pin

Đề thi chính thức kì thi tuyển sinh lớp 10 THPT Sở GD&ĐT TP Hà Nội năm học 2026 - 2027

Đọc văn bản sau:

TRĂNG TRONG RỪNG VÀ NHỮNG ĐỨA TRẺ

Thanh Thảo (*)

Những đứa trẻ chưa từng ra biển

Nào thấy trăng trên sóng biếc mênh mang

Chưa được lớn lên ở đồng bằng

Để ca múa dưới vầng trăng nguyên vẹn

Cũng chưa sống giữa phố phường bừng ánh điện

Nơi mùa trăng dễ bị lãng quên…

Những đứa trẻ ở rừng

Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá

Những vệt ngời nho nhỏ

Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ

“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”

Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ

Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?

“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”

Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ

Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao

“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”

Những vệt ngời nho nhỏ

Những vệt ngời nho nhỏ

Giữa rừng già

Trăng bé thế thôi…

(Thanh Thảo, Tác phẩm Văn học được Giải thưởng Nhà nước,

NXB Hội Nhà văn, 2015)

Chú thích:

(*) Thanh Thảo sinh năm 1946, quê ở Quảng Ngãi. Ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của bài thơ trên và nêu một dấu hiệu nhận biết thể thơ đó.

Câu 2 (0,5 điểm). Ghi lại hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu.

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ:

“Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ

Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao”.

Câu 4 (1,0 điểm). Lời gọi trăng của những đứa trẻ trong khổ thơ cuối có ý nghĩa gì?

Câu 5 (1,0 điểm). “Những đứa trẻ ở rừng” đón “trăng rằm qua kẽ lá” “long lanh”, chúng chưa từng được ra biển để thấy “trăng trên sóng biếc mênh mang”. Theo em, bằng lòng với cuộc sống hiện tại hay dấn thân khám phá những chân trời mới, trải nghiệm nào đáng giá hơn? Hãy nêu lựa chọn của em và lí giải vì sao (trình bày trong khoảng 5-7 dòng).

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

– Thể thơ: Tự do.

– Dấu hiệu nhận biết:

+ Số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều nhau.

+ Số dòng trong các khổ thơ không cố định.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh xác định đúng thể thơ và nêu được 01 dấu hiệu nhận biết: 0,5 điểm.

– Học sinh xác định đúng thể thơ: 0,25 điểm.

– Học sinh nêu được 1 trong 2 dấu hiệu nhận biết như đáp án: 0,25 điểm.

– Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

Câu 2.

Hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu: biển, trăng.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh ghi lại được hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu: 0,5 điểm.

– Học sinh ghi lại được một từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu: 0,25 điểm.

– Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

Câu 3.

– Biện pháp tu từ nhân hoá: “trăng là đứa trẻ” (xem “trăng” như “đứa trẻ” có “gương mặt dịu lành”).

– Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Làm cho hình ảnh “trăng” trở nên sinh động, gần gũi, giàu sức gợi và tăng giá trị biểu cảm cho dòng thơ.

+ Về mặt nội dung:

++ Khắc hoạ vầng trăng như một người bạn nhỏ đáng yêu, thân thiết với những đứa trẻ nơi rừng sâu; đồng thời thể hiện vẻ đẹp dịu dàng, nhân hậu của ánh trăng luôn hiện diện, sẻ chia và nâng đỡ con người trong những “năm tháng gian lao”.

++ Thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của tác giả đối với tuổi thơ và thiên nhiên.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh trả lời được như đáp án hoặc có cách diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.

– Học sinh trả lời được ý 1 và 1 phần ý 2: 0,75 điểm.

– Học sinh trả lời được ý 2 như đáp án hoặc có cách diễn đạt tương đương: 0,5 – 0,75 điểm.

– Học sinh trả lời được ý 1: 0,25 điểm.

– Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

Câu 4.

Lời gọi trăng của những đứa trẻ trong khổ thơ cuối có ý nghĩa:

– Thể hiện niềm yêu thích, sự gắn bó và khát khao được gần gũi với ánh trăng của những đứa trẻ nơi rừng sâu; qua đó gợi lên tâm hồn hồn nhiên, trong sáng, giàu cảm xúc của tuổi thơ.

– Cho thấy cuộc sống còn nhiều thiếu thốn nhưng các em vẫn biết tìm niềm vui từ những vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh trả lời được như đáp án hoặc có cách diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.

– Học sinh trả lời được 1 trong 2 ý: 0,5 – 0,75 điểm.

– Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

Câu 5.

Học sinh trả lời theo suy nghĩ cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp. Gợi ý trả lời:

– Lựa chọn dấn thân khám phá những chân trời mới.

– Lí giải:

+ Mỗi trải nghiệm mới giúp con người mở rộng hiểu biết và trưởng thành hơn; việc khám phá thế giới giúp ta nhận ra vẻ đẹp phong phú của cuộc sống, giống như được nhìn thấy nhiều vẻ đẹp khác nhau của vầng trăng.

+ Dám bước ra khỏi vùng an toàn giúp con người rèn luyện bản lĩnh và khả năng thích nghi. Tuy nhiên, khi khám phá những điều mới, ta vẫn cần trân trọng những gì mình đang có ở hiện tại.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh đưa ra lựa chọn và có lí giải phù hợp, sâu sắc, đảm bảo dung lượng: 1,0 điểm.

– Học sinh đưa ra lựa chọn và có lí giải ngắn gọn: 0,5 – 0,75 điểm.

– Học sinh chỉ đưa ra lựa chọn: 0,25 điểm.

– Học sinh trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm).

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh những đứa trẻ trong các dòng thơ sau:

“Những đứa trẻ ở rừng

Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá

Những vệt ngời nho nhỏ

Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ

“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”

Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ

Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?”

Câu 2 (4,0 điểm).

Xã hội hiện đại cần nhiều hơn sự gắn kết nhưng một số bạn trẻ lại đang dần mất đi sự kết nối với cuộc sống xung quanh mình.

Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) đề xuất giải pháp để tạo nên những kết nối có ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục thực trạng trên.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh viết được đoạn văn bảo đảm các yêu cầu về hình thức và dung lượng (200 ± 100 chữ): 0,25 điểm.

– Học sinh viết không đúng hình thức đoạn văn; viết dưới 100 chữ hoặc trên 300 chữ: 0,0 điểm.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích hình ảnh những đứa trẻ trong các dòng thơ.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.

– Học sinh chưa xác định được vấn đề nghị luận: 0,0 điểm.

c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu (1,5 điểm):

Học sinh viết đoạn văn theo một số gợi ý sau:

– Mở đoạn:

+ Giới thiệu khái quát đoạn thơ.

+ Nêu vấn đề: Hình ảnh những đứa trẻ hiện lên vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa gợi nhiều niềm thương cảm.

– Thân đoạn:

+ Những đứa trẻ có cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, thiệt thòi:

++ Các em sống giữa núi rừng, chỉ có thể đón ánh trăng qua những khoảng trống của tán cây: “Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá”. Hình ảnh ấy cho thấy điều kiện sống còn hạn chế và những thiếu thốn trong tuổi thơ của các em.

++ Câu thơ cuối “Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?” gợi lên những ước mong giản dị nhưng chưa dễ trở thành hiện thực, khiến người đọc thêm xúc động và đồng cảm.

+ Những đứa trẻ mang vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng và giàu ước mơ:

++ Dù cuộc sống còn khó khăn, các em vẫn say mê ngắm nhìn những “vệt ngời nho nhỏ”, để ánh trăng “Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ”. Hình ảnh ấy làm nổi bật tâm hồn trong trẻo, giàu cảm xúc của trẻ em vùng cao.

++ Lời gọi “Trăng tròn ơi xuống đây chơi” là cách nhân hoá đầy ngộ nghĩnh, thể hiện khát vọng được gần gũi, được vui chơi cùng vầng trăng của các em nhỏ.

➜ Qua hình ảnh những đứa trẻ, tác giả bày tỏ sự trân trọng, tình yêu thương với vẻ đẹp tâm hồn trẻ thơ; đồng thời gợi cho người đọc những suy nghĩ về trách nhiệm quan tâm, chăm lo để trẻ em có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc hơn.

– Kết đoạn:

+ Khẳng định lại vẻ đẹp của hình ảnh những đứa trẻ trong đoạn thơ.

+ Nêu giá trị nhân văn mà đoạn thơ gửi gắm.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh viết được mở đoạn, kết đoạn: 0,25 điểm.

– Học sinh phân tích được hoàn cảnh, cuộc sống còn thiếu thốn của những đứa trẻ: 0,5 điểm.

– Học sinh phân tích được vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, giàu ước mơ của những đứa trẻ: 0,5 điểm.

– Học sinh đánh giá được tình cảm, thông điệp mà tác giả gửi gắm qua hình ảnh những đứa trẻ: 0,25 điểm.

– Học sinh không viết được đoạn văn: 0,0 điểm.

Câu 2.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ).

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh xác định đúng yêu cầu kiểu bài và dung lượng của bài văn (khoảng 400 chữ): 0,25 điểm.

– Học sinh viết không đúng yêu cầu kiểu bài; viết dưới 300 chữ hoặc trên 550 chữ: 0,0 điểm.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):

Đề xuất giải pháp để tạo nên những kết nối có ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục tình trạng một số bạn trẻ đang dần mất đi sự kết nối với cuộc sống xung quanh.

Hướng dẫn chấm:

– Học sinh xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.

– Học sinh chưa xác định được vấn đề nghị luận: 0,0 điểm.

c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu (3,5 điểm):

Lập luận chặt chẽ, thuyết phục; lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. Có thể triển khai theo hướng sau:

* Mở bài:

– Dẫn dắt vấn đề: Con người là một thực thể xã hội, luôn cần sự gắn bó và kết nối với những người xung quanh. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, một số bạn trẻ đang dần thu hẹp các mối quan hệ thực tế, trở nên thờ ơ hoặc xa cách với cuộc sống xung quanh.

– Nêu vấn đề nghị luận: Cần có những giải pháp thiết thực để tạo nên các kết nối tích cực và ý nghĩa giữa các bạn trẻ với cuộc sống xung quanh.

* Thân bài:

– Giải thích vấn đề:

+ Kết nối là sự gắn bó, sẻ chia, tương tác giữa con người với gia đình, bạn bè, cộng đồng và xã hội. Những kết nối tích cực giúp con người được yêu thương, thấu hiểu, hỗ trợ và phát triển toàn diện.

+ Mất kết nối là tình trạng sống khép kín, ít quan tâm đến người khác hoặc chỉ giao tiếp hời hợt qua môi trường trực tuyến,

– Nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất kết nối ở một bộ phận giới trẻ:

+ Sự phát triển của công nghệ khiến nhiều bạn dành quá nhiều thời gian cho điện thoại, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến.

+ Áp lực học tập, tâm lí ngại giao tiếp hoặc lối sống cá nhân khiến các mối quan hệ ngoài đời thực bị thu hẹp.

+ Một số bạn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của sự kết nối đối với sự phát triển của bản thân.

– Giải pháp để tạo nên những kết nối có ý nghĩa tích cực:

+ Chủ động quan tâm và giao tiếp với những người xung quanh:

++ Dành thời gian trò chuyện với ông bà, cha mẹ, anh chị em; lắng nghe và chia sẻ nhiều hơn với bạn bè.

++ Những cuộc trò chuyện chân thành giúp con người thấu hiểu nhau và xây dựng các mối quan hệ bền vững.

+ Sử dụng công nghệ một cách hợp lí:

++ Giảm thời gian phụ thuộc vào mạng xã hội, ưu tiên các hoạt động giao tiếp trực tiếp.

++ Biết tận dụng công nghệ để học tập, kết nối tích cực thay vì sống tách biệt trong thế giới ảo.

+ Tích cực tham gia các hoạt động tập thể và cộng đồng:

++ Tham gia câu lạc bộ, hoạt động thiện nguyện, văn nghệ, thể thao hoặc các chương trình vì cộng đồng.

++ Những trải nghiệm với tập thể, cộng đồng xã hội giúp người trẻ mở rộng mối quan hệ, rèn luyện kỹ năng sống cũng như tinh thần trách nhiệm.

+ Rèn luyện sự đồng cảm và tinh thần sẻ chia:

++ Học cách đặt mình vào vị trí của người khác để biết thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt.

++ Sự quan tâm chân thành chính là nền tảng tạo nên những kết nối có ý nghĩa.

– Mở rộng vấn đề:

+ Phê phán lối sống khép kín, thờ ơ, chỉ quan tâm đến bản thân hoặc lệ thuộc hoàn toàn vào các mối quan hệ ảo.

+ Cần tránh việc kết nối, giao lưu một cách hình thức, chạy theo số lượng bạn bè mà thiếu sự chân thành và trách nhiệm.

– Ý nghĩa của những kết nối tích cực:

+ Giúp con người có thêm niềm vui, động lực và sự hỗ trợ trong cuộc sống.

+ Góp phần xây dựng môi trường sống nhân văn, đoàn kết và phát triển bền vững.

* Kết bài:

– Khẳng định lại tầm quan trọng của việc xây dựng những kết nối tích cực trong cuộc sống hiện đại.

– Liên hệ bản thân: Mỗi học sinh cần chủ động mở lòng, biết quan tâm, sẻ chia và tham gia các hoạt động có ích để tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp, góp phần lan toả những giá trị tích cực trong cộng đồng.

Hướng dẫn chấm:

– Bài viết của học sinh có luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, phân tích đầy đủ, sâu sắc: 3,5 điểm.

– Bài viết của học sinh có luận điểm khá rõ ràng, lập luận khá chặt chẽ, phân tích tương đối đầy đủ: 1,5 – 2,0 điểm.

– Bài viết của học sinh phân tích chung chung: 0,75 – 1,25 điểm.

– Bài viết của học sinh phân tích sơ sài: 0,25 – 0,5 điểm.

– Học sinh không phân tích được: 0,0 điểm.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này