “Tôi” trưởng thành trong nhận thức, giúp chủ đề được bộc lộ tự nhiên, sâu sắc.
– Người kể chuyện: Ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi”) đã làm tăng tính chân thực, gần gũi.
=> Những yếu tố nghệ thuật đã giúp chủ đề được thể hiện sâu sắc, có sức lay động.
c) Liên hệ, thông điệp cuộc sống: Học sinh liên hệ.
d. Sáng tạo: Diễn đạt, lập luận có sự thu hút, lời văn có giọng điệu riêng.
Câu 2.
a. Xác định được cấu trúc một bài văn nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề: Học sinh nên ứng xử thế nào trước lời chê bai của người khác.
c. Triển khai vấn đề nghị luận:
Học sinh có thể triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ vấn đề thành các luận điểm rõ ràng, cụ thể.
* Về nội dung: Xác định, phân tích được vấn đề, thể hiện rõ được quan điểm của bản thân bằng một hệ thống lí lẽ và dẫn chứng phù hợp.
* Về hình thức: Lập luận chặt chẽ, đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm; các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng được sắp xếp theo trình tự hợp lí.
* Bố cục bài viết cần đảm bảo:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề bàn luận, cụ thể học sinh cần có cách ứng xử đúng đắn trước những lời chê bai để hoàn thiện bản thân và phát triển tích cực.
2. Thân bài:
a. Giải thích
– Chê bai: Những lời nhận xét, đánh giá về hạn chế, thiếu sót hoặc khuyết điểm của một người.
– Ứng xử trước lời chê bai: Thái độ, cách suy nghĩ và hành động của mỗi người khi tiếp nhận những lời nhận xét đó.
b. Bàn luận (trọng tâm)
– Học sinh nên ứng xử thế nào trước lời chê bai của người khác?
+ Bình tĩnh, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác, không nóng nảy hay phản ứng tiêu cực.
+ Biết chọn lọc, xem xét tính đúng sai của lời chê bai:
++ Nếu lời chê đúng, cần nghiêm túc nhìn nhận khuyết điểm và cố gắng sửa đổi.
++ Nếu lời chê chưa đúng hoặc mang tính ác ý, không nên quá bi quan, tự ti; cần giữ vững niềm tin vào bản thân.
+ Xem lời chê bai như cơ hội để hoàn thiện bản thân, rèn luyện bản lĩnh và trưởng thành hơn.
+ Giữ thái độ tích cực, tiếp tục cố gắng để khẳng định giá trị của mình bằng hành động và kết quả thực tế.
– Vì sao cần có cách ứng xử như vậy?
+ Giúp mỗi người nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bản thân.
+ Góp phần hoàn thiện nhân cách, nâng cao năng lực và bản lĩnh sống.
+ Tránh những mâu thuẫn, xung đột không cần thiết trong các mối quan hệ.
+ Giúp học sinh tự tin, trưởng thành và thành công hơn trong học tập cũng như cuộc sống.
c. Dẫn chứng
– Nêu một tấm gương biết tiếp thu góp ý để hoàn thiện bản thân.
– Dẫn chứng gần gũi trong học tập: Học sinh tiếp nhận nhận xét của thầy cô, bạn bè để tiến bộ hơn.
d. Mở rộng – phản đề
– Phê phán những người quá tự ái, nóng nảy, phản ứng tiêu cực trước lời chê bai.
– Phê phán những người tự ti, mất niềm tin vào bản thân chỉ vì những lời nhận xét không đúng.
– Đồng thời phê phán những người chê bai người khác bằng thái độ xúc phạm, thiếu tôn trọng.
3. Kết bài:
– Khẳng định lại: Cách ứng xử đúng đắn trước lời chê bai là biết lắng nghe, chọn lọc và hoàn thiện bản thân.
– Liên hệ bản thân: Mỗi học sinh cần rèn luyện bản lĩnh để biến những lời chê bai thành động lực vươn lên trong cuộc sống.
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, dùng từ, đặt câu, diễn đạt mạch lạc.
e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo; thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.