Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của Liên trường THCS xã Hiệp Hoà SVIP
Đọc văn bản sau:
Không có ngày mai. Phải đập sắt trong khi nó còn nóng
Quyết định đã phải mau – mau chứ không vội vàng – mà hành động cũng phải tức thì. Nếu quyết định rồi mà để lâu mới thực hành thì cũng vô ích vì càng chần chừ, ta càng mất hăng hái, càng thấy công việc khó khăn rồi chẳng bao giờ làm nữa.
Maria Edgeworth (1) nói: “Không có lúc nào bằng được lúc hiện tại. Hơn vậy nữa, chỉ trong lúc hiện tại mới có năng lực. Người nào không thực hành ngay những quyết định của mình thì không có hy vọng gì thực hành nó về sau. Những quyết định đó sẽ bị tiêu tan trong sự gấp rút của đời sống hằng ngày và sẽ chìm trong vũng bùn của tính uể oải.”.
Thực vậy, một công việc làm được hôm nay mà không làm thì ngày mai khó mà làm được vì ngày mai còn có những công việc của ngày mai. Những người thành công nhất, làm được nhiều việc nhất chưa chắc đã thông minh, tài giỏi nhất mà một phần lớn chỉ nhờ đức mau mắn, lúc nào cũng sẵn sàng làm ngay một công việc phải làm.
Có người hỏi Walter Raleigh (2): “Ông có cách nào mà trong một thời gian ngắn như vậy làm được nhiều việc như vậy?”. Ông đáp: “Hễ có việc thì tôi làm ngay.”.
Một chính khách Pháp, nổi tiếng là làm việc nhiều, cũng tuyên bố tương tự như vậy: “Tôi không bao giờ để đến ngày mai công việc gì tôi có thể làm được hôm nay.”.
Ta đừng tốn công theo đuổi cái ngày mai, nó hứa hẹn nhiều lắm mà giữ được rất ít. “Ngày mai là lời cám dỗ của Ma vương. Lịch sử đầy những nạn nhân của nó, những kế hoạch phải bỏ dở, những quyết định không thực hành được.”. “Phải đập tan sắt trong khi nó còn nóng.”. Những câu đó phải là châm ngôn của những người muốn thành công.
(Rèn nghị lực để lập thân – Nguyễn Hiến Lê, NXB Hồng Đức, 2015, tr.41)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận của văn bản.
Câu 2. Theo văn bản, nếu quyết định rồi mà không thực hành luôn thì dẫn đến hậu quả gì?
Câu 3. Việc sử dụng bằng chứng trong văn bản có có tác dụng gì?
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu sau: “Phải đập tan sắt trong khi nó còn nóng.”.
Câu 5. Từ văn bản, em hãy rút ra một bài học cho bản thân.
(1) Maria Edgeworth: Một nhà văn người Anh gốc Ireland nổi tiếng đầu thế kỷ 19 với các tiểu thuyết hiện thực phê bình tầng lớp địa chủ; các tác phẩm giáo dục nhấn mạnh thực hành và khám phá cho người học.
(2) Walter Raleigh: Nhà chính trị, nhà sử học, nhà thơ Anh.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. Vấn đề được bàn luận trong văn bản: Sự cần thiết của việc hành động kịp thời, không trì hoãn.
Câu 2. Theo văn bản, nếu quyết định rồi mà không thực hành luôn thì dẫn đến hậu quả:
– Mất hăng hái.
– Thấy công việc khó khăn.
– Chẳng bao giờ làm nữa.
Câu 3.
– Các bằng chứng trong văn bản:
+ Câu nói của Maria Edgeworth: “Không có lúc nào bằng được lúc hiện tại … sẽ chìm trong vũng bùn của tính uể oải.”.
+ Câu nói của Walter Raleigh: “Hễ có việc thì tôi làm ngay.”.
+ Câu nói của chính khách Pháp: “Tôi không bao giờ để đến ngày mai công việc gì tôi có thể làm được hôm nay.”.
+ Những câu nói được coi là châm ngôn của những người muốn thành công: “Ngày mai là lời cám dỗ của Ma vương. Lịch sử đầy những nạn nhân của nó, những kế hoạch phải bỏ dở, những quyết định không thực hành được.”. “Phải đập tan sắt trong khi nó còn nóng”.
– Tác dụng:
+ Làm sáng tỏ vấn đề nghị luận, khẳng định hành động kịp thời là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công trong học tập và cuộc sống.
+ Tăng tính thuyết phục và độ tin cậy cho lập luận.
+ Thể hiện thái độ nghiêm túc, thực tiễn và tư duy sâu sắc của tác giả.
Câu 4.
– Biện pháp tu từ ẩn dụ: Hình ảnh “sắt còn nóng” biểu tượng cho thời cơ, điều kiện thuận lợi, sự hăng hái ban đầu.
– Tác dụng:
+ Tạo ra cách diễn đạt cụ thể, sinh động, dễ hiểu.
+ Nhấn mạnh ý nghĩa của việc nắm bắt thời cơ, hành động kịp thời, nếu chần chừ sẽ đánh mất cơ hội và khó đạt kết quả.
+ Làm nổi bật thông điệp của văn bản: Chống trì hoãn, đề cao tinh thần hành động.
+ Thể hiện cái nhìn thực tiễn sâu sắc của tác giả. (Chấp nhận cách diễn đạt khác phù hợp)
Câu 5.
Có thể là các bài học theo hướng sau:
– Cần rèn luyện thói quen hành động kịp thời, không chần chừ, trì hoãn khi đã có quyết định đúng đắn.
– Biết trân trọng thời gian hiện tại, làm tốt việc hôm nay thay vì trông chờ vào “ngày mai”.
– Rèn tinh thần chủ động, quyết đoán, dám bắt tay vào việc khó.
– Tập vượt qua sự lười biếng, uể oải, không để cảm xúc chi phối hành động.
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về vai trò của tính chủ động đối với người trẻ ngày nay.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tâm trạng của người con xa quê trong bài thơ trong bài thơ sau:
KHÓI BẾP CHIỀU BA MƯƠI
Nguyễn Trọng Hoàn
Con đi xa vẫn nhớ nao lòng
Khói bếp nồng thơm mái rạ
Chiều ba mươi quây quần bên bếp lửa
Nồi bánh chưng nghi ngút trước giao thừa
Ba mươi này mẹ gói bánh chưng chưa
Mâm cỗ tất niên hương toả ấm
Ba mươi này mẹ vào ra trông ngóng
Khói bếp xanh quấn quyện trước hiên nhà
Ba mươi này mẹ biết đứa con xa
Lòng canh cánh nhớ về quê biết mấy
Khói bếp của chiều xưa thức dậy
Thuở ấu thơ vĩnh viễn đã qua rồi!
Khói bếp chiều phơ phất ba mươi
Cứ ám ảnh và thiêng liêng gợi nhớ
Vòng tay mẹ... và chúng con bé nhỏ
Mà tháng năm vời vợi không nguôi
Quê hương và dáng mẹ
Khói bếp, chiều ba mươi...
(In trong Phút rành rang sống chậm, NXB Hội Nhà văn, 2019)
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
– Vấn đề nghị luận: Vai trò của tính chủ động đối với người trẻ ngày nay.
– Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp,...
– Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
– Bằng chứng: Từ thực tế cuộc sống.
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Giải thích: Tính chủ động là ý thức tự giác, tích cực trong suy nghĩ và hành động, biết tự đặt mục tiêu, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển bản thân.
b2. Bàn luận: Chủ động giúp người trẻ có thái độ sống tích cực, làm chủ thời gian và định hướng rõ ràng cho bản thân; rèn luyện ý chí, tinh thần trách nhiệm, khả năng tự học và tự hoàn thiện; thúc đẩy sự sáng tạo, khả năng thích nghi, dám thử thách và vượt qua khó khăn; là nền tảng quan trọng để người trẻ phát triển toàn diện, thực hiện ước mơ và chuẩn bị cho tương lai trong xã hội hiện đại,…
b3. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục (Trao đổi quan điểm trái chiều, mở rộng vấn đề,...).
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2.
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
– Vấn đề nghị luận: Tâm trạng của người con xa quê trong bài thơ trong bài thơ Khói tết chiều ba mươi của tác giả Nguyễn Trọng Hoàn.
– Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: Bài thơ Khói bếp chiều ba mươi.
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai bài viết theo trình tự họp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học:
– Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Phân tích:
– Tâm trạng của người con xa quê (chủ thể trữ tình):
+ Nhớ khói bếp chiều ba mươi với không khí gia đình quây quần, ấm cúng bên mẹ yêu thương.
+ Hoài niệm, tiếc nuối những những kí ức tuổi thơ gắn với mẹ và quê hương “vĩnh viễn đã qua rồi”.
+ Nhớ thương, khao khát trở lại trong vòng tay yêu thương yêu thương của mẹ.
+ Buồn tủi vì tình cảnh xa quê, xa gia đình, không được đoàn tụ trong ngày cuối năm.
– Nghệ thuật: Ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc; thể thơ tự do; giọng thơ chân thành, xúc động,...
b3. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
– Thể hiện hiểu biết sâu sắc, thuyết phục về lí luận văn học, văn học sử.