Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh SVIP
ĐỀ THAM KHẢO – KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT MÔN NGỮ VĂN
Thời gian: 120 phút
Chủ đề: Tôi – một phần của thế giới
“những giọt nước làm nên biển cả, những cây lúa làm nên cánh đồng và những vì sao làm nên sự phong phú của bầu trời…”
(Trần Hoài Dương, Cuộc phiêu lưu của những con chữ)
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5,0 điểm)
Tôi là một con chữ chì ở nhà in. Tên tôi là A. Từ lâu tôi đã nổi tiếng, hễ nhắc đến tên, ai cũng biết. Khi vui sướng quá, người ta thường reo tên tôi trước tiên: “A – a – a!”. Khi ngạc nhiên, sửng sốt, người ta cũng kêu lên: “A!”. Khi đau đớn không chịu nổi, người ta cũng gọi tên tôi, mong tìm một người bạn che chở: “A – a – á!”. Hằng năm, cứ đến ngày khai trường, hàng triệu trẻ em ở khắp nơi bao giờ cũng phải làm quen với tôi trước tiên. Tôi đứng đầu bảng chữ cái nước ta. Trong bảng chữ cái của nhiều nước trên thế giới, tôi cũng là chữ được người ta trân trọng xếp ở hàng đầu... Còn nhiều ví dụ tương tự, không thể kể hết được.
(Lược một đoạn: A và các con chữ khác được Cô Sách Giáo Khoa kể cho nghe về Cung điện Ánh sáng với một thư viện rất lớn. Những con chữ tin rằng trong thư viện sẽ có cuốn Sách Ước giúp mình muốn gì được nấy. Từ hôm ấy, Cung điện Ánh sáng và cuốn Sách Ước luôn ám ảnh trong tâm trí của A).
Tôi quyết định ra đi. Sống quanh quẩn ở nhà mãi, chán lắm. Khổ nhất là bị gò bó, lúc nào cũng phải sống trong một trật tự, mất hết thoải mái. Bạn bè chẳng ai hiểu tôi. Họ không đánh giá hết vai trò quan trọng loại A của tôi. Chữ A thì bao giờ cũng phải được ưu tiên đứng ở hàng đầu. Họ không hiểu điều đơn giản ấy, nhiều lúc cứ nhét tôi vào giữa, thậm chí vào cuối hàng chữ. Đã thế, cô thợ xếp chữ lại đứng về phe họ, hễ tôi vừa trồi lên đứng đầu hàng, là cô lại gắp tôi, nhét trở lại chỗ cũ. Ức không chịu được. Phải bỏ đi thôi! Tôi sẽ tìm bằng được Cung điện Ánh sáng và cuốn Sách Ước. Tôi sẽ ước sao được sống một mình, muốn làm gì, muốn ở đâu là tùy theo ý mình.
(Lược một đoạn: A đi qua Viện bảo tàng, lắng nghe những lời khuyên của bác P giàu kinh nghiệm. Sau đó A mơ thấy mình đến được Cung điện Ánh sáng, chiếm được cuốn Sách Ước, ước cuốn sách là của riêng mình.)
Tôi như phát cuồng lên, vừa sung sướng vừa lo sợ. Hai chân tôi ríu vào nhau. Cuốn Sách Ước vừa mở ra, sáng lấp lánh. Nhiều chữ ào lên sát cạnh tôi. Tôi dang tay ra ngăn chúng lại, gạt phắt chúng đi, túm lấy chúng mà lẳng ra xa. Vừa gạt, tôi vừa hét: “Của tôi! Của tôi!”. Thừa lúc mọi người đang chạy tán loạn, tôi nhanh nhẹn thu mình lại, rồi dồn hết sức lực, bật dậy thật mạnh, quăng mình lộn ba vòng trong không trung và lao thẳng vào giữa trang sách. Tôi gào thật to: “Ước gì tôi được sống một mình! Chỉ một mình tôi thôi! Của tôi! Của tôi! Cuốn Sách Ước của tôi.”. Cầu được ước thấy, cuốn sách cứ lớn lên, lớn dần và chỉ mình tôi ngồi chễm chệ trên đó. Nhìn các chữ khác đang đứng ngẩn ngơ phía dưới với những đôi mắt đầy thèm muốn, tôi sung sướng quá, cười ha hả rất sảng khoái. Trang sách cứ trải rộng mãi, cuồn cuộn như những đợt sóng. Ban đầu, điều đó làm tôi rất thích thủ, nhưng sau lại thấy sợ. Xung quanh tôi vắng lặng, không một tiếng chim kêu, không một tiếng cây cỏ rì rào, không một bóng người qua lại. Tất cả chỉ một màu trắng lạnh lẽo như một bãi cát chết, nhìn hút tầm mắt. Bây giờ tôi mới nhận ra điều giản dị này: một chữ A như tôi sống cô độc trên trang sách trống trải, nào có nghĩa gì! Người tôi lúc nóng hầm hập, lúc lạnh toát. Kinh hãi quá tôi hốt hoảng kêu thét lên...
(Trích Cuộc phiêu lưu của những con chữ, Trần Hoài Dương, trong Tổng tập Truyện ngắn Việt Nam 1945 – 2005 (Tác giả tự chọn), Quyển 7, NXB Công an Nhân dân, 2005)
Câu 1 (3,0 điểm):
a. Theo văn bản, nhân vật “tôi” dự định sẽ ước điều gì khi có được cuốn Sách Ước? (0,5 điểm)
b. Chi tiết “Bạn bè chẳng ai hiểu tôi. Họ không đánh giá hết vai trò quan trọng loại A của tôi. Chữ A thì bao giờ cũng phải được ưu tiên đứng ở hàng đầu.” và chi tiết “Bây giờ tôi mới nhận ra điều giản dị này: một chữ A như tôi sống cô độc trên trang sách trống trải, nào có nghĩa gì!” cho thấy sự thay đổi như thế nào trong nhận thức của nhân vật “tôi”? (0,75 điểm)
c. Xác định những câu rút gọn trong đoạn trích sau, khôi phục lại các thành phần bị rút gọn và cho biết tác dụng của việc sử dụng loại câu này: “Ức không chịu được. Phải bỏ đi thôi! Tôi sẽ tìm bằng được Cung điện Ánh sáng và cuốn Sách Ước.”. (0,75 điểm)
d. Hãy tưởng tượng, khi tỉnh lại và gặp các bạn chữ khác, nhân vật “tôi” sẽ nói gì với họ? Vì sao? (1,0 điểm)
Câu 2 (2,0 điểm):
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề hoặc những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích tác phẩm Cuộc phiêu lưu của những con chữ (Trần Hoài Dương) ở trên.
(Theo Thông tấn xã Việt Nam, https://infographics.vn/ngay-quoc-te-da-dang-sinh-hoc-22-5, truy xuất ngày 12/10/2025)
Hướng dẫn giải:
Câu 1:
a. Nhân vật “tôi” (chữ A) dự định khi có được cuốn Sách Ước sẽ ước được sống một mình, muốn làm gì, muốn ở đâu tùy ý mình, không bị gò bó trong trật tự sắp xếp của các chữ khác.
b. Sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật “tôi”:
– Trước kia: Chữ A kiêu căng, tự cao, cho rằng mình quan trọng và phải được đứng đầu, muốn tách khỏi tập thể để khẳng định giá trị riêng.
– Sau này: Sau khi cô độc một mình, chữ A nhận ra ý nghĩa của bản thân chỉ tồn tại khi hoà nhập cùng các chữ khác, khi trở thành một phần trong tập thể, trong thế giới ngôn từ và con người.
– Nhận thức chuyển từ cái tôi ích kỉ sang cái tôi biết gắn bó, hoà đồng, tôn trọng sự gắn kết cộng đồng.
c. Xác định câu rút gọn và nêu tác dụng:
– Các câu rút gọn:
+ “Ức không chịu được.” (Rút gọn chủ ngữ → “Tôi ức không chịu được.”)
+ “Phải bỏ đi thôi!” (Rút gọn chủ ngữ → “Tôi phải bỏ đi thôi!”)
– Tác dụng:
+ Làm cho lời kể trở nên ngắn gọn, dồn dập, thể hiện rõ tâm trạng bức xúc, quyết liệt, nóng nảy của nhân vật “tôi” (chữ A) khi quyết định rời đi.
+ Góp phần tạo nhịp điệu nhanh, thể hiện cao trào cảm xúc trong diễn biến tâm lí nhân vật.
d. Tưởng tượng lời nói của nhân vật và lí giải:
– Khi tỉnh lại và gặp các bạn chữ khác, “tôi” (chữ A) có thể nói: “Các bạn ơi, tôi đã sai rồi! Một mình tôi thì chẳng có nghĩa gì cả. Chỉ khi ở cùng các bạn, ghép lại thành từ, thành câu, tôi mới thật sự có giá trị. Cảm ơn các bạn đã luôn bên tôi!”.
– Lí giải: Vì sau trải nghiệm cô độc, “tôi” hiểu ra ý nghĩa của sự gắn bó, đoàn kết, hiểu rằng giá trị của mỗi cá nhân chỉ thực sự được khẳng định khi họ là một phần của tập thể, của thế giới chung.
Câu 2:
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn:
Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song song.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nội dung chủ đề hoặc những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích tác phẩm Cuộc phiêu lưu của những con chữ (Trần Hoài Dương).
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Phân tích được nội dung chủ đề hoặc một số nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích; sắp xếp được hệ thống ý hợp lí, biết kết hợp lí lẽ và bằng chứng để chứng minh vấn đề. Học sinh có thể phân tích đoạn trích theo kiểu kết hợp giữa nghệ thuật và nội dung hoặc phân tích nội dung và nghệ thuật tách rời. Trong quá trình phân tích, cần chú ý đến mối liên hệ giữa hình thức và nội dung. Khuyến khích những bài làm có cảm thụ sâu sắc, chân thành về đoạn trích. Sau đây là một hướng làm bài:
DÀN Ý CHUNG CHO CẢ HAI HƯỚNG (nội dung hoặc nghệ thuật)
1. Mở đoạn (khoảng 2 – 3 câu)
– Giới thiệu tác phẩm và đoạn trích: Cuộc phiêu lưu của những con chữ là truyện ngắn tiêu biểu của Trần Hoài Dương, viết bằng giọng kể hóm hỉnh, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc.
– Nêu vấn đề nghị luận (tùy chọn 1 trong 2 hướng):
+ Nếu chọn hướng nội dung: Đoạn trích thể hiện bài học ý nghĩa về giá trị của sự gắn bó, đoàn kết và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
+ Nếu chọn hướng nghệ thuật: Đoạn trích gây ấn tượng bởi nghệ thuật nhân hoá, tưởng tượng phong phú và giọng kể sinh động, hấp dẫn.
2. Thân đoạn (khoảng 6 – 8 câu)
* Trường hợp 1: Phân tích nội dung chủ đề
– Nêu khái quát: Câu chuyện về chữ A không chỉ là hành trình của một con chữ mà còn là hành trình nhận thức của con người.
– Phân tích:
+ Ban đầu, chữ A kiêu căng, ích kỉ, chỉ muốn khẳng định cái tôi, tách khỏi tập thể.
+ Trải nghiệm cô độc giữa trang giấy trắng khiến chữ A nhận ra: Khi đứng một mình, nó trở nên vô nghĩa, chỉ khi hoà nhập với các chữ khác, nó mới góp phần tạo nên ý nghĩa, cái đẹp của ngôn từ.
+ Tác phẩm thể hiện thông điệp nhân sinh sâu sắc: Mỗi cá nhân là một phần nhỏ trong thế giới, chỉ khi biết gắn bó, sẻ chia, chúng ta mới tìm thấy giá trị thật sự của mình.
* Trường hợp 2: Phân tích nghệ thuật
– Nêu khái quát: Trần Hoài Dương đã khéo léo kể một câu chuyện giàu sức gợi bằng bút pháp nghệ thuật đặc sắc.
– Phân tích:
+ Nghệ thuật nhân hoá: Biến các con chữ thành nhân vật có cảm xúc, suy nghĩ, hành động – giúp câu chuyện sinh động và dễ hiểu.
+ Yếu tố tưởng tượng, hư cấu phong phú: Cung điện Ánh sáng, Sách Ước... tạo nên thế giới huyền ảo nhưng chứa đựng triết lí đời sống.
+ Giọng kể hóm hỉnh, gần gũi: Vừa phù hợp với thiếu nhi, vừa gợi suy ngẫm cho người lớn.
+ Kết cấu có kịch tính: Hành trình ra đi – nhận ra sai lầm – thức tỉnh → tạo điểm nhấn cho bài học về giá trị sống.
3. Kết đoạn (2 – 3 câu)
– Khẳng định lại ý nghĩa/ tác dụng của đoạn trích: Dù kể bằng hình thức ngụ ngôn hiện đại, đoạn trích vẫn để lại ấn tượng sâu sắc về bài học nhân sinh: Sống hoà hợp với cộng đồng để mỗi cá nhân trở nên có ý nghĩa.
→ Mở rộng: Câu chuyện về chữ A cũng là lời nhắc nhở mỗi chúng ta – “những giọt nước nhỏ” – cùng góp phần làm nên “biển cả” của cuộc đời.
* Đoạn văn mẫu tham khảo 1: PHÂN TÍCH NỘI DUNG, CHỦ ĐỀ (HƯỚNG TƯ TƯỞNG, THÔNG ĐIỆP)
Đoạn trích Cuộc phiêu lưu của những con chữ của Trần Hoài Dương gửi gắm một bài học giản dị mà sâu sắc về giá trị của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Nhân vật “tôi” – chữ A – ban đầu mang tâm lí tự cao, luôn cho rằng mình quan trọng nhất và không ai có thể thay thế. A muốn tách khỏi các con chữ khác để được tự do, khẳng định vị trí riêng. Nhưng khi ước mơ ấy thành hiện thực, chữ A lại rơi vào cô đơn và trống rỗng. Giữa trang giấy trắng lạnh lẽo, A mới nhận ra: Sống một mình, dù ở vị trí nào, cũng trở nên vô nghĩa. Chỉ khi hoà nhập với tập thể, gắn bó cùng những chữ khác để tạo thành từ, câu, ý nghĩa mới thực sự hình thành. Câu chuyện nhỏ của chữ A là lời nhắn nhủ lớn lao với con người hôm nay: Ai cũng là một phần của thế giới, chỉ khi biết sống chan hoà, biết cùng đóng góp và sẻ chia, ta mới tìm thấy hạnh phúc và giá trị thật của bản thân.
* Đoạn văn mẫu tham khảo 2: PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT (HƯỚNG HÌNH THỨC THỂ HIỆN)
Đoạn trích Cuộc phiêu lưu của những con chữ thể hiện tài năng nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Trần Hoài Dương trong việc kể chuyện ngụ ngôn bằng giọng văn hiện đại. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hoá độc đáo, biến những con chữ vô tri thành các nhân vật biết suy nghĩ, biết mơ ước, biết sai lầm và biết thức tỉnh, khiến câu chuyện trở nên sinh động và dễ tiếp nhận. Yếu tố tưởng tượng, hư cấu được sử dụng phong phú: Từ Cung điện Ánh sáng, cuốn Sách Ước cho đến hành trình ra đi tìm tự do của chữ A – tất cả tạo nên một thế giới lung linh mà gần gũi. Giọng kể hóm hỉnh, nhẹ nhàng giúp người đọc, nhất là thiếu nhi, cảm nhận được bài học sâu sắc về giá trị sống mà không hề khô khan. Cùng với đó, kết cấu giàu kịch tính – từ mâu thuẫn, hành động đến thức tỉnh – khiến câu chuyện ngắn gọn mà trọn vẹn, để lại dư vị sâu lắng.
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo, cảm xúc.
II. Đọc hiểu văn bản thông tin và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm)

Câu 1 (1,0 điểm): Hãy phân tích tác dụng của hình ảnh đối với việc thể hiện thông tin trong văn bản trên.
Câu 2 (4,0 điểm):
Em hãy chọn một trong hai yêu cầu sau để thực hiện:
1. Viết bài văn nghị luận về thái độ luôn coi mình là quan trọng nhất trong mối quan hệ với mọi người; từ đó, đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ sống hài hoà với mọi người.
2. Viết bài văn nghị luận về thái độ luôn coi con người là quan trọng nhất trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên; từ đó, đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ biết tôn trọng sự đa dạng của thế giới tự nhiên.
Hướng dẫn giải:
Câu 1: Đọc hiểu văn bản thông tin:
– Nội dung các hình ảnh: Ngày Quốc tế Đa dạng sinh học 22/5 – Chủ đề năm 2025: “Sống hài hoà với thiên nhiên và phát triển bền vững”; Đa dạng sinh học; Tầm quan trọng của đa dạng sinh học và Thực trạng hiện nay,... → Các hình ảnh trong văn bản thể hiện sự phong phú của sinh giới, vai trò to lớn của đa dạng sinh học, đồng thời cảnh báo thực trạng suy giảm nghiêm trọng hiện nay.
– Tác dụng của hình ảnh đối với việc thể hiện thông tin trong văn bản:
+ Minh họa trực quan, sinh động cho nội dung thông tin về đa dạng sinh học và các vấn đề liên quan.
+ Gợi nhận thức trực tiếp cho người xem về sự phong phú của các loài sinh vật trên Trái Đất, đồng thời cảnh báo nguy cơ tuyệt chủng của một số loài.
+ Tăng sức thuyết phục, dễ hiểu và dễ nhớ cho người đọc, đặc biệt khi trình bày các khái niệm khoa học như “đa dạng sinh học”, “biến đổi khí hậu”, “phát triển bền vững”.
+ Khơi gợi ý thức bảo vệ thiên nhiên, giúp người xem cảm nhận được vẻ đẹp và tầm quan trọng của việc sống hài hoà với môi trường.
→ Hình ảnh không chỉ làm cho thông tin trở nên hấp dẫn, dễ tiếp cận mà còn truyền đi thông điệp sâu sắc về trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững.
Câu 2: Viết bài văn nghị luận xã hội:
Đề 1:
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Thái độ luôn coi mình là quan trọng nhất trong mối quan hệ với mọi người; đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ sống hài hoà với mọi người.
b. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
– Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.
– Trong đó:
+ Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
+ Thân bài: Triển khai được vấn đề.
+ Kết bài: Khái quát vấn đề bàn luận và rút ra bài học cho bản thân.
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm theo trình tự hợp lí; trình bày được lí lẽ thuyết phục để làm sáng tỏ luận điểm; bằng chứng đa dạng, phù hợp, tiêu biểu, thuyết phục; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. Cần sử dụng kiến thức đời sống và trải nghiệm cá nhân để bàn bạc vấn đề. Khuyến khích những bài viết có hơi thở của cuộc sống, mang tính thời sự. Sau đây là một hướng làm bài:
1. Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề: Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người trẻ thường xem “cái tôi” là trung tâm, dẫn đến thái độ coi mình là quan trọng nhất trong mọi mối quan hệ.
– Nêu ý khái quát: Đây là một thái độ sai lầm, gây ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và cộng đồng, cần được thay đổi để con người sống hài hoà, nhân ái hơn.
2. Thân bài:
a) Giải thích:
– “Coi mình là quan trọng nhất” là luôn đặt bản thân lên trên người khác, cho rằng mọi việc, mọi người phải phục tùng ý kiến và lợi ích của mình.
– Thái độ này thể hiện chủ nghĩa vị kỉ, thiếu tôn trọng, thiếu thấu cảm.
b) Biểu hiện:
– Luôn muốn được chú ý, không lắng nghe người khác.
– Không chấp nhận phê bình, coi thường ý kiến tập thể.
– Trong học tập hay công việc, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân.
– Trong đời sống, dễ dẫn đến xung đột, mâu thuẫn với người xung quanh.
c) Hậu quả:
– Làm tổn thương các mối quan hệ; khiến con người trở nên cô lập.
– Làm giảm tinh thần đoàn kết, cản trở sự phát triển của tập thể.
– Về lâu dài, người có thái độ này khó hoàn thiện nhân cách, mất đi sự yêu mến và tôn trọng của người khác.
d) Giải pháp:
– Nhận thức rằng mỗi cá nhân chỉ là một phần của cộng đồng – mọi người đều bình đẳng và đáng được tôn trọng.
– Học cách lắng nghe, chia sẻ, thấu hiểu.
– Tham gia các hoạt động tập thể để rèn tinh thần hợp tác.
– Rèn luyện khiêm tốn, đồng cảm và biết đặt mình vào vị trí người khác.
3. Kết bài:
– Khẳng định lại thái độ coi mình là “trung tâm” thực ra rất sai lầm, cần thay bằng lối sống khiêm nhường, tôn trọng và hoà đồng.
– Liên hệ bản thân: Mỗi người trẻ hãy học cách sống vì người khác để góp phần xây dựng xã hội nhân ái, văn minh.
* Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp, liên kết trong văn bản.
e. Sáng tạo: Thể hiện góc nhìn riêng; có suy nghĩ sâu sắc, tinh tế về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Đề 2:
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Thái độ luôn coi con người là quan trọng nhất trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên; đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ biết tôn trọng sự đa dạng của thế giới tự nhiên.
b. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
– Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.
– Trong đó:
+ Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
+ Thân bài: Triển khai được vấn đề.
+ Kết bài: Khái quát vấn đề bàn luận và rút ra bài học cho bản thân.
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm theo trình tự hợp lí; trình bày được lí lẽ thuyết phục để làm sáng tỏ luận điểm; bằng chứng đa dạng, phù hợp, tiêu biểu, thuyết phục; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. Cần sử dụng kiến thức đời sống và trải nghiệm cá nhân để bàn bạc vấn đề. Khuyến khích những bài viết có hơi thở của cuộc sống, mang tính thời sự. Sau đây là một hướng làm bài:
1. Mở bài:
– Dẫn vấn đề: Trong quá trình phát triển, con người luôn muốn chinh phục và khai thác thiên nhiên.
– Nêu luận điểm: Thái độ coi con người là trung tâm của vũ trụ, đặt lợi ích của mình lên trên tự nhiên, đã dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng về môi trường và sự sống.
2. Thân bài:
a) Giải thích:
– “Coi con người là quan trọng nhất” là thái độ lấy con người làm thước đo, xem tự nhiên chỉ là công cụ phục vụ con người.
– Đây là biểu hiện của chủ nghĩa nhân tâm cực đoan, xem nhẹ giá trị và quyền tồn tại của các loài khác.
b) Biểu hiện:
– Khai thác tài nguyên rừng, biển, khoáng sản quá mức.
– Gây ô nhiễm đất, nước, không khí.
– Săn bắt, tiêu diệt các loài động vật quý hiếm.
– Xây dựng, đô thị hoá ồ ạt làm mất cân bằng sinh thái.
c) Hậu quả:
– Hàng nghìn loài sinh vật tuyệt chủng mỗi năm.
– Biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường tăng cao.
– Đe doạ trực tiếp đến sự sống và sức khỏe con người.
d) Giải pháp:
– Nhận thức rằng con người chỉ là một phần của tự nhiên, không thể tồn tại nếu tự nhiên bị tàn phá.
– Sống xanh, tiêu dùng bền vững, giảm rác thải nhựa.
– Trồng cây, bảo vệ rừng, bảo tồn động – thực vật.
– Giáo dục ý thức sinh thái cho học sinh, thanh niên.
– Lan toả tinh thần “sống hài hoà với thiên nhiên”.
3. Kết bài:
– Khẳng định: Tôn trọng và bảo vệ tự nhiên chính là bảo vệ chính mình.
– Liên hệ: Mỗi người trẻ hãy bắt đầu từ hành động nhỏ – tiết kiệm điện, không xả rác, yêu quý cây xanh – để cùng góp phần vào sự phát triển bền vững của Trái Đất.
* Lưu ý: học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp, liên kết trong văn bản.
e. Sáng tạo: Thể hiện góc nhìn riêng; có suy nghĩ sâu sắc, tinh tế về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo.