Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của tỉnh Vĩnh Long (Đề chính thức) SVIP
Đọc văn bản.
NHỮNG NHÀ THƠ TRẺ CHÚNG TÔI
[…] Không dám nói nhiều về tuổi trẻ chúng tôi
Những phác thảo nhì nhằng dăm bảy nét
Chưa kịp có người yêu chiến tranh gào thét
Ăn nửa củ khoai bữa chiều tôi xốc vội ba lô
Chân trời màu nâu như áo mẹ tản cư
Phản lực Mỹ đen trời bom đạn
Mẹ tiễn đứa con cuối cùng ra mặt trận
Không còn ai để tiễn nữa đâu
Đừng khóc mẹ ơi con sẽ về không thể mãi xa lâu
Con sẽ về như câu Kiều mẹ hát
Ba lô lính ấm đùm xôi mẹ vắt
Này sự sống, áo quần, đạn dược, bạn bè ở trên lưng
[...] Hỡi Trường Sơn, hỡi những cánh rừng dày
Chúng tôi làm thơ bằng bút chì vót vội
Trang bản thảo không ra hồn bản thảo
Bài thơ sinh ra trong vỏ bao thuốc lá dưới hầm hào
[...] Tôi nhớ bạn tôi vừa được phong binh nhất
Trên điểm chốt trước quân thù bạn viết
Bản thảo chính là hai lòng bàn tay
Phút xuất thần bạn ghi vội vào đây
Rồi trận đánh khói lửa mù bụi đất
Thắng giặc về bạn soi lại lòng tay
Máu và mồ hôi đã lấp mất thơ rồi...
Phước Long, 1970
(Trần Mạnh Hảo, Viết và đọc chuyên đề mùa đông 2024 (nhiều tác giả), NXB Hội Nhà văn, 2024, tr. 165 – 168)
Thực hiện các yêu cầu.
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu nhận biết thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Xác định hai hình ảnh trong phần in đậm thể hiện sự dữ dội của chiến tranh.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê qua dòng thơ: Này sự sống, áo quần, đạn dược, bạn bè ở trên lưng.
Câu 4. Phân tích nội dung của hai dòng thơ:
Thắng giặc về bạn soi lại lòng tay
Máu và mồ hôi đã lấp mất thơ rồi...
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
Hỡi Trường Sơn, hỡi những cánh rừng dày
Chúng tôi làm thơ bằng bút chì vót vội
(Trần Mạnh Hảo – Những nhà thơ trẻ chúng tôi)
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
(Tố Hữu – Nước non nghìn dặm)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. Số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau, không quy định chặt chẽ về cách tổ chức câu thơ, khổ thơ là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của văn bản.
Câu 2. Hai hình ảnh trong phần in đậm gợi lên sự dữ dội của chiến tranh: chiến tranh gào thét, phản lực Mỹ đen trời bom đạn.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ liệt kê: sự sống, áo quần, đạn dược, bạn bè.
– Tác dụng:
+ Khắc hoạ những đồ dùng người lính mang theo trên con đường hành quân vào chiến trường một cách chân thực, cụ thể. Đó không chỉ là những vật dụng cần thiết để phục vụ cho đời sống và chiến đấu của các anh mà còn là những yếu tố tinh thần, giúp các anh lạc quan, mạnh mẽ hơn.
+ Từ đó thể hiện vẻ đẹp của thế hệ trẻ thời chiến: ra trận với tinh thần chủ động, sẵn sàng cống hiến, mang theo những giá trị bình dị mà thiêng liêng, cao cả.
+ Tăng tính biểu cảm, tạo sức hấp dẫn cho câu thơ.
Câu 4.
– Nhấn mạnh rằng chiến thắng được đánh đổi bằng rất nhiều hi sinh. Người lính trở về không chỉ mang niềm vui chiến thắng mà còn mang trong mình dấu vết của máu, nước mắt, mồ hôi và những ước mơ tuổi trẻ bị dở dang.
– Thể hiện vẻ đẹp của thế hệ trẻ thời chống Mỹ: giàu lý tưởng, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc nhưng vẫn giữ được tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn và niềm tin vào cuộc sống.
– Là lời nhắc nhở con người hôm nay cần biết trân trọng hòa bình, biết ơn những người đã hi sinh tuổi xuân, hạnh phúc và cả những mộng mơ riêng tư cho đất nước.
Câu 5.
Sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu:
– Đều gợi nhắc hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ nhưng hào hùng. Họ mang trong mình tinh thần xung kích, tự nguyện lên đường ra trận và sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
– Đều khắc hoạ vẻ đẹp đáng trân trọng của tuổi trẻ thời chiến: sống lạc quan giữa gian khổ, có lí tưởng cao đẹp, ý thức sâu sắc về trách nhiệm với đất nước và luôn giữ vững niềm tin vào ngày mai chiến thắng.
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về hình ảnh người lính trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Từ kết quả đọc hiểu văn bản Những nhà thơ trẻ chúng tôi và những hiểu biết về đời sống, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề: Tuổi trẻ trở nên ý nghĩa hơn khi con người biết sống vì những điều lớn hơn chính bản thân mình.
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm).
a. Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn:
Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn (khoảng 200 chữ). Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp,...
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận về hình ảnh người lính trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau:
– Cảm nhận về hình ảnh người lính:
+ Là những con người trẻ tuổi, giàu lí tưởng sống, sẵn sàng gác lại tuổi xuân và tình cảm riêng tư để lên đường chiến đấu vì Tổ quốc:
++ Câu thơ "Chưa kịp có người yêu chiến tranh gào thét" gợi lên sự xót xa: tuổi trẻ của họ còn chưa kịp sống trọn vẹn với những rung động riêng tư thì đã phải đối diện với bom đạn chiến tranh.
++ Người lính ra đi phải bỏ lại mẹ già ở đằng sau. Hình ảnh người mẹ tiễn con ra trận càng làm nổi bật sự hi sinh lớn lao của người lính và gia đình trong chiến tranh. Lời động viên mẹ: "Đừng khóc mẹ ơi con sẽ về không thể mãi xa lâu" vừa thể hiện tình yêu thương mẹ tha thiết, vừa cho thấy niềm tin, sự lạc quan của người lính trẻ trước ngày ra trận.
+ Dù phải đối diện với những khó khăn, thiếu thốn, gian khổ của chiến tranh, họ vẫn giữ được tinh thần kiên cường, lạc quan và ý chí chiến đấu mãnh liệt.
++ Hình ảnh "Ăn nửa củ khoai bữa chiều tôi xốc vội ba lô" cho thấy sự ra đi rất vội vàng, giản dị mà đầy quyết tâm. Người lính lên đường trong hoàn cảnh thiếu thốn, nhưng không hề do dự, bởi phía trước là trách nhiệm với đất nước.
++ Trong gian khổ, họ vẫn mang theo trên lưng "sự sống, áo quần, đạn dược, bạn bè". Cách liệt kê ấy cho thấy ba lô người lính không chỉ chứa vật dụng chiến đấu mà còn chứa cả niềm tin, tình đồng đội và khát vọng sống. Chính những điều ấy đã tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua thử thách.
+ Không chỉ mang phẩm chất của người chiến sĩ, họ còn có tâm hồn nghệ sĩ:
++ Giữa chiến trường khốc liệt, họ vẫn "làm thơ bằng bút chì vót vội", viết thơ trên "vỏ bao thuốc lá dưới hầm hào", thậm chí còn ghi lại những câu thơ trên chính lòng bàn tay của mình.
++ Máu và mồ hôi là biểu tượng của hi sinh, gian khổ còn thơ là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn. Chiến tranh có thể làm nhoè đi những dòng thơ trên tay, nhưng không thể xóa mất tâm hồn nghệ sĩ và lí tưởng cao đẹp của người lính.
– Nghệ thuật khắc hoạ hình ảnh người lính: Sử dụng những hình ảnh thơ chân thực, giàu sức gợi; kết hợp hiệu quả các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, liệt kê; ngôn ngữ mộc mạc, giàu chất tạo hình; giọng điệu linh hoạt, đan xen giữa chất tự sự và trữ tình.
– Đánh giá chung: Nhìn chung, qua đoạn thơ, tác giả đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính thời chiến: trẻ trung, dũng cảm, giàu lí tưởng, giàu tình cảm và mang vẻ đẹp hài hoà giữa chất chiến sĩ với chất nghệ sĩ. Hình ảnh ấy không chỉ gợi niềm xúc động mà còn thể hiện lòng tự hào, sự biết ơn và trân trọng đối với thế hệ trẻ Việt Nam đã hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4,0 điểm).
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng.
– Vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ trở nên ý nghĩa hơn khi con người biết sống vì những điều lớn hơn chính bản thân mình.
– Dung lượng: khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: thực tế đời sống.
b. Yêu cầu cụ thể: Thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội
– Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giải thích được vấn đề nghị luận
– Tuổi trẻ: Là quãng thời gian đẹp nhất, giàu năng lượng, giàu khát vọng và nhiệt huyết nhất của đời người.
– Sống vì những điều lớn lao hơn chính bản thân mình: Là biết vượt ra khỏi cái tôi cá nhân để hướng tới những giá trị chung của gia đình, cộng đồng, đất nước và nhân loại.
=> Tuổi trẻ trở nên ý nghĩa hơn khi con người biết vượt qua cái tôi cá nhân để hướng tới những điều lớn lao, cao cả và tốt đẹp hơn.
b3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
– Phân tích, chứng minh được vì sao tuổi trẻ trở nên ý nghĩa hơn khi con người biết sống vì những điều lớn hơn chính bản thân mình.
+ Thứ nhất, tuổi trẻ trở nên ý nghĩa hơn khi con người biết sống vì những điều lớn hơn chính bản thân mình:
++ Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất của đời người, khi con người có sức khỏe, nhiệt huyết, ước mơ và khát vọng khẳng định giá trị cá nhân. Tuy nhiên, nếu chỉ sống cho riêng mình, chỉ quan tâm đến cảm xúc, sở thích hay lợi ích cá nhân, người trẻ rất dễ rơi vào lối sống ích kỉ, hẹp hòi. Khi ấy, tuổi trẻ có thể trôi qua trong sự hưởng thụ, chạy theo những niềm vui ngắn hạn mà thiếu mục tiêu sâu xa.
++ Một người chỉ biết nghĩ cho bản thân sẽ khó có được sự trưởng thành thật sự, bởi trưởng thành không chỉ là đạt được điều mình muốn, mà còn là biết mình có trách nhiệm với ai, với điều gì.
++ Ngược lại, khi biết hướng tới những giá trị lớn hơn như gia đình, cộng đồng, quê hương, đất nước, người trẻ sẽ sống có trách nhiệm và lí tưởng hơn. Họ hiểu rằng cuộc đời mình không tách rời khỏi những người xung quanh. Vì vậy, họ biết cố gắng học tập để không phụ công cha mẹ, biết sống tử tế để góp phần làm đẹp cộng đồng, biết cống hiến sức trẻ cho những việc có ích.
++ Chẳng hạn tấm gương của anh Ma Seo Chứ (33 tuổi), Trưởng thôn Kho Vàng (Lào Cai) là minh chứng rõ nét cho điều này. Trong trận bão lũ lịch sử tháng 9/2024, nhờ sự nhạy bén và tinh thần trách nhiệm, anh đã phát hiện vết nứt nguy hiểm trên đồi và quyết đoán vận động 115 người dân (trong đó có nhiều trẻ em) di dời lên núi trú ẩn ngay trước khi sạt lở đất xảy ra. Hành động này đã cứu sống toàn bộ cư dân trong thôn trước thảm hoạ.
+ Thứ hai, sống vì những giá trị lớn giúp tuổi trẻ hoàn thiện bản thân.
++ Khi sống không chỉ cho mình, người trẻ sẽ học được cách yêu thương, sẻ chia, hi sinh và có trách nhiệm. Những phẩm chất ấy không tự nhiên có sẵn, mà được hình thành qua quá trình con người biết quan tâm đến người khác và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân trong những hoàn cảnh cần thiết.
++ Chẳng hạn, một học sinh biết giúp đỡ bạn bè, biết phụ giúp cha mẹ, biết tham gia các hoạt động thiện nguyện sẽ dần trở nên nhân hậu, chín chắn hơn. Một người trẻ biết cống hiến tri thức và sức lao động cho xã hội sẽ nhận ra giá trị của bản thân không chỉ nằm ở thành công cá nhân, mà còn ở những điều tốt đẹp mình tạo ra cho cuộc đời.
+ Thứ ba, sống vì những giá trị lớn giúp tuổi trẻ tìm thấy mục đích sống và trở nên bền bỉ hơn trước khó khăn.
++ Khi con người có một mục đích lớn lao, họ sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách. Nếu chỉ sống vì những mong muốn nhất thời, người trẻ dễ nản lòng khi gặp thất bại. Nhưng nếu hiểu rằng sự cố gắng của mình có ý nghĩa với gia đình, cộng đồng hoặc đất nước, họ sẽ biết kiên trì hơn, không dễ bỏ cuộc.
++ Mục đích sống giống như ngọn đèn soi đường, giúp tuổi trẻ không lạc lối giữa những khó khăn và cám dỗ.
– Phân tích, chứng minh được ý nghĩa của vấn đề nghị luận.
+ Sống vì những giá trị lớn giúp tuổi trẻ hoàn thiện bản thân, bồi đắp tinh thần trách nhiệm, sự sẻ chia, lòng yêu thương và ý thức hi sinh. Biết quan tâm đến gia đình, cộng đồng, đất nước thay vì chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, họ sẽ học được cách sống có trách nhiệm hơn. Từ đó, họ biết suy nghĩ chín chắn, biết yêu thương, sẻ chia và sẵn sàng hi sinh những mong muốn nhỏ bé của riêng mình vì lợi ích chung. Chính quá trình ấy giúp tuổi trẻ rèn luyện nhân cách, vượt qua lối sống ích kỉ, hời hợt để trở thành người sống nhân văn và có ích.
+ Sống vì những giá trị lớn giúp tuổi trẻ tìm thấy mục đích sống, bền bỉ hơn trước khó khăn, không dễ bỏ cuộc và biết biến thử thách thành động lực. Trên hành trình trưởng thành, người trẻ không thể tránh khỏi áp lực, thất bại, mất mát. Tuy nhiên, người có lí tưởng và trách nhiệm sẽ không xem khó khăn là lí do để dừng lại, mà coi đó là cơ hội để rèn luyện bản lĩnh.
b4. Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học
– Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận:
+ Sống vì những điều lớn hơn bản thân không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoàn toàn nhu cầu cá nhân hay xem nhẹ hạnh phúc riêng. Mặt khác, những điều lớn lao không nhất thiết phải mang tầm vóc phi thường, những việc nhỏ như sống có trách nhiệm, trung thực, tử tế hoặc kiên trì tạo nên những giá trị tích cực mỗi ngày.
+ Phê phán một bộ phận người trẻ sống ích kỉ, chỉ biết đến bản thân, ngại khó, ngại cống hiến, thiếu lý tưởng sống và trách nhiệm với cộng đồng.
– Rút ra bài học: mỗi người trẻ cần nhận thức rằng giá trị của tuổi trẻ không chỉ được đo bằng những gì bản thân đạt được, mà còn ở những đóng góp tích cực cho gia đình, cộng đồng và đất nước. Từ đó tuổi trẻ cần không ngừng học tập, rèn luyện, dám nghĩ, dám làm để sống một cuộc đời có ý nghĩa.
b5. Sáng tạo
– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.