pin

Đề tham khảo số 7 (Công văn 7991)

Đọc văn bản sau:

Người đất Tổ

Anh theo cờ đỏ sao vàng

Mang đi nghèo khổ của làng Hương Sơn

Trải bao chớp bể mưa nguồn

Niềm vui tát cạn nỗi buồn bên trong


Búa liềm vàng rực cờ hồng

Anh đi theo Đảng với lòng say mê

Việc nhà, việc nước bộn bề

Đôi bàn chân vẫn mải mê con đường


Con đường Phú Thọ yêu thương

Hai Bà Trưng để sáng gương trong Đền

Xanh xanh thành Đỏ Phúc Yên

Trắng phau Đầm Vạc bay lên từng đàn


Chín năm đánh giặc, giặc tan

Lại khoác áo lính xa đàn con thơ

Tá điền là kiếp ngày xưa

Thượng tá là cấp bây giờ của anh


Đi cầm quân ở nơi xa

Ngày về Phú Thọ vẫn là ước mong

Nhớ người Cao Lan − Đồng Rong

Nhớ canh cua đồng nhà cán bộ Nguyên


Nhớ nghề nung vại Bình Xuyên

Nhớ kỷ niệm ở Quán Tiên làng Hà

Năm ấy tuổi vừa bốn ba

Phú Thọ lại gọi anh ra cầm cờ


Những mong viết trọn bài thơ

Bao nhiêu ấp ủ đợi chờ bấy nay

Vì Tam Đảo trắng mây bay

Vì Sông Hồng đỏ nước đầy phù sa


Tiếng gọi Nghĩa Lĩnh vọng ra

Đường về Phú Thọ chúng ta đi cùng

Nhìn chim Lạc trên trống đồng

Ngắm chân cò đếm cát sông mấy lần


Vài năm sum họp quây quần

Chưa kịp liệu hết việc cần phải lo

Anh đã theo chân Bác Hồ

Để người ở lại hát ru với đời!

(Nguyễn Hữu Nghiệp, Người đất Tổ, Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ, số 517 + 518 + 519 (1 + 2/2026))

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Theo bài thơ, nhân vật "anh" đã lựa chọn đi theo con đường nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong bốn dòng thơ sau: "Nhớ người Cao Lan − Đồng Rong/ Nhớ canh cua đồng nhà cán bộ Nguyên/ Nhớ nghề nung vại Bình Xuyên/ Nhớ kỷ niệm ở Quán Tiên làng Hà".

Câu 4 (1,0 điểm). Hai dòng thơ "Tá điền là kiếp ngày xưa/ Thượng tá là cấp bây giờ của anh" gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về sự thay đổi của nhân vật "anh"?

Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung bài thơ, anh/ chị rút ra được bài học gì? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2. Nhân vật "anh" chọn đi theo Đảng với "lòng say mê", tham gia chiến đấu, cống hiến cho đất nước.

Câu 3.

− Biện pháp tu từ: Điệp từ "Nhớ".

− Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Tạo nhịp thơ dồn dập, tăng tính liên kết và sức biểu cảm cho đoạn thơ.

+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh những kỷ niệm, con người và địa danh gắn bó sâu sắc với cuộc đời nhân vật "anh", qua đó thể hiện tình cảm nhớ thương, gắn bó sâu nặng với quê hương và những người từng đồng hành cùng anh.

Câu 4.

− Học sinh trả lời theo suy nghĩ cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.

− Gợi ý trả lời:

+ Chi tiết cho thấy nhân vật "anh" đã có sự thay đổi lớn về thân phận, vị trí và cuộc đời: Từ một người tá điền nghèo khổ trở thành một sĩ quan mang cấp hàm thượng tá trong quân đội.

+ Sự thay đổi ấy gắn với quá trình theo Đảng, chiến đấu và cống hiến, qua đó làm nổi bật nghị lực, lý tưởng và những đóng góp của nhân vật "anh" cho quê hương, đất nước.

Câu 5.

− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.

− Gợi ý trả lời:

+ Cần biết trân trọng và gìn giữ tình yêu quê hương, bởi quê hương là nơi lưu giữ cội nguồn, ký ức và những tình cảm thiêng liêng của mỗi người.

+ Mỗi người nên biết ơn những thế hệ đã hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc; từ đó sống tích cực, có lý tưởng và cố gắng đóng góp cho quê hương hôm nay.

+ Cần sống có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước, biết đặt lợi ích chung lên trên những lợi ích riêng khi cần thiết.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người lính được thể hiện qua hai bài thơ "Người đất Tổ" (Nguyễn Hữu Nghiệp) và "Tổ quốc ghi tên cha" (Nguyễn Xuân Việt).

TỔ QUỐC GHI TÊN CHA


Mẹ đến nghĩa trang thắp nén nhang

nửa thế kỉ rồi cha đi không về lại

vòng khói lượn trên tượng đài vời vợi

theo vầng mây bay về phía chân trời!


Ngày giải phóng miền Nam mẹ đứng đầu làng

ngó về phương Nam lòng ran lửa cháy

năm mươi năm sau

vẫn dáng mẹ nhìn về phương ấy

như "vọng phu" hoá đá chờ chồng


Suốt cuộc đời biền biệt ngóng trông

cha ở nơi đâu chân trời góc bể

mẹ vẫn từng đêm lặng lẽ

nước mắt rơi trên đôi má hao gầy


Trong đoàn quân diễu binh trên quảng trường hôm nay

năm cánh quân tiến vào Dinh Độc Lập

dẫu không có cha và tấm huân chương trên ngực

nhưng tên cha đã tạc trong dáng hình đất nước hôm nay.

(Nguyễn Xuân Việt, Thơ của Nguyễn Xuân Việt, vannghequandoi.com.vn)

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc sống có lí tưởng đối với tuổi trẻ.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Hình tượng người lính trong hai bài thơ “Người đất Tổ” (Nguyễn Hữu Nghiệp) và “Tổ quốc ghi tên cha” (Nguyễn Xuân Việt).

− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt trong cách khắc hoạ hình tượng người lính và đánh giá ý nghĩa của những nét tương đồng, khác biệt ấy.

− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.

− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các hình ảnh, từ ngữ, câu thơ tiêu biểu trong hai bài thơ.

b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để so sánh, đánh giá hình tượng người lính trong hai bài thơ.

− Ý 1) Điểm tương đồng: Cả hai bài thơ đều khắc hoạ người lính có tinh thần cống hiến, giàu trách nhiệm với đất nước; sự hi sinh của họ được trân trọng, ghi nhớ.

+ Trong “Người đất Tổ”, người lính gắn bó với sự nghiệp chung, trải qua chín năm kháng chiến rồi tiếp tục nhận nhiệm vụ, chấp nhận xa gia đình: “Chín năm đánh giặc, giặc tan/ Lại khoác áo lính xa đàn con thơ”. Những câu thơ cho thấy sự bền bỉ, tinh thần sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng vì đất nước.

+ Trong “Tổ quốc ghi tên cha”, người lính đã hi sinh, không thể trở về bên gia đình sau chiến tranh. Dù “không có cha và tấm huân chương trên ngực”, sự cống hiến của cha vẫn được khẳng định qua câu thơ “nhưng tên cha đã tạc trong dáng hình đất nước hôm nay”.

➞ Qua hình tượng người lính, cả hai tác phẩm đều bày tỏ lòng biết ơn đối với những con người đã dành cuộc đời cho Tổ quốc, đồng thời khẳng định giá trị bền vững của sự hi sinh.

− Ý 2) Điểm khác biệt: Mỗi bài thơ khắc hoạ hình tượng người lính từ một góc nhìn riêng.

+ Trong “Người đất Tổ”, người lính hiện lên qua hành trình cuộc đời khá cụ thể: Từ thân phận “Tá điền” đến “Thượng tá”, từ những năm tháng chiến đấu đến khi tiếp tục nhận nhiệm vụ. Hình ảnh người lính còn gắn với tình yêu quê hương Phú Thọ, nỗi nhớ những con người, địa danh thân thuộc và ước mong trở về. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật một con người bình dị, bền bỉ, giàu trách nhiệm với đất nước và quê nhà.

+ Trong “Tổ quốc ghi tên cha”, hình tượng người lính chủ yếu hiện lên qua sự vắng mặt và nỗi đau của người vợ ở lại. Những câu thơ “nửa thế kỉ rồi cha đi không về lại”, “Suốt cuộc đời biền biệt ngóng trông” nhấn mạnh sự mất mát kéo dài, khắc sâu cái giá của chiến tranh đối với gia đình người lính.

➞ Nếu người lính trong “Người đất Tổ” được khắc hoạ qua hành trình sống, chiến đấu và cống hiến thì người cha trong “Tổ quốc ghi tên cha” nổi bật ở sự hi sinh và giá trị bất tử của người đã ngã xuống trong ký ức gia đình, dân tộc.

− Ý 3) Đánh giá: Hai cách khắc hoạ khác nhau bổ sung cho nhau, góp phần làm phong phú hình tượng người lính trong thơ ca.

+ “Người đất Tổ” sử dụng lối kể giàu tính tự sự, kết hợp những chi tiết về cuộc đời, nhiệm vụ và quê hương để tái hiện chặng đường cống hiến của người lính. “Tổ quốc ghi tên cha” gây xúc động bằng hình ảnh người mẹ chờ chồng, kết hợp nỗi đau riêng với niềm tự hào về sự hi sinh vì đất nước.

+ Sự khác biệt trong cách thể hiện giúp mỗi bài thơ mang một sắc thái riêng: Một bên nhấn mạnh hành trình sống và cống hiến của người lính, một bên làm sâu sắc nỗi đau mất mát cùng sự tri ân đối với người đã hi sinh.

+ Cả hai tác phẩm đều khơi dậy lòng biết ơn, nhắc nhở các thế hệ hôm nay trân trọng những hi sinh của người lính và gìn giữ thành quả hoà bình, độc lập.

➜ Cùng ngợi ca sự cống hiến và hi sinh của người lính, “Người đất Tổ” làm nổi bật hành trình sống, chiến đấu, gắn bó với quê hương của người lính; còn “Tổ quốc ghi tên cha” khắc sâu nỗi đau của người ở lại và khẳng định sự hi sinh của người lính luôn sống mãi trong dáng hình đất nước.

Câu 2.

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc sống có lí tưởng đối với tuổi trẻ.

− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 600 chữ.

− Sử dụng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp để làm rõ ý nghĩa của việc sống có lí tưởng đối với tuổi trẻ.

b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:

b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:

− Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc sống có lí tưởng đối với tuổi trẻ.

− Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc sống có lí tưởng; nhắn nhủ người trẻ cần xác định lí tưởng sống đúng đắn, biết nỗ lực thực hiện lí tưởng bằng những hành động thiết thực.

b2. Triển khai vấn đề nghị luận:

b2.1. Giải thích:

− Lí tưởng sống là những mục tiêu, khát vọng cao đẹp mà con người hướng tới, gắn với những giá trị tốt đẹp của bản thân, gia đình và cộng đồng.

− Sống có lí tưởng là xác định được mục tiêu có ý nghĩa, lấy đó làm phương hướng cho suy nghĩ và hành động; đồng thời kiên trì nỗ lực để hiện thực hoá mục tiêu ấy.

b2.2. Phân tích ý nghĩa của việc sống có lí tưởng đối với tuổi trẻ:

− Ý 1) Sống có lí tưởng giúp người trẻ xác định phương hướng, mục tiêu và ý nghĩa của cuộc đời.

+ Tuổi trẻ là giai đoạn có nhiều cơ hội lựa chọn, khám phá và phát triển bản thân. Lí tưởng sống giúp người trẻ xác định điều mình muốn theo đuổi, biết lựa chọn con đường phù hợp và tránh sống mơ hồ, thiếu định hướng.

+ Khi có mục tiêu rõ ràng, người trẻ sẽ chủ động hơn trong học tập, rèn luyện và đưa ra những quyết định quan trọng; biết sử dụng thời gian, sức lực vào những việc có ích, từng bước xây dựng tương lai của mình.

− Ý 2) Sống có lí tưởng tạo động lực, giúp người trẻ vượt qua khó khăn và không ngừng hoàn thiện bản thân.

+ Trên hành trình trưởng thành, mỗi người đều có thể gặp thất bại, thử thách và những giới hạn của bản thân. Lí tưởng sống trở thành điểm tựa tinh thần, giúp người trẻ có thêm niềm tin, ý chí và nghị lực để kiên trì theo đuổi mục tiêu.

+ Quá trình thực hiện lí tưởng đòi hỏi con người không ngừng học hỏi, rèn luyện năng lực, bồi dưỡng phẩm chất và sửa chữa những thiếu sót. Nhờ đó, người trẻ trưởng thành hơn qua từng trải nghiệm, biết chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình và có bản lĩnh trước những biến động của cuộc sống.

− Ý 3) Sống có lí tưởng giúp người trẻ biết vượt lên lợi ích cá nhân, sống có trách nhiệm và đóng góp cho cộng đồng.

+ Lí tưởng sống cao đẹp không chỉ hướng đến thành công hay hạnh phúc riêng mà còn gắn với những giá trị chung. Khi biết đặt lợi ích chính đáng của cộng đồng bên cạnh lợi ích cá nhân, người trẻ sẽ có ý thức sẻ chia, cống hiến và sẵn sàng đảm nhận những công việc có ích cho xã hội.

+ Liên hệ: Hình ảnh người lính trong bài thơ "Người đất Tổ" của Nguyễn Hữu Nghiệp là một gợi nhắc giàu ý nghĩa. Dù có những mong ước riêng tư và tình cảm sâu nặng với quê hương, gia đình, người lính vẫn nhiều lần lên đường thực hiện nhiệm vụ với Tổ quốc. Hình ảnh ấy cho thấy lí tưởng sống cao đẹp có thể định hướng hành động, giúp con người vượt lên những mong muốn riêng để cống hiến cho đất nước. Mỗi người trẻ hôm nay cũng có thể thể hiện lí tưởng sống bằng những việc làm phù hợp với khả năng và trách nhiệm của mình.

b3. Bàn luận, mở rộng:

− Phê phán những người trẻ sống thiếu lí tưởng, chỉ chạy theo hưởng thụ, lợi ích trước mắt, thờ ơ với cộng đồng hoặc dễ dàng từ bỏ mục tiêu khi gặp khó khăn.

− Lí tưởng sống cần đúng đắn, phù hợp với những giá trị nhân văn và điều kiện thực tế; không đồng nhất lí tưởng với những tham vọng ích kỉ, viển vông hay sự hi sinh mù quáng. Cống hiến cho cộng đồng không có nghĩa là phủ nhận nhu cầu chính đáng của bản thân và gia đình.

− Mỗi người trẻ cần chủ động nhận thức giá trị của bản thân, xác định mục tiêu phù hợp, không ngừng học tập, rèn luyện và biến lí tưởng thành hành động cụ thể. Lí tưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được nuôi dưỡng bằng sự kiên trì, tinh thần trách nhiệm và những đóng góp thiết thực trong cuộc sống.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này