pin

Đề tham khảo số 6 (Công văn 7991)

Đọc văn bản sau:

ĐỜI KHỔ

(Lược phần đầu: Năm 1961, vợ chồng nhân vật tôi được quân đội cấp cho một căn nhà nhỏ ở khu tập thể Phúc Xá, vùng đất nghèo ven sông Hồng. Dù điều kiện sống ban đầu còn thiếu thốn, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc với mái ấm đầu tiên của riêng mình. Những kỉ niệm giản dị như bữa cơm đầu tiên, tình làng nghĩa xóm bắt đầu hình thành đã trở thành kí ức đẹp đẽ không thể quên với nhân vật tôi. Trong dòng kí ức, nhân vật tôi nhớ đến chị Vách – một người hàng xóm tại khu tập thể.)

Chị Vách hơn tôi một con giáp, răng đen và vấn khăn. Chồng chị là thiếu tá ở một học viện chính trị, hơn tôi khoảng mươi mười lăm tuổi. Cấp thiếu tá ngày ấy là to lắm, là mơ ước gần như viển vông của đám thượng úy lau nhau. Tên ông thiếu tá là gì tôi không rõ, mặt ông tôi cũng quên, chỉ nhớ mang máng một người đàn ông có bộ dạng rất đứng đắn, có thể rất tốt bụng, nhưng không làm một việc gì, nói một lời nào để dãy xóm được nhớ. Mỗi lần gặp tôi ở đường, một năm khoảng đôi ba lần, ông đều chào trước thân thiện và nhạt nhẽo: "Đồng chí khoẻ không? Tốt chứ?".

Với gia đình ấy vợ chồng tôi chỉ biết có chị Vách, ông thiếu tá chồng chị là ông Vách, các con chị một lũ lôi thôi, lốc thốc là con bà Vách. Chị Vách rất hợp chuyện với vợ chồng tôi, chị là người dưới quê mới theo chồng lên sống ở tỉnh, vợ tôi cũng thế. Chị là một cán bộ xã vùng địch hậu thời đánh Pháp, vợ tôi là du kích, rồi là dân công gùi gạo theo bộ đội suốt mấy chiến dịch. Hai chị em mỗi lần được ngồi với nhau là dứt không ra. Chuyện đàn bà không đầu không cuối nhưng chị Vách đã lên tiếng, mình lại chót dại để tai nghe là cứ phải nghe đến cùng. Hết cả đọc, hết cả viết. Vì nó vui lắm, buồn cười lắm, cười đến đau ruột, đến não lòng.

Tôi nói:

– Có một bà vợ vui tính như chị chắc ông ấy được cười cả ngày.

Chị Vách nói:

– Quân tử ẩn hình, tiểu nhân lộ tướng. Ông ấy vẫn phê bình tôi nói năng vô chính trị, không được chín chắn như các bà cán bộ ở tỉnh. Người ta có trình độ cao lỡ lấy phải vợ dại cũng là khổ tâm lắm. Thời trước thì họ đuổi mình ra đường rồi. Giàu vì bạn, sang vì vợ, có một bà vợ như tôi ông chồng cũng hoá hèn, chị nói thế. Nên không bao giờ chị dám đi cùng chồng ra ngoài, đến thăm ai chồng đạp xe tới trước, vợ đi bộ tới sau, không xem hát, không xem chiếu bóng, chưa bao giờ tôi thấy vợ chồng họ đi sóng đôi cả. Mà chị đâu có xấu, là một phụ nữ xinh đẹp của một thời, gương mặt tươi tắn, cái miệng với hàm răng đen đều đặn khi nói khi cười duyên dáng lạ lùng. [...]

Chị Vách không biết chữ, đã là cán bộ phụ nữ xã mà không biết chữ, chỉ vạch được một chữ V thay chữ kí thôi. Một mình chị suốt những năm đánh Pháp vừa nuôi hai con, vừa nuôi mẹ chồng, mẹ ốm một mình chị chăm sóc, lúc chết một mình chị chôn cất ma chay. Mà vẫn không dám coi là có công, làm dâu, làm vợ, làm mẹ ắt phải thế, từ thời xửa thời xưa đã vẫn là thế. Chị đẻ hai đứa con gái đầu, ông chồng vắng nhà vì phải đi đánh giặc. Đẻ hai đứa con trai sau, ông chồng cũng vắng mặt nốt vì phải đi công tác. Chị sanh không được thuận vì đã lớn tuổi, lúc sát nhau(*), lúc băng huyết, chỉ có bạn bè tới thăm hỏi giúp đỡ, nằm dăm bảy ngày lại bò dậy ôm con ra viện, vài ngày sau đã giặt giũ cơm nước, da mặt vàng ủng nhưng nụ cười vẫn tươi tắn. Nghe chị nói nhà chị có sáu người nhưng hai mâm. Chồng một mâm, năm mẹ con một mâm riêng. Tiền nong chia đôi, tiêu cho chồng một nửa, năm mẹ con một nửa. Chị bảo, anh ấy phải làm việc trí óc nhiều, lại cao tuổi, lại lắm thứ bệnh không bồi dưỡng là nguy ngay. Còn năm mẹ con chị sao cũng được, nông dân vốn nuôi dễ. Tôi nói: "Bà cứ bày vẽ, ông ấy không là nông dân thì là cái gì, là trí thức hả?". Chị cười rất tươi: "Ông ấy học cao lắm chú ạ, một rương vàng không bằng một nang chữ. Một đời chỉ biết đánh giặc với đọc sách thôi.". Tôi hỏi: "Ông ấy cũng được đi học à?". Chị có vẻ giận: "Con địa chủ không được đi học thì ai được học. May mà ông bố đã phá tan hết cơ nghiệp, nếu không cũng bị đấu hồi cải cách rồi.". [...]

Chị Vách không biết chữ nên chị làm cấp dưỡng một bếp ăn tập thể của quân đội. Chị đi làm rất sớm và về rất muộn. Khi đi gánh đôi thùng không, khi về một bên là nước vo gạo, một bên là cơm thừa của bếp ăn tập thể. Cơm nước lợn gà, hầu bố và trông các em trong một ngày chị đều phó mặc cho đứa con gái đầu. Một người vác cái cày bảy người vác muỗng như chị thường nói. Năm tôi về ở Phúc Xá thì đứa con gái lớn của chị đã mười bốn, mười lăm tuổi. Con bé không được xinh, da đen, chân tay lòng khòng, cả ngày không nghe nó nói một câu, cứ lầm lì làm, hết làm thì lầm lì đứng một góc giương mắt nhìn xung quanh. Giống tính ông bố như hệt, nhưng nó không được học như bố nó, biết đọc biết viết là thôi vì đông em quá. Tôi hỏi chị Vách: "Tại sao chị không cho cháu đi học?".

Chị nói:

– Con gái cần gì học nhiều.

– Ông ấy không bắt nó đi học à?

Lại thêm một dịp để chị khoe chồng:

– Về đến nhà là vùi đầu vào đọc sách đọc báo, không hỏi đến vợ con được một câu.

Tôi cười to: "Ông ấy cũng sướng nhỉ, sướng nhất khu đấy.". Chị cũng cười: "Người khôn nhọc lo, người dại ăn no lại nằm. Tôi mới là người sướng chứ chú.". Nói đến thế là hết.

(Lược phần cuối: Sau nhiều năm rời khu tập thể, nhân vật tôi trở lại thăm nơi này và chứng kiến cuộc sống của chị Vách càng khốn khó hơn: ông chồng mất, hai đứa con gái quá lứa lỡ thì không lấy chồng, một đứa con trai ngẩn ngơ điên dại. Lương hưu thấp nên dù đã bảy mươi tuổi chị Vách vẫn phải vất vả mưu sinh, làm xôi bán để có thêm tiền lo cho các con. Chị tự nhận vì mình ngu đần, vụng dại nên con cái mới vậy, nếu chồng chị còn sống thì chúng nó đâu đến nỗi. Suy nghĩ của chị khiến nhân vật tôi cổ tắc nghẹn lại, muốn bật khóc.)

(Nguyễn Khải, Đời khổ, in trong Tuyển tập Nguyễn Khải,
NXB Văn hoá thông tin, 2014, tr. 190 – 192)

Chú thích: (*)Sát nhau (hay sót rau): Chỉ tình trạng sót nhau thai sau khi sinh con – một biến chứng sản khoa nguy hiểm.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của chị Vách.

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ liệt kê trong các câu văn sau: "Một mình chị suốt những năm đánh Pháp vừa nuôi hai con, vừa nuôi mẹ chồng, mẹ ốm một mình chị chăm sóc, lúc chết một mình chị chôn cất ma chay. Mà vẫn không dám coi là có công, làm dâu, làm vợ, làm mẹ ắt phải thế, từ thời xửa thời xưa đã vẫn là thế.".

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích vai trò của chi tiết Chị cười rất tươi: "Ông ấy học cao lắm chú ạ, một rương vàng không bằng một nang chữ. Một đời chỉ biết đánh giặc với đọc sách thôi.".

Câu 5 (1,0 điểm). Từ câu nói của chị Vách "Người khôn nhọc lo, người dại ăn no lại nằm. Tôi mới là người sướng chứ chú.", anh/ chị suy nghĩ gì về cách để con người vượt qua khi phải đối diện với những nhọc nhằn, vất vả trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (người kể xưng "tôi").

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của chị Vách: một phụ nữ xinh đẹp của một thời, gương mặt tươi tắn, cái miệng với hàm răng đen đều đặn khi nói khi cười duyên dáng lạ lùng,...

Câu 3.

− Biện pháp tu từ: Liệt kê (nuôi hai con, nuôi mẹ chồng, mẹ ốm... chăm sóc, chôn cất ma chay..., làm dâu, làm vợ, làm mẹ.).

− Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Làm tăng tính cụ thể, sinh động, tăng hiệu quả diễn đạt và tính biểu cảm cho lời văn.

+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh sự vất vả, thiệt thòi trong cuộc sống gia đình của chị Vách đồng thời khẳng định sự đảm đang, tháo vát, tần tảo, hi sinh thầm lặng của chị; qua đó giúp nhà văn thể hiện cái nhìn đầy cảm thông với nỗi vất vả của người phụ nữ và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ.

Câu 4.

− Nội dung chi tiết: Chị Vách đánh giá cao về trí tuệ và sự cống hiến cho đất nước của chồng mình cho dù chồng chị không dành thời gian cho gia đình khiến chị chịu thiệt thòi.

− Vai trò của chi tiết:

+ Thúc đẩy cốt truyện phát triển; nhấn mạnh niềm tự hào, ngưỡng mộ người chồng của nhân vật chị Vách.

+ Thể hiện sáng tạo của nhà văn trong việc khám phá đời sống: Lời nói của chị Vách cũng là tiếng lòng của cả một thế hệ trân trọng tri thức, lí tưởng.

+ Thể hiện chiều sâu tư tưởng của tác phẩm: Đặt ra vấn đề về thân phận của người phụ nữ trong xã hội đương thời – nơi mà danh nghĩa lớn lao đôi khi che lấp nỗi khổ cá nhân.

Câu 5.

Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp. Đáp án tham khảo:

− Câu nói của chị Vách dí dỏm nhưng ẩn chứa một triết lí sống sâu sắc: Người hiểu biết hay lo nghĩ nên vất vả, người ít học nông cạn, không lo nghĩ nhiều nên sung sướng. Suy nghĩ vô tư, tích cực đó đã giúp chị Vách đối diện với những nhọc nhằn của cuộc đời một cách nhẹ nhàng hơn.

− Suy nghĩ về cách để con người vượt qua những nhọc nhằn và vất vả trong cuộc sống:

+ Để vượt qua nhọc nhằn, con người không chỉ cần nghị lực, sự kiên cường mà còn cần một tâm thế nhẹ nhàng, một tinh thần lạc quan và giữ cho tâm trí mình được an yên.

+ Mỗi người cần chủ động vươn lên, lao động và phấn đấu, không sống buông xuôi, phó mặc số phận.

+ Biết cân bằng giữa nỗ lực và nghỉ ngơi, lí trí và cảm xúc, lo toan và tận hưởng,...

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá bi kịch của người phụ nữ trong gia đình qua chị Vách trong đoạn trích "Đời khổ" (Nguyễn Khải) và nhân vật Dung trong đoạn trích "Hai lần chết" (Thạch Lam).

HAI LẦN CHẾT

(Lược dẫn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)

Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

− Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

Rồi bà kể thêm:

− Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

(Lược dẫn: Dung ăn trộm tiền của mẹ chồng để trốn về nhà nhưng bị mẹ đẻ đay nghiến. Sáng hôm sau, mẹ chồng xuống tìm nàng.)

Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hi vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. Trí nàng sắc lại khi nước lạnh đập vào mặt, nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

[...] Hai hôm sau, Dung mạnh khoẻ hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

− Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

Dung buồn bã trả lời:

− Con xin về.

(Trích Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008, tr.75-84)

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vai trò của việc học tập đối với tương lai của tuổi trẻ.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: So sánh, đánh giá bi kịch của người phụ nữ trong gia đình qua chị Vách trong đoạn trích "Đời khổ" (Nguyễn Khải) và nhân vật Dung trong đoạn trích "Hai lần chết" (Thạch Lam).

− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng cần làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong bi kịch của chị Vách và Dung.

− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.

− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các hình ảnh, chi tiết, lời thoại từ hai đoạn trích.

b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để làm rõ vấn đề.

− Ý 1) Điểm tương đồng: Cả chị Vách và Dung đều chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh trong đời sống gia đình.

+ Chị Vách phải gánh vác gần như toàn bộ trách nhiệm gia đình: một mình nuôi con, chăm mẹ chồng, làm việc vất vả, trong khi người chồng gần như không quan tâm đến vợ con. Chị "vừa nuôi hai con, vừa nuôi mẹ chồng", "một mình chị chăm sóc", nhưng vẫn xem tất cả là bổn phận của người vợ.

+ Dung bị gia đình ruột thịt bán đi lấy tiền, sau đó phải sống trong gia đình chồng đầy khắc nghiệt. Nàng phải "tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày", thường xuyên chịu sự đay nghiến của mẹ chồng và không nhận được sự che chở từ chồng.

+ Qua hai nhân vật, có thể thấy người phụ nữ trong gia đình dễ trở thành người hi sinh, chịu đựng và bị xem nhẹ quyền lợi, hạnh phúc của bản thân.

− Ý 2) Điểm khác biệt: Bi kịch của chị Vách là sự hi sinh âm thầm kéo dài và tự tước bỏ quyền sống cho mình; bi kịch của Dung là sự áp bức trực tiếp, đẩy người phụ nữ đến tuyệt vọng

+ Chị Vách chịu một cuộc đời dài đầy hi sinh và bất bình đẳng. Chị coi việc chăm sóc chồng con là điều hiển nhiên, thậm chí còn tự nhận "người dại ăn no lại nằm. Tôi mới là người sướng chứ chú". Bi kịch của chị nằm ở sự cam chịu đã trở thành một quan niệm sống, khiến chị không nhận thức đầy đủ những thiệt thòi của chính mình.

+ Dung bị chà đạp cả ở gia đình ruột thịt lẫn gia đình chồng, hoàn toàn không có nơi nương tựa. Bi kịch bị dồn đến tận cùng khiến nàng "ước ao cái chết như một sự thoát nợ". Qua Dung, Thạch Lam nhấn mạnh nỗi đau của người phụ nữ bị đồng tiền và những quan niệm gia đình khắc nghiệt tước đoạt hạnh phúc.

− Ý 3) Đánh giá:

+ Dù được thể hiện qua hai hoàn cảnh khác nhau, cả hai nhân vật đều cho thấy những giới hạn mà người phụ nữ phải đối mặt trong đời sống gia đình và những hi sinh của họ chưa được nhìn nhận đúng mức.

+ Nếu Thạch Lam chủ yếu khơi gợi niềm thương cảm trước số phận người phụ nữ bị dồn đến bước đường cùng, thì Nguyễn Khải đi sâu khám phá bi kịch của sự hi sinh, cam chịu và những quan niệm đã khiến người phụ nữ tự xem nhẹ chính mình.

➜ Qua chị Vách và Dung, hai tác giả đều thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với người phụ nữ, đồng thời đặt ra vấn đề về quyền được yêu thương, tôn trọng và sống một cuộc đời có giá trị của họ trong gia đình.

Câu 2.

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vai trò của việc học tập đối với tương lai của tuổi trẻ.

− Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng bài văn; triển khai vấn đề nghị luận theo trình tự hợp lí, kết hợp lí lẽ với bằng chứng thuyết phục.

− Dung lượng bài văn: Khoảng 600 chữ.

− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với những dẫn chứng phù hợp trong đời sống thực tế.

b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:

b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:

− Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Vai trò quan trọng của việc học tập đối với tương lai của tuổi trẻ.

− Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc học tập đối với tương lai mỗi người; rút ra bài học nhận thức và hành động cho thế hệ trẻ.

b2. Triển khai vấn đề nghị luận:

b2.1. Giải thích vấn đề:

− Học tập là quá trình tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy và hoàn thiện bản thân thông qua học ở trường, tự học và trải nghiệm thực tiễn.

− Tương lai của tuổi trẻ gắn với quá trình trưởng thành, lựa chọn nghề nghiệp, xây dựng cuộc sống và khẳng định giá trị của bản thân.

b2.2. Phân tích vai trò của việc học tập đối với tương lai của tuổi trẻ:

− Ý 1) Học tập giúp tuổi trẻ mở rộng hiểu biết, phát triển năng lực và tạo nền tảng cho nghề nghiệp trong tương lai.

+ Kiến thức giúp người trẻ hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới, hình thành tư duy độc lập, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề; đồng thời rèn luyện các kĩ năng cần thiết như giao tiếp, hợp tác, sáng tạo và tự học.

+ Trong xã hội không ngừng phát triển, việc học tập giúp người trẻ cập nhật tri thức, thích nghi với những thay đổi, có thêm cơ hội lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích. Nhờ đó, mỗi người có thể chủ động xây dựng cuộc sống và nâng cao khả năng tự lập.

− Ý 2) Học tập mở ra cơ hội thay đổi hoàn cảnh, giúp người trẻ làm chủ cuộc đời và khẳng định giá trị bản thân.

+ Tri thức đem đến cho con người nhiều lựa chọn hơn trong cuộc sống, giúp họ tự tin theo đuổi mục tiêu, vượt qua những giới hạn về hoàn cảnh và từng bước cải thiện điều kiện sống.

+ Khi được học tập, người trẻ sẽ có thêm kiến thức, năng lực và cơ hội xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn mà không bị phân biệt giới tính hay hoàn cảnh xuất thân.

− Ý 3) Học tập góp phần hình thành nhân cách, nuôi dưỡng khát vọng và nâng cao trách nhiệm của tuổi trẻ đối với xã hội.

+ Quá trình học tập rèn luyện ở người trẻ tính kiên trì, tinh thần vượt khó, ý thức kỉ luật và thái độ cầu tiến; giúp mỗi người biết nhận thức đúng đắn, sống có mục tiêu và có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình.

+ Người trẻ có tri thức và năng lực sẽ có điều kiện vận dụng những điều đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, tạo ra giá trị cho cộng đồng và góp phần xây dựng xã hội. Vì vậy, học tập không chỉ phục vụ lợi ích cá nhân mà còn giúp tuổi trẻ chuẩn bị hành trang để cống hiến cho đất nước.

b2.3. Mở rộng, đánh giá vấn đề và rút ra bài học:

− Học tập không đồng nghĩa với việc chỉ tích luỹ kiến thức trong sách vở hay chạy theo điểm số, bằng cấp. Tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi được vận dụng vào thực tiễn, kết hợp với đạo đức, kĩ năng và tinh thần trách nhiệm. Việc học cũng không bảo đảm mọi người đều thành công, nhưng tạo nền tảng quan trọng để mỗi người chủ động nắm bắt cơ hội và vượt qua thử thách.

− Phê phán quan niệm xem nhẹ việc học, tư tưởng phân biệt giới tính trong giáo dục, thái độ học tập đối phó, thụ động hoặc dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn. Đồng thời, cần nhận thức rằng học tập là quyền lợi và cơ hội cần được tôn trọng, bảo đảm cho mọi người.

− Tuổi trẻ cần xác định mục tiêu học tập phù hợp, chủ động tiếp thu kiến thức, rèn luyện khả năng tự học, phát triển kĩ năng thực hành và không ngừng trau dồi đạo đức. Gia đình và xã hội cần quan tâm, tạo điều kiện để mọi người, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, được tiếp cận cơ hội học tập bình đẳng.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này