Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi khảo sát chất lượng HS lớp 12 THPT đợt 1 tỉnh Phú Thọ SVIP
Đọc văn bản:
NGƯỜI TRONG MƯA LŨ
(Lược một đoạn: Nước dâng cao đến nửa tầng một của đồn biên phòng Cửa Phá. Phá Tam Giang mênh mông nước lũ. Quân nhân của đồn biên phòng căng mình cứu trợ, giúp đỡ dân trong lũ. Tôi cũng đeo túi quân y, một mình lên chiếc mùng đi đỡ đẻ cho một người phụ nữ trong xóm. Trên đường đi, chiếc mùng của tôi bị thủng. Một người đàn ông gầy gò đi mùng qua nhưng đã từ chối giúp đỡ tôi. Dưới chân anh ta là một buồng chuối xanh và mấy con gà chết. Tôi may mắn được các đồng chí đồn biên phòng cứu lên xuồng, đưa vào xóm).
Trời đã sâm sẩm tối. Xã Hải Hà chìm trong lũ lụt. [...] Đã một vài lần tôi theo tổ Vận động quần chúng đi địa bàn xuống vùng này. Nhưng lũ lụt đã xoá hết dấu vết địa hình của làng xã. Chỉ còn mái nhà và ngọn cây xập xoà trong nước. Thỉnh thoảng ánh đèn pin, đèn bão lập loè, nhấp nháy, loang loáng trên nóc nhà, sân thượng trong màn mưa giăng giăng. Những người sơ tán thì đã đi rồi. Người chạy lên nóc nhà, sân thượng thì cũng đã lên rồi. Còn ai đang kẹt trong nhà nữa? Trời đã tối, nước vẫn dâng cao, biết đâu mà lần. Anh Hải bảo Quân giảm tốc độ, cho xuồng lách trên mặt nước theo các ngõ nhỏ. Đi lòng vòng rồi xuồng táp vô vào Trụ sở ủy ban xã. Nước cũng đã ngập sâu đến lưng tầng một, những người chạy lụt khoác nỉ lông đã ngồi đầy trên sân thượng. Anh xã đội trưởng nhảy luôn xuống xuồng:
– Quay xuồng đi các đồng chí. Vợ chồng nhà cu Nhắng ở gần đây thôi.
– Không khéo đã đẻ tọt xuống nước rồi. Nhanh lên. Cu Nhắng, chồng nó bơi mùng đi từ sáng chưa về đâu – Có tiếng người ở sân thượng nói chõ xuống.
Xuồng cao tốc lại lao đi.
Một cái đầu đàn bà thò lên chỗ dỡ ngói kêu, rồi lại thụt xuống. Có tiếng ngói rơi, lăn lộc cộc.
– Chị nhà đã đẻ chưa? – Tôi hỏi ngay.
– Đang thò ra rồi. Anh Hải bảo:
– Neo xuồng chắc vào. Phá mái ngói nhanh lên. – ...
Tôi bấm đèn pin. Trời đất ơi! Một người đàn bà ngồi ở xà nhà. Còn người đàn bà đang đẻ nằm trên cái gác xép để đồ. Hình như cái gác xép cũ, gỗ đã mục nên người đàn bà kia không dám ngồi cùng. Chị ta ngồi ở xà nhà chìa hai tay sang đỡ. Đứa bé đã thò cái chỏm đầu ra.
– Mẹ khỉ. Cu Nhắng đâu mà để vợ con thế này? – Anh xã đội trưởng hỏi. Người đàn bà đẻ sụt xịt. Người đàn bà kia bảo:
– Nhà nó... bơi mùng đi... từ sáng. Chả biết có làm sao không?
– Thôi đừng khóc nữa. Lo cái thân cô và đứa bé đã.
Chúng tôi đành phải phá tường, táp xuồng vào gác xép. Lựa thế đỡ, chúng tôi khiêng cả người mẹ và đứa bé đang thò ra. Một con người sắp chào đời mỏng manh, bấy giờ đang bị lũ lụt, gió mưa đón ở ngoài đời. Quân vẫn cầm tay lái. Người đàn bà kia, anh xã đội trưởng, trung sỹ Hoàn và đồn phó Hải, bốn người cầm bốn góc tấm ni lông che, để cho tôi làm nốt phận sự của bà đỡ.
Khi cái xuồng cao tốc đã quay đầu chuẩn bị lao khỏi cái nhà bị phá tường, dỡ ngói thì có một cái mùng táp vào mạn. Có tiếng la hốt hoảng:
– Trời ơi! Vợ tôi...
– Mẹ thằng cu Nhắng. Mày xéo đi đâu. Có phải lại dò đi ăn trộm vặt không? Quen cái nết đánh chết không chừa. Cả làng cả tổng đi chống lụt, còn mày.
– Tui... tui...
– Thôi lên xuồng đi. Còn tui tui cái gì nữa. – Đồn phó Hải giục giã.
Người đàn bà đang đẻ bảo với tôi, giọng chị ta nghẹn ngào, van vỉ:
– Chồng tui đó. Ảnh bảo đi kiếm con gà, con vịt chết trôi bồi dưỡng cho tui. Vậy mà đi từ sáng. Tui cứ tưởng... Tôi kéo khẽ tấm ni lông nhìn ra. Trời ơi! Trong ánh đèn pin loang loáng là người đàn ông gầy cao lênh khênh và cái mùng có mấy con gà chết với buồng chuối xanh.
Anh ta lập bập trèo lên xuồng rồi sà đến sát bên vợ. Người đàn bà lại nhắm nghiền mắt dồn hết sức cho cuộc sinh nở trong lòng xuồng. Ba cái đèn pin chĩa vào... Xuồng tăng tốc lao đi trong đêm mưa lũ. Tôi đã làm tất cả những việc có thể làm được cho đứa bé ra đời, cho mẹ tròn con vuông. Đến khi có tiếng khóc oe... oe... của đứa bé thì tất cả mọi người đều thở phào. Còn người đàn ông thì thốt lên một tiếng: “Con ơi”. Tiếng anh ta lúc ấy mới da diết làm sao. Không biết có phải vì lạnh, hay vì một cái gì nữa mà đứa bé khóc quá trời. Tiếng khóc như xé vải, như tiếng kêu xuyên vào màn đen dầy đặc của đêm mưa lũ.
(Sương Nguyệt Minh, Tập truyện ngắn Người ở bến sông Châu, NXB Hội Nhà văn, 2001, tr. 150-164)
*Chú thích:
Sương Nguyệt Minh là nhà văn quân đội. Nguyễn Hữu Đại nhận xét: "Nếu như có thể nếm được thì truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh đều có vị ngọt và cay. Đó là vị ngọt của phong cảnh làng quê, của trăng nước, tình người, vị cay xót của số phận cao người.".
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. Xác định không gian, thời gian xảy ra câu chuyện.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thỉnh thoảng ánh đèn pin, đèn bão lập loè, nhấp nháy, loang loáng trên nóc nhà, sân thượng trong màn mưa giăng giăng.
Câu 4. Nhận xét hành động của những quân nhân đồn biên phòng Cửa Phá.
Câu 5. Từ nội dung văn bản, anh/ chị hãy trình bày suy nghĩ về tình người trong nghịch cảnh.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
– Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.
– Dấu hiệu: Người kể chuyện xưng "tôi", trực tiếp tham gia vào các sự việc và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc cá nhân trong truyện.
Câu 2. (0,5 điểm)
– Không gian: Vùng lũ xã Hải Hà, Phá Tam Giang.
– Thời gian: Khi "Trời đã sâm sẩm tối", trong lúc mưa lũ dâng cao.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Biện pháp liệt kê: ánh đèn pin, đèn bão lập loè, nhấp nháy, loang loáng trên nóc nhà, sân thượng.
– Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Phép liệt kê kết hợp các từ láy giàu tính gợi hình (lập loè, nhấp nháy, loang loáng) tạo nhịp điệu dồn dập, tăng sức gợi tả cho câu văn.
+ Về mặt nội dung: Khắc hoạ rõ nét khung cảnh đêm mưa lũ khắc nghiệt, đồng thời làm nổi bật tinh thần, nghị lực của con người khi nỗ lực giữ lấy sự sống mong manh trong hiểm cảnh.
Câu 4. (1,0 điểm)
Nhận xét hành động của những quân nhân đồn biên phòng Cửa Phá:
– Những quân nhân đồn biên phòng không chỉ dũng cảm cứu hộ trong điều kiện nguy hiểm (nước dâng, đêm tối, mưa lớn) mà còn chủ động, linh hoạt xử lí các tình huống khẩn cấp (tìm kiếm người mắc kẹt, phá mái ngói, tường nhà, đưa xuồng áp sát để kịp thời cứu sản phụ).
– Những hành động của quân nhân đồn biên phòng thể hiện tình thương và sự tận tụy sâu sắc với nhân dân. Họ không quản khó khăn để giúp người phụ nữ sinh con an toàn, coi việc bảo vệ tính mạng người dân là nhiệm vụ cấp bách, thiêng liêng.
Câu 5. (1,0 điểm)
– HS trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
– Gợi ý trả lời:
+ Tình người trong nghịch cảnh là sự yêu thương, đùm bạc, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Chính tình người giúp con người vượt qua khó khăn, làm ấm lên cuộc sống giữa hoàn cảnh khắc nghiệt.
+ Mỗi người cần biết sống nhân ái, sẻ chia để góp phần xây đắp, lan toả những giá trị tốt đẹp trong cuộc đời.
Câu 1. (2,0 điểm)
Anh/ Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích sự tương đồng về ý nghĩa Trong gian khó, sự sống vẫn sinh thành qua hai ngữ liệu sau:
(1) Người đàn bà lại nhắm nghiền mắt dồn hết sức cho cuộc sinh nở trong lòng xuồng. Ba cái đèn pin chĩa vào... Xuồng tăng tốc lao đi trong đêm mưa lũ. Tôi đã làm tất cả những việc có thể làm được cho đứa bé ra đời, cho mẹ tròn con vuông. Đến khi có tiếng khóc oe... oe... của đứa bé thì tất cả mọi người đều thở phào. Còn người đàn ông thì thốt lên một tiếng: "Con ơi". Tiếng anh ta lúc ấy mới da diết làm sao. Không biết có phải vì lạnh, hay vì một cái gì nữa mà đứa bé khóc quá trời. Tiếng khóc như xé vải, như tiếng kêu xuyên vào màn đen dầy đặc của đêm mưa lũ.
(Người trong mưa lũ – Sương Nguyệt Minh)
(2) Tôi thấy thương chị quá chừng và tôi có cảm giác như nước mắt chị đã bắn lên ướt cả mắt tôi, lòng tôi đau thắt lại, muốn gào lên. Thế là tôi gào: Nào, nhanh lên! – Và trên tay tôi đã có một con người – đỏ hỏn. Tuy mắt nhoà lệ, tôi cũng thấy rõ là nó đỏ hỏn và chưa chi đã bất mãn với cuộc đời rồi, nó vùng vằng, giãy đạp và hét tướng lên, tuy cuống rốn vẫn còn dính vào mẹ. Mắt nó màu xanh nhạt, mũi nó tẹt một cách đến buồn cười trên cái mặt đỏ tía, nhàu nhĩ, đôi môi nó mấp máy và kéo rê: Ya....Ya... [...] Người cư dân mới của đất Nga, con người mà số phận chưa ai lường trước được là sẽ ra sao, đang nằm trên tay tôi ngày dõng dạc. Biển vỗ ì ầm và cuộn sóng lao xao...
(Một con người ra đời – Macxim Gorki)
*Chú thích:
"Một con người ra đời" ca tụng tính chất thiêng liêng của sự kiện "một con người ra đời". Đoạn trích trên miêu tả quá trình sinh nở của một người mẹ trên hành trình kiếm sống cùng đoàn người đói khổ.
Câu 2. (4,0 điểm)
Trong bài Niềm tự hào và sứ mệnh tuổi trẻ, báo điện tử Quân đội Nhân dân Việt Nam, ngày 26/3/2025, có viết: Thời đại này không chờ đợi những tâm hồn ngủ quên mà cần những khối óc biết dùng sức trẻ để gieo hạt giống cho tương lai. Và trong những trận bão lũ, thanh niên cũng là lực lượng xung kích gieo hạt giống hồi sinh.
Anh/ Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Tuổi trẻ Việt Nam góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng trong mưa lũ, thiên tai.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng (0,5 điểm).
– Vấn đề nghị luận: Sự tương đồng về ý nghĩa "Trong gian khó, sự sống vẫn sinh thành".
– Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song song.
– Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể: HS triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Phân tích được sự tương đồng về ý nghĩa qua hai ngữ liệu (1,0 điểm):
– Cả hai văn bản đều khắc họa sự ra đời của sự sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, gian khó:
+ Ở ngữ liệu (1), đứa trẻ cất tiếng khóc giữa "đêm mưa lũ", "màn đen dầy đặc", trong điều kiện sinh nở nguy hiểm nhưng vẫn "ra đời, cho mẹ tròn con vuông".
+ Ở ngữ liệu (2), đứa trẻ xuất hiện trong bối cảnh khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên với âm thanh "Biển vỗ ì ầm và cuộn sóng lao xao...", báo hiệu một thế giới không hề bình yên đang chờ đón.
– Cùng thể hiện sức sống mãnh liệt, không gì có thể ngăn cản của con người:
+ Tiếng khóc "oe... oe..." như "xé vải, như tiếng kêu xuyên vào màn đen" ở ngữ liệu (1) khẳng định sự sống mạnh mẽ vươn lên giữa hiểm nguy.
+ Hình ảnh đứa trẻ "đỏ hỏn", "vùng vằng, giãy đạp và hét tướng lên" ở ngữ liệu (2) cho thấy sự sống ngay từ khi bắt đầu đã mang năng lượng phản kháng, khẳng định sự tồn tại.
– Đều gợi lên ý nghĩa nhân văn sâu sắc về sự sống và con người:
+ Sự ra đời của đứa trẻ ở ngữ liệu (1) mang lại niềm hi vọng, khiến mọi người "đều thở phào", người cha thốt lên "Con ơi".
+ Đứa trẻ trong ngữ liệu (2) được gọi là "Người cư dân mới của đất Nga", mở ra một tương lai chưa biết nhưng đầy ý nghĩa, khẳng định giá trị thiêng liêng của sự sống.
b2. Đánh giá (0,25 điểm):
– Hai ngữ liệu, dù khác bối cảnh, đều gặp gỡ ở tư tưởng nhân văn: Ca ngợi sức sống con người và niềm tin vào tương lai ngay trong nghịch cảnh.
– Nghệ thuật miêu tả chân thực, giàu cảm xúc, đặc biệt là hình ảnh và âm thanh (tiếng khóc, thiên nhiên dữ dội) góp phần làm nổi bật ý nghĩa đó.
b3. Sáng tạo (0,25 điểm):
– Có cách diễn đạt mạch lạc, giàu cảm xúc, lập luận thuyết phục.
– Thể hiện được suy nghĩ riêng, liên hệ sâu sắc về ý nghĩa của sự sống trong nghịch cảnh.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng (1,0 điểm).
– Vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ Việt Nam góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng trong mưa lũ, thiên tai.
– Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: Thực tế đời sống (hoạt động cứu trợ, tình nguyện của thanh niên trong thiên tai,…) và có thể liên hệ với văn bản ở phần Đọc hiểu.
b. Yêu cầu cụ thể: HS triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội (0,5 điểm):
– Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giải thích được vấn đề nghị luận (0,5 điểm):
– Tuổi trẻ Việt Nam: Lực lượng thanh niên giàu nhiệt huyết, sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến.
– Sức mạnh cộng đồng trong mưa lũ, thiên tai: Là sự đoàn kết, tương trợ, chung tay của nhiều người nhằm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, khắc phục hậu quả thiên tai.
⇒ Tuổi trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc khơi dậy, lan toả và trực tiếp tạo nên sức mạnh đoàn kết ấy.
b3. Phân tích, chứng minh làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm):
– Vai trò, ý nghĩa của tuổi trẻ trong thiên tai:
+ Là lực lượng xung kích, đi đầu trong cứu hộ, cứu nạn: Tham gia di dời dân, cứu trợ người mắc kẹt, hỗ trợ khắc phục hậu quả.
+ Góp phần lan toả tinh thần nhân ái, đoàn kết: Tổ chức quyên góp, hỗ trợ lương thực, thuốc men, chia sẻ khó khăn với người dân vùng lũ.
+ Thể hiện trách nhiệm công dân và lý tưởng sống đẹp: Dùng sức trẻ để "gieo hạt giống hồi sinh", góp phần tái thiết cuộc sống sau thiên tai.
– Biểu hiện thực tế:
+ Hình ảnh thanh niên tình nguyện dầm mình trong nước lũ, vận chuyển hàng cứu trợ, hỗ trợ người dân sơ tán.
+ Nhiều tổ chức, cá nhân trẻ sử dụng mạng xã hội để kêu gọi giúp đỡ, kết nối nguồn lực nhanh chóng, hiệu quả.
+ Liên hệ: Hình ảnh những người lính, thanh niên trong văn bản Người trong mưa lũ sẵn sàng cứu người, giúp sản phụ vượt cạn an toàn.
– Nguyên nhân:
+ Xuất phát từ tinh thần yêu nước, truyền thống "lá lành đùm lá rách" của dân tộc.
+ Ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ trước cộng đồng và xã hội.
+ Sự định hướng, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội về lối sống cống hiến.
b4. Mở rộng, nâng cao vấn đề và rút ra bài học (0,5 điểm):
– Phê phán một bộ phận thanh niên thờ ơ, vô cảm, ngại khó, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân.
– Nhận thức rằng sức mạnh cộng đồng không tự nhiên có mà cần sự góp sức bền bỉ của mỗi cá nhân, đặc biệt là người trẻ.
– Bài học: Tuổi trẻ cần rèn luyện ý thức trách nhiệm, sẵn sàng dấn thân, sống có lý tưởng và biết cống hiến vì cộng đồng, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn như thiên tai.
b5. Sáng tạo (0,5 điểm):
– Có cách diễn đạt mạch lạc, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phù hợp.
– Thể hiện được quan điểm riêng sâu sắc, có thể liên hệ thực tế và văn bản đọc hiểu để làm nổi bật vai trò của tuổi trẻ.