pin

Đề tham khảo số 8 (Công văn 7991)

Đọc văn bản sau:

TÌNH NGƯỜI QUAN HỌ

Yêu sao Quan họ(1) nặng tình

Để rồi lòng mãi cho mình vấn vương

Dẫu rằng đi khắp bốn phương

Ai mà quên nhỉ quê hương chốn này


Từ nơi đồng ruộng cuốc cày

Mà thành tiếng hát hôm nay đậm đà

Dạt dào làn điệu dân ca

Mang hồn non nước cùng ta khó rời

Thiết tha sâu lắng từng lời

Thấm vào gan ruột cả đời quên đâu

Có con cò trắng đồng sâu

Hoà cùng em gái trồng dâu bãi làng


Bao đêm dưới ánh trăng vàng

Bên nhau trai, gái rộn ràng sánh đôi

Sông Cầu(2) nước lững lờ trôi

Chiếc đò ghé bến như hồi ngày xưa


Trải qua năm nắng, mười mưa

Về làng tiếng hát vẫn đưa đón mình

Cây đa, giếng nước, mái đình

Cũng từ Quan họ bóng hình hiện ra


Cho người cất bước bôn ba

Vẫn luôn lưu luyến dân ca từng lời

Mang theo đây suốt một đời

Dẫu đang sống mãi xa vời nhớ sao.

(Đào Nguyên Lịch, Tình người Quan họ, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 594, tháng 1 − 2025)

Chú thích:

(1)Quan họ: Một thể loại dân ca trữ tình đặc trưng của người Kinh tại vùng Bắc Ninh. Quan họ được hình thành từ những làn điệu dân gian, có nguồn gốc từ những cuộc hát đối giữa các nhóm trai gái, thể hiện tình cảm yêu thương, tâm tư của con người. Nguồn gốc của quan họ được cho là bắt nguồn từ những thế kỷ trước, có thể là vào thời kỳ Lê Sơ. (Theo tudientiengviet.org).

(2)Sông Cầu (còn gọi là sông Như Nguyệt, sông Thị Cầu, sông Nguyệt Đức hay mỹ danh "dòng sông quan họ"): Là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình, nằm lọt trong vùng Đông Bắc, Việt Nam.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra 02 hình ảnh thiên nhiên, cảnh vật gắn với không gian văn hoá Quan họ được nhắc đến trong bài thơ.

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nhân hoá được sử dụng trong đoạn thơ sau: "Trải qua năm nắng, mười mưa/ Về làng tiếng hát vẫn đưa đón mình".

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích sự vận động của mạch cảm xúc trong bài thơ.

Câu 5 (1,0 điểm). Qua bài thơ, anh/ chị có suy nghĩ gì về vai trò của văn hoá truyền thống đối với đời sống tinh thần của con người? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2.

− Học sinh chỉ ra được 02 hình ảnh thiên nhiên, cảnh vật gắn với không gian văn hoá Quan họ được nhắc đến trong bài thơ.

− Những hình ảnh thiên nhiên, cảnh vật gắn với không gian văn hoá Quan họ được nhắc đến trong bài thơ: "con cò trắng đồng sâu", "ánh trăng vàng", "Sông Cầu", "chiếc đò", "cây đa", "giếng nước", "mái đình".

Câu 3.

− Biện pháp tu từ: Nhân hoá (gán hoạt động "đưa đón" của con người cho sự vật "tiếng hát").

− Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Làm cho tiếng hát trở nên sinh động, gần gũi; tạo cách diễn đạt giàu cảm xúc.

+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh sự gắn bó bền chặt giữa Quan họ với đời sống con người: Tiếng hát như người thân luôn chờ đợi, đón chào những người đi xa trở về quê hương.

Câu 4.

Sự vận động của mạch cảm xúc trong bài thơ:

− Mạch cảm xúc bắt đầu từ tình yêu, sự vấn vương đối với Quan họ; tiếp đó, tác giả gợi lại nguồn gốc dân gian, những làn điệu và không gian sinh hoạt văn hoá gắn với loại hình dân ca này.

− Từ những nét đẹp cụ thể của Quan họ, cảm xúc mở rộng thành nỗi nhớ quê hương, sự gắn bó với cội nguồn và tình yêu dành cho những giá trị văn hoá truyền thống.

Câu 5.

− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.

− Gợi ý trả lời:

+ Văn hoá truyền thống góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Những làn điệu dân ca, phong tục và nét đẹp văn hoá giúp con người tìm thấy niềm vui, sự đồng điệu và những giá trị ý nghĩa trong cuộc sống.

+ Văn hoá truyền thống là sợi dây gắn kết con người với quê hương, cội nguồn và cộng đồng. Dù đi xa, những giá trị thân thuộc vẫn gợi nhắc mỗi người về nơi mình sinh ra, khơi dậy tình yêu quê hương và niềm tự hào về bản sắc dân tộc.

➜ Mỗi người cần có ý thức trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống. Đó không chỉ là cách tiếp nối di sản của cha ông mà còn góp phần làm giàu đời sống tinh thần cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá tình cảm của nhân vật trữ tình đối với quê hương trong hai bài thơ "Tình người Quan họ" (Đào Nguyên Lịch) và "Dấu quê" (Nguyễn Minh Khiêm).

DẤU QUÊ

Tự nhiên lại gọi tên làng
Như là đứa trẻ lạc đường gọi cha
Giật mình như vạc ăn xa
Qua đêm mới kịp nhận ra chân trời!
Bàn chân nhẵn Bắc, Nam rồi
Thương về cái cổng cóc ngồi dầm mưa,
Miếng cà nhai tự ngày xưa
Bây giờ nghe lại vẫn chưa hết giòn!
Nghe bao lời phấn lời son
Rưng rưng lại ước mẹ còn... võng đưa...
Lời quê lắm nắng, nhiều mưa
Nắng mưa sao ngọt, cày bừa sao thơm!
Nhiều khi đói chả thèm cơm
Thèm lời chân thật được đơm cho đầy.
Đem mình làm cuộc trưng bày
Nhìn mình chỉ thấy mình đầy dấu quê.
Hồn như hạt cải, hạt kê
Gieo đi trăm ngả lại về làng xanh.
Câu thơ lạc chốn đô thành
Xin về ngọt với đất lành làng ơi!

(Dấu quê, Nguyễn Minh Khiêm, theo Những mảnh ghép của huyền thoại, Nguyễn Thanh Tâm, NXB Văn học, 2024, tr.339)

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về khát vọng cống hiến cho quê hương của tuổi trẻ.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình cảm của nhân vật trữ tình đối với quê hương trong hai bài thơ “Tình người Quan họ” (Đào Nguyên Lịch) và “Dấu quê” (Nguyễn Minh Khiêm).

− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt trong tình cảm của nhân vật trữ tình đối với quê hương và đánh giá được nét riêng trong cách thể hiện tình cảm ấy ở mỗi bài thơ.

− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.

− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các hình ảnh, từ ngữ, câu thơ tiêu biểu trong hai bài thơ.

b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để so sánh, đánh giá tình cảm của nhân vật trữ tình đối với quê hương trong hai bài thơ.

− Ý 1) Điểm tương đồng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, bền bỉ, luôn hiện diện trong tâm hồn con người dù phải sống xa quê.

+ Trong “Tình người Quan họ”, nhân vật trữ tình khẳng định dù “đi khắp bốn phương” vẫn không thể quên quê hương và luôn “lưu luyến dân ca từng lời”.

+ Trong “Dấu quê”, nỗi nhớ quê trở thành tiếng gọi tự nhiên, da diết: “Tự nhiên lại gọi tên làng”.

➞ Ở cả hai bài thơ, quê hương không chỉ là nơi chốn thân thuộc mà còn là cội nguồn lưu giữ những giá trị văn hoá, những kỉ niệm và tình cảm gắn bó sâu sắc của mỗi người.

− Ý 2) Điểm khác biệt: Tình cảm dành cho quê hương được thể hiện qua những sắc thái riêng.

+ Trong “Tình người Quan họ”, tình yêu quê hương gắn với niềm tự hào, sự say mê đối với dân ca Quan họ và vẻ đẹp văn hoá Kinh Bắc. Những hình ảnh “Sông Cầu”, “Chiếc đò”, “Cây đa, giếng nước, mái đình” tái hiện không gian quê hương bình dị, thơ mộng, thân thuộc.

+ Trong “Dấu quê”, tình yêu quê hương thấm đẫm nỗi nhớ và sự hoài niệm về những điều bình dị như “cái cổng cóc”, “Miếng cà nhai tự ngày xưa”, đặc biệt là nỗi nhớ mẹ qua câu thơ “Rưng rưng lại ước mẹ còn... võng đưa...”. Quê hương còn là nơi lưu giữ bản sắc, cội nguồn của mỗi người, được khẳng định qua hình ảnh “mình đầy dấu quê”.

− Ý 3) Đánh giá: Hai cách thể hiện khác nhau góp phần làm phong phú tình yêu quê hương trong thơ ca.

+ “Tình người Quan họ” nổi bật ở cảm xúc trìu mến, tự hào về những giá trị văn hoá truyền thống; “Dấu quê” gây xúc động bởi nỗi nhớ sâu lắng, chân thành và khát vọng được trở về với cội nguồn.

+ Cả hai bài thơ đều nhắc nhở mỗi người biết trân trọng quê hương, gìn giữ những giá trị văn hoá và tình cảm đã góp phần làm nên bản sắc của chính mình.

➜ Cả hai bài thơ đều thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, nhưng nếu “Tình người Quan họ” nhấn mạnh niềm tự hào, sự gắn bó với dân ca và văn hoá truyền thống thì “Dấu quê” khơi sâu nỗi nhớ những điều bình dị, thân thương và khát vọng trở về cội nguồn.

Câu 2.

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Khát vọng cống hiến cho quê hương của tuổi trẻ.

− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 600 chữ.

− Sử dụng bằng chứng: Từ thực tiễn đời sống và những hiểu biết phù hợp về vai trò, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương.

b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận xã hội. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:

b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:

− Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.

+ Dẫn dắt: Quê hương không chỉ là nơi mỗi người sinh ra, lớn lên mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, truyền thống và tình cảm gắn bó sâu sắc.

+ Nêu vấn đề: Tình yêu quê hương cần được thể hiện bằng khát vọng cống hiến, đặc biệt ở tuổi trẻ – thế hệ có sức khoẻ, tri thức, nhiệt huyết và khả năng góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

− Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của khát vọng cống hiến cho quê hương; liên hệ trách nhiệm của người trẻ trong việc nuôi dưỡng lí tưởng, rèn luyện bản thân và hành động thiết thực vì sự phát triển của quê hương.

b2. Bàn về khát vọng cống hiến cho quê hương của tuổi trẻ:

− Ý 1) Giải thích vấn đề:

+ Khát vọng cống hiến cho quê hương là mong muốn được đóng góp sức lực, trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết của bản thân để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

+ Cống hiến không nhất thiết phải là những việc làm lớn lao mà có thể bắt đầu từ những hành động bình dị, phù hợp với khả năng và điều kiện của mỗi người.

➜ Khát vọng cống hiến thể hiện tình yêu quê hương bằng mong muốn đóng góp thiết thực cho cộng đồng và đất nước.

− Ý 2) Vì sao tuổi trẻ cần có khát vọng cống hiến cho quê hương?

+ Tuổi trẻ là giai đoạn con người có sức khoẻ, nhiệt huyết, tinh thần sáng tạo và khả năng tiếp thu tri thức mới; đây là những điều kiện thuận lợi để học tập, lao động, đổi mới và tạo ra giá trị tích cực cho quê hương.

+ Quê hương là nơi nuôi dưỡng mỗi người bằng những giá trị vật chất, tinh thần, văn hoá và truyền thống. Cống hiến cho quê hương cũng là cách thể hiện lòng biết ơn, sự gắn bó và ý thức trách nhiệm đối với nơi mình sinh ra, trưởng thành.

+ Sự phát triển của quê hương cần có sự đóng góp của nhiều thế hệ, trong đó tuổi trẻ giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nối truyền thống, phát huy bản sắc văn hoá và giải quyết những vấn đề của đời sống hiện đại.

+ Ví dụ: Nhiều bạn trẻ trở về quê khởi nghiệp, ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, quảng bá đặc sản địa phương hoặc phát triển du lịch gắn với di sản văn hoá, góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Có thể kể đến trường hợp anh Nguyễn Văn Tuấn ở Sơn La, sau thời gian làm việc tại Hà Nội đã trở về quê khởi nghiệp, cùng 5 thanh niên địa phương thành lập Hợp tác xã Tuổi trẻ 26/3 nhằm phát triển sản phẩm tỏi cô đơn Yên Châu. Việc làm này thể hiện khát vọng đóng góp cho quê hương bằng tri thức, tinh thần sáng tạo và nỗ lực nâng cao giá trị nông sản địa phương.

➜ Khát vọng cống hiến vừa giúp người trẻ khẳng định giá trị bản thân, vừa góp phần tạo nên sức sống và động lực phát triển cho quê hương.

− Ý 3) Khát vọng cống hiến cần được thể hiện bằng những hành động thiết thực:

+ Trước hết, người trẻ cần chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, trau dồi chuyên môn, phát triển năng lực sáng tạo để có đủ tri thức và bản lĩnh đóng góp cho quê hương.

+ Tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn, xây dựng nếp sống văn minh và góp sức giải quyết những vấn đề của cộng đồng.

+ Chủ động phát huy thế mạnh của bản thân trong lao động, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, chuyển đổi số; vận dụng kiến thức và công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống người dân.

+ Có ý thức gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống như tiếng nói, phong tục, lễ hội, làn điệu dân ca; đồng thời giới thiệu vẻ đẹp quê hương đến bạn bè trong nước và quốc tế.

+ Ví dụ: Những người trẻ tham gia bảo tồn các loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống, tổ chức các hoạt động giới thiệu di sản địa phương hoặc xây dựng sản phẩm du lịch văn hoá đã góp phần đưa truyền thống quê hương đến gần hơn với cộng đồng.

➜ Khát vọng cống hiến chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hoá thành hành động cụ thể, bền bỉ và phù hợp với nhu cầu phát triển của quê hương.

− Ý 4) Bàn luận, mở rộng, phê phán:

+ Phê phán một bộ phận người trẻ sống thiếu lí tưởng, thờ ơ với các vấn đề của quê hương, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân hoặc ngại khó khăn, không muốn đóng góp cho cộng đồng.

+ Phê phán quan niệm cho rằng cống hiến phải gắn với những thành tựu lớn lao hoặc nhất thiết phải trở về quê sinh sống. Người trẻ có thể đóng góp bằng nhiều cách khác nhau, kể cả khi học tập, làm việc ở nơi khác, miễn là có trách nhiệm và tạo ra giá trị tích cực.

+ Tuy nhiên, khát vọng cống hiến cần đi đôi với năng lực thực tế, sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm; tránh hành động bốc đồng, chạy theo thành tích hoặc chỉ thể hiện tình yêu quê hương bằng lời nói mà thiếu việc làm cụ thể.

➜ Cống hiến cần xuất phát từ tình yêu chân thành, được định hướng bằng nhận thức đúng đắn và thể hiện qua những hành động có ích.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này