Đề thi tham khảo số 7
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
CHIẾC ĐÈN TRUNG THU
(Trích)
Cái nắng của cuối hạ chớm sang thu. Trời nồng lên oi nực, không bóng rát, gay gắt nhưng hanh hao, bức bối. Cánh đồng trước mặt như bị hong khô, hơi nước bốc lên mờ mờ làm lễnh loãng bầu không khí. Căn nhà lợp ngói nho nhỏ nằm cạnh quả đồi trơ trọi mấy cây na lá ngả vàng. Thằng An ngồi bệt nghịch mấy thứ đồ chơi lem luốc đầu hiên nhà. Quả bóng nhựa lăn ra xa, nó bò hai tay, kiên nhẫn lết đến gần để nhặt. Đôi chân của nó lê trên mặt đất trong chiếc quần dài màu ghi cáu bẩn, dường như không có cảm giác đau đớn vì da thịt bị chà sát.
Ông Bảy cuốc đất ngoài vườn, thi thoảng liếc mắt trông chừng đứa cháu nội. Gần tám tuổi nhưng bị liệt nên thằng bé chỉ có thể quanh quẩn trong nhà. Mặt trời lên cao dần, vừa xới xong hai luống đất thì mồ hôi đã ướt lưng áo. Ông nghe có tiếng mắng mỏ từ trong nhà vẳng ra. Bỏ cái nón đi lên, ông thấy con dâu út vừa lau vũng nước bên cạnh mấy mảnh chén vỡ vừa quát thằng bé. Thằng An cúi mặt sợ sệt nhìn thím rồi quay sang ông, đôi mắt cụp xuống. Chả biết nó lê lết thế nào, làm đổ cả chén trên bàn. Ông thở dài cúi xuống xắn lại tay áo cho nó, biết cháu buồn, ông dỗ:
– Đợi ông làm nốt luống đất gieo cải, ông lại cõng cu An đi ra đê ngồi hóng mát nhé.
Chỉ niềm vui nhỏ bé ấy thôi đã nhóm lên trong đôi mắt của thằng An những tia sáng rạng rỡ. Nó cười ngô nghê, nhìn ông bằng cặp mắt hiền và long lanh.
(Lược một đoạn: Mẹ An bỏ đi, bố An qua đời. Ông Bảy trở thành người nuôi dưỡng và chăm sóc An.)
Một cơn mưa và gió heo may về bỗng chốc xoá tan đi bầu không khí nóng bức. Những cây na, cây bưởi ngoài vườn trĩu quả. Mùi ổi chín ngoài vườn lôi kéo những đàn chim sâu, khướu đen bay về ăn quả, rúc rích trên mái nhà. Thằng An đưa đôi mắt trong trẻo nhìn lên bầu trời xanh. Dường như với nó, đó là những thứ tuyệt đẹp và kì diệu nhất thế gian. Rồi ánh mắt nó bị thu hút vào đám trẻ hàng xóm đang chơi phía bên kia bức tường đất. Những chiếc đèn ông sao dán giấy xanh đỏ như có ma lực làm nó thần người ra. Ông Bảy chợt nhớ sắp tới tết trung thu rồi.
Năm ngoái, ông còn nhớ, cũng dịp trung thu này, thằng An ngồi trước hiên nhà nhìn hai em và lũ bạn cùng xóm chạy nhảy với những chiếc đèn nhiều màu sắc. Ông vội làm đồng vì vào mùa gặt, chậm tí nữa thì không kịp vụ sau, vì thế mà quên mất trung thu của cháu. Nhìn thằng bé lủi thủi, ông vội đi tìm cái hộp xà phòng nhựa màu trắng, đục lỗ, buộc dây, một đầu có tay cầm bằng tre, phía trong hộp đặt một cây nến nhỏ. Đó là thứ đồ chơi ngày thơ ấu còn thiếu thốn của ông. Thằng bé vui sướng lắm, mặc cho những đứa trẻ khác chê bai thứ đồ chơi xấu xí của nó.
(Lược một đoạn: Ông Bảy thương cháu nên năm sau mua cho An một chiếc đèn lồng đẹp và mong được đưa cháu đi rước đèn cùng các bạn.)
Hôm ấy, ông ra vườn để trẩy quả chuẩn bị cho mâm ngũ quả. Nào bưởi, nào ổi, na, chuối, vườn của ông đủ cả. Thêm mấy chiếc bánh, mấy gói kẹo là lũ trẻ đã có mâm cỗ đầy đủ.
(Lược một đoạn: An bị bỏng khi che cho em nhỏ. Sau đó, sức khoẻ của An ngày càng yếu.)
Ngày đưa thằng An về nhà, ông Bảy nhìn chiếc đèn mua cho nó chưa một lần được thắp sáng, để ngay ngắn trên đầu giường. Thằng An mặt đỏ bừng vì những cơn sốt, bàn tay lạnh toát, run rẩy. Ông chẳng biết làm gì hơn là đắp chiếc khăn ấm lên trán nó. Nỗi lo lắng bao lâu nay đã đến, gần lắm, chực chờ ngoài cánh cửa kia. Trong cơn sốt mê man, thằng An gọi ông. Cả tuổi thơ và cuộc đời của nó chỉ biết đến ông. Ông nghẹn lòng nắn nhẹ cánh tay nó.
(Lược một đoạn: An qua đời. Ông Bảy vô cùng đau đớn trước sự mất mát của đứa cháu.)
Ông lại thấy An của ông trong giấc mơ hôm nào, đôi bàn chân lành lặn, khoẻ khoắn bước thật nhẹ qua thảm lá rụng, qua những đám mây vàng nặng trĩu, qua cánh rừng trơ trụi lá. Tay nó cầm chiếc đèn lồng ông mua cho, băng qua những hố bom đạn gập ghềnh, về phía bên kia nơi có cánh diều đang bay lên, bay lên mãi. Nơi ấy là khoảng rừng xanh ngắt bình yên. Nó quay lại nhìn ông mỉm cười và khuất bóng...
(Nguyễn Thị Loan, Chiếc đèn trung thu, Tạp chí Văn nghệ Quân đội điện tử)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Vì sao An chỉ có thể quanh quẩn trong nhà?
Câu 3. Phân tích tác dụng của các từ láy được sử dụng trong câu văn sau: "Nó cười ngô nghê, nhìn ông bằng cặp mắt hiền và long lanh.".
Câu 4. Em hiểu như thế nào về mong muốn của ông Bảy khi "năm sau mua cho An một chiếc đèn lồng đẹp và mong được đưa cháu đi rước đèn cùng các bạn"?
Câu 5. Từ câu chuyện của An, em có suy nghĩ gì về việc biết quan tâm đến những người có hoàn cảnh khó khăn? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Câu 1. (0,5 điểm)
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. (0,5 điểm)
An bị liệt từ nhỏ, đôi chân không thể đi lại bình thường. Vì vậy, gần tám tuổi nhưng em chỉ có thể lê lết quanh nhà, không thể tự do chạy nhảy, vui chơi như những đứa trẻ khác.
Câu 3. (1,0 điểm)
− Các từ láy: "ngô nghê", "long lanh".
− Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm cho cách diễn đạt trở nên giàu hình ảnh, âm điệu nhẹ nhàng, giúp khắc hoạ nhân vật cụ thể và sinh động hơn.
+ Về mặt nội dung: "ngô nghê" gợi vẻ hồn nhiên, ngây thơ của An; "long lanh" làm nổi bật đôi mắt trong trẻo, vui tươi và đáng yêu của cậu bé, qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn trẻ thơ và khơi gợi sự yêu thương ở người đọc.
Câu 4. (1,0 điểm)
− Học sinh trình bày suy nghĩ cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
− Gợi ý trả lời:
+ Mong muốn ấy thể hiện ông Bảy thấu hiểu khát khao của An và luôn mong cháu có được những niềm vui bình dị như bao đứa trẻ khác.
+ Ông không chỉ muốn tặng An một chiếc đèn mà còn muốn bù đắp phần tuổi thơ thiếu thốn, thiệt thòi của cháu, giúp An được hoà nhập và vui chơi cùng bạn bè.
Câu 5. (1,0 điểm)
− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
− Đáp án tham khảo:
+ Trong cuộc sống, có những người phải chịu thiệt thòi, bất hạnh và thiếu thốn hơn chúng ta. Sự quan tâm, sẻ chia dù nhỏ bé cũng có thể giúp họ cảm thấy được yêu thương và có thêm niềm vui.
+ Mỗi người cần biết đồng cảm, giúp đỡ người gặp khó khăn bằng những hành động phù hợp, không chế giễu hay làm tổn thương họ.
+ Biết sẻ chia, yêu thương giúp mỗi người sống nhân ái, ý nghĩa hơn; góp phần làm cho cuộc sống, xã hội trở nên tốt đẹp.
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đặc điểm nhân vật An trong đoạn trích "Chiếc đèn trung thu" (Nguyễn Thị Loan).
Câu 2 (4,0 điểm). Em hãy viết bài văn (khoảng 400 chữ) trình bày ý kiến của em về hiện tượng một số học sinh chế giễu bạn bè có hoàn cảnh khó khăn hoặc khác biệt với mình.
Câu 1. (2,0 điểm)
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích đặc điểm nhân vật An trong đoạn trích "Chiếc đèn trung thu" (Nguyễn Thị Loan).
− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ hoàn cảnh, tính cách, tâm hồn và phẩm chất đáng quý của nhân vật An.
− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.
− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các chi tiết, hình ảnh, hành động, lời nói, cảm xúc của nhân vật An trong đoạn trích.
b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để làm rõ đặc điểm nhân vật An.
− Ý 1. An là một cậu bé có hoàn cảnh bất hạnh nhưng hồn nhiên, trong sáng và giàu khát vọng được vui chơi, được yêu thương.
+ An gần tám tuổi nhưng bị liệt, chỉ có thể quanh quẩn trong nhà, đôi chân thường xuyên lê trên mặt đất. Hoàn cảnh ấy khiến cuộc sống của An chịu nhiều thiệt thòi.
+ Dù vậy, An vẫn giữ được tâm hồn trẻ thơ trong sáng, luôn khao khát những niềm vui giản dị. Khi nhìn thấy những chiếc đèn ông sao của trẻ em hàng xóm, "Những chiếc đèn ông sao dán giấy xanh đỏ như có ma lực làm nó thần người ra.".
+ An biết trân trọng những niềm vui nhỏ bé. Khi được ông cõng đi hóng mát, chi tiết "nhóm lên trong đôi mắt của thằng An những tia sáng rạng rỡ." cho thấy tâm hồn An rất hồn nhiên, nhạy cảm và luôn khao khát được vui chơi như những đứa trẻ khác.
− Ý 2. An là một cậu bé giàu tình cảm, gắn bó sâu sắc với ông Bảy.
+ An luôn đón nhận sự chăm sóc của ông bằng niềm vui và sự tin tưởng. Khi bị thím mắng, An "cúi mặt sợ sệt nhìn thím rồi quay sang ông, đôi mắt cụp xuống", cho thấy ông là chỗ dựa tinh thần gần gũi, thân thuộc của cậu.
+ Khi ông làm cho chiếc đèn trung thu, An cảm thấy "vui sướng lắm", dù những đứa trẻ khác chê bai chiếc đèn xấu xí. Với An, món quà của ông chứa đựng tình yêu thương nên trở nên vô cùng quý giá.
+ Trong những ngày cuối đời, dù đang "Trong cơn sốt mê man", An vẫn gọi ông. Có thể thấy rằng, cả tuổi thơ và cuộc đời của An chỉ biết đến ông. Chi tiết ấy đã khẳng định ông Bảy là người thân yêu, quan trọng nhất trong cuộc đời An.
− Ý 3. An là một cậu bé giàu lòng yêu thương, biết quan tâm và bảo vệ người khác: Khi gặp tình huống nguy hiểm, An đã dũng cảm che chắn cho em nhỏ, dẫn đến bản thân bị bỏng nặng. Hành động ấy cho thấy dù bản thân có hoàn cảnh khó khăn, An vẫn biết yêu thương và bảo vệ người yếu hơn mình.
➜ Nhân vật An hiện lên là một cậu bé có số phận bất hạnh nhưng hồn nhiên, trong sáng, giàu tình cảm và lòng yêu thương. Qua nhân vật An, tác giả không chỉ gợi lên nỗi xót xa trước một tuổi thơ nhiều thiệt thòi mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của tình thân, đặc biệt là tình ông cháu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.
− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Hiện tượng một số học sinh chế giễu bạn bè có hoàn cảnh khó khăn hoặc khác biệt với mình.
− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 400 chữ.
− Sử dụng bằng chứng: Từ thực tế đời sống và trải nghiệm cá nhân.
b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:
− Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
+ Dẫn dắt: Trường học là nơi học sinh học tập, rèn luyện tri thức và đạo đức, đồng thời xây dựng những tình bạn đẹp.
+ Nêu vấn đề nghị luận: hiện nay vẫn còn Hhiện tượng một số học sinh chế giễu bạn bè có hoàn cảnh khó khăn hoặc có những điểm khác biệt với mình. Đây là hành vi đáng phê phán, cần được quan tâm và khắc phục.
− Kết bài: Khẳng định lại vấn đề: Khẳng định chế giễu bạn bè có hoàn cảnh khó khăn hoặc khác biệt là hành vi tiêu cực, cần được loại bỏ.
b2. Bàn luận vấn đề nghị luận:
− Ý 1) Giải thích vấn đề:
+ Chế giễu bạn bè là hành vi dùng lời nói, thái độ hoặc hành động để cười cợt, chê bai, hạ thấp người khác, khiến họ cảm thấy xấu hổ, tổn thương.
+ Đối tượng bị chế giễu thường là những bạn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngoại hình khác biệt, khuyết tật, học tập chưa tốt hoặc có sở thích, tính cách không giống số đông.
− Ý 2) Biểu hiện của hiện tượng:
+ Chê bai quần áo cũ, đồ dùng học tập đơn sơ hoặc hoàn cảnh gia đình nghèo khó của bạn.
+ Đặt biệt danh ác ý, bắt chước ngoại hình, giọng nói, dáng đi hoặc khuyết điểm của người khác để mua vui.
+ Cười cợt, xa lánh, không cho bạn tham gia các hoạt động chung chỉ vì bạn khác biệt với số đông.
− Ý 3) Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân chủ quan:
++ Một số học sinh thiếu lòng nhân ái, chưa biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.
++ Tâm lí thích thể hiện bản thân, muốn gây chú ý hoặc khẳng định vị trí trong nhóm bạn.
++ Nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng chế giễu người khác là trò đùa vô hại.
+ Nguyên nhân khách quan:
++ Gia đình và nhà trường đôi khi chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục kĩ năng ứng xử, sự đồng cảm và tôn trọng khác biệt.
++ Ảnh hưởng từ những nội dung tiêu cực trên mạng xã hội, khiến một số học sinh bắt chước cách nói chuyện miệt thị, cười cợt người khác.
− Ý 4) Hậu quả:
+ Đối với người bị chế giễu: Gây tổn thương tinh thần, khiến các bạn tự ti, mặc cảm, xấu hổ về bản thân và hoàn cảnh gia đình.
+ Đối với người chế giễu: Hình thành lối sống ích kỉ, thiếu tôn trọng người khác, làm xấu đi nhân cách và các mối quan hệ.
+ Đối với cộng đồng, xã hội: Làm mất đi sự đoàn kết, thân thiện trong lớp học, tạo ra môi trường học đường thiếu an toàn.
− Ý 5) Giải pháp khắc phục:
+ Đối với học sinh:
++ Tôn trọng sự khác biệt, không chê bai hoàn cảnh, ngoại hình hay khuyết điểm của bạn bè.
++ Suy nghĩ trước khi nói, không sử dụng lời nói hoặc hành động gây tổn thương người khác.
+ Đối với gia đình, nhà trường:
++ Giáo dục học sinh về lòng nhân ái, sự đồng cảm và cách ứng xử văn minh.
++ Xây dựng môi trường học tập thân thiện, kịp thời ngăn chặn và xử lí hành vi bắt nạt, xúc phạm bạn bè.