Đề tham khảo số 5 (Công văn 7991)
Đọc văn bản sau:
XUÂN ĐẾN GẦN
(Trích)
Lất phất vài giọt mưa xuân
Tự nhiên thấy lòng dịu nhẹ
Có phải ngày tháng xoay vần
Đất trời ngân lên khe khẽ
Xuân về trên từng nhành lá
Nắng trải một vạt vàng tươi
Cúc nhà ai vừa mới nở
Xinh xinh như đoá môi cười
Chợ phiên những ngày giáp Tết
Dập dìu kẻ bán người mua
Chuối xanh, lá dong, gạo nếp
Nén hương thơm một góc chùa
[...]
Tết này em làm dâu mẹ
Ngọt ngào mái ấm tình thân
Những ngày cuối năm tất bật
Kìa em, xuân đã đến gần...
(Nguyễn Ánh Nguyệt, Xuân đến gần, Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ, số 517 + 518 + 519 (1 + 2/2026))
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra 02 hình ảnh trong đoạn trích báo hiệu mùa xuân đang về.
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ đầu tiên.
Câu 4 (1,0 điểm). Không khí chợ phiên những ngày giáp Tết được thể hiện qua những hình ảnh nào? Từ đó, anh/ chị có suy nghĩ gì về vẻ đẹp của không khí Tết quê nhà?
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của đoạn trích, anh/ chị rút ra được bài học gì? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ sáu chữ.
Câu 2.
− Học sinh chỉ ra được 02 hình ảnh trong đoạn trích báo hiệu mùa xuân đang về.
− Một số hình ảnh trong đoạn trích báo hiệu mùa xuân đang về: "vài giọt mưa xuân", "Cúc nhà ai vừa mới nở", "Chợ phiên những ngày giáp Tết",...
Câu 3.
− Biện pháp tu từ: Nhân hoá ("Đất trời ngân lên khe khẽ").
− Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm cho đất trời trở nên có hồn, tạo cách diễn đạt mềm mại, giàu chất thơ.
+ Về mặt nội dung: Gợi bước chuyển nhẹ nhàng của thời gian và sự lan toả tinh tế của mùa xuân; đồng thời thể hiện tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
− Chợ Tết hiện lên qua cảnh "dập dìu kẻ bán người mua", cùng những sản vật quen thuộc như "chuối xanh, lá dong, gạo nếp" và "nén hương thơm một góc chùa".
− Học sinh trình bày suy nghĩ về vẻ đẹp của không khí Tết quê nhà. Gợi ý trả lời:
+ Không khí Tết quê nhà mang vẻ đẹp rộn ràng mà ấm áp, bởi đó là lúc con người tạm gác những bộn bề thường nhật để cùng chuẩn bị, chờ đón năm mới và hướng về những người thân yêu. Tết luôn là khoảng thời gian quý báu gắn kết cộng đồng, gia đình và quê hương.
+ Tết còn đẹp bởi những giá trị văn hoá truyền thống được gìn giữ qua các sản vật, phong tục và không gian quen thuộc như "chuối xanh, lá dong, gạo nếp", "nén hương thơm một góc chùa". Vì thế, không khí Tết không chỉ đem đến niềm vui mà còn giúp mỗi người nhớ về cội nguồn, trân trọng bản sắc quê hương.
Câu 5.
− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
− Gợi ý trả lời:
+ Cần biết trân trọng những vẻ đẹp bình dị của cuộc sống, bởi đôi khi chỉ một cơn mưa xuân, nhành lá hay đoá hoa cũng có thể đem đến niềm vui và sự bình yên.
+ Cần biết yêu thương, gìn giữ những khoảnh khắc sum vầy bên gia đình, bởi tình thân là nguồn hạnh phúc gần gũi và bền vững của mỗi người.
Câu 1 (2,0 điểm).
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong hai văn bản "Xuân đến gần" (Nguyễn Ánh Nguyệt) và "Quê tôi những ngày cuối Chạp" (Minh Hoà).
QUÊ TÔI NHỮNG NGÀY CUỐI CHẠP
Rét vẫn ngọt những ngày cuối Chạp
Đường làng như thức đợi xuân về
Gió bấc thưa dần − Lòng người thấp thỏm
Vườn đào ai bung nụ đỏ hoe
Từng giọt sương giăng giăng bụi phấn
Rắc tươi lên màu áo cỏ cây
Phiên chợ Bồ(1) họp ngày áp Tết
Chật nêm người, tay sách nặng tay
Tôi giật mình trước hàng hoa rực rỡ
Thấp thoáng bên hè phố đã tưng bừng
Trẻ lon ton theo mẹ tíu tít
Miệng nói cười trong vắt tiếng Kẻ Rưng(2)
Làng nhộn nhịp từ ngoài rằm tháng Chạp
Người ngược, xuôi nườm nượp nối nhau về
Ơi cái Tết để ngày dài sum họp
Níu bàn chân từ muôn nẻo xa quê
Ruộng cày ải đã đến bề thơm phức
Hương vị quê cây mạ sắp xuống đồng
Xóm nghèo xưa giờ lung linh thị tứ
Khúc chào xuân!
Một âm hưởng mênh mông!
(Minh Hoà, Quê tôi những ngày cuối Chạp, Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ, số 517 + 518 + 519 (1 + 2/2026))
Chú thích:
(1)Chợ Bồ nay là chợ trung tâm xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ.
(2)Kẻ Rưng nay thuộc xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ.
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vai trò của ước mơ và khát vọng đối với tuổi trẻ.
Câu 1.
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong hai văn bản "Xuân đến gần" (Nguyễn Ánh Nguyệt) và "Quê tôi những ngày cuối Chạp" (Minh Hoà).
− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng cần làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong bức tranh thiên nhiên mùa xuân của hai văn bản.
− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.
− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các hình ảnh, chi tiết tiêu biểu từ hai văn bản.
b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để làm rõ vấn đề.
− Ý 1) Điểm tương đồng: Cả hai văn bản đều khắc hoạ bức tranh thiên nhiên mùa xuân quê hương với vẻ đẹp tươi mới, giàu sức sống, đồng thời gắn thiên nhiên với không khí Tết và đời sống con người.
+ Trong văn bản "Xuân đến gần": Mùa xuân hiện lên qua "vài giọt mưa xuân", "từng nhành lá", "vạt vàng tươi", những bông cúc "vừa mới nở". Cảnh vật nhẹ nhàng, trong trẻo, báo hiệu mùa xuân đang về.
+ Trong văn bản "Quê tôi những ngày cuối Chạp": Thiên nhiên cũng chuyển mình rõ nét qua "gió bấc thưa dần", "vườn đào ai bung nụ đỏ hoe", sương phủ lên cỏ cây, ruộng đồng thơm mùi đất và cây mạ sắp xuống đồng.
+ Cả hai bức tranh đều không tách rời đời sống quê hương: Mùa xuân hiện diện trong chợ phiên, những sinh hoạt chuẩn bị Tết, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương và niềm vui trước mùa xuân mới.
− Ý 2) Điểm khác biệt: Bức tranh mùa xuân trong "Xuân đến gần" thiên về vẻ dịu dàng, trong trẻo, tinh khôi; trong khi "Quê tôi những ngày cuối Chạp" nổi bật vẻ rộn ràng, phong phú, căng tràn sức sống.
+ Trong văn bản "Xuân đến gần": Tác giả Nguyễn Ánh Nguyệt chủ yếu lựa chọn những hình ảnh nhỏ bé, gần gũi như mưa xuân, nhành lá, nắng vàng, hoa cúc; cảnh vật được cảm nhận bằng cái nhìn tinh tế, nhẹ nhàng. Hình ảnh "Xinh xinh như đoá môi cười" còn khiến thiên nhiên mang vẻ đáng yêu, duyên dáng.
+ Trong văn bản "Quê tôi những ngày cuối Chạp": Tác giả Minh Hoà mở rộng bức tranh từ vườn đào, cỏ cây đến đồng ruộng và không gian làng quê. Thiên nhiên hoà cùng nhịp sống con người: Chợ Tết đông vui, trẻ nhỏ tíu tít, người từ nhiều nơi trở về, tạo nên một mùa xuân náo nức, ấm áp.
− Ý 3) Đánh giá:
+ Sự tương đồng cho thấy cảm hứng chung của hai tác giả trước vẻ đẹp của mùa xuân quê hương, đồng thời thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên và cuộc sống bình dị.
+ Sự khác biệt tạo nên dấu ấn riêng: Tác giả Nguyễn Ánh Nguyệt với "Xuân đến gần" thiên về cảm nhận cái đẹp nhẹ nhàng, tinh khôi của thời khắc xuân về, còn tác giả Minh Hoà với "Quê tôi những ngày cuối Chạp" nhấn mạnh sức sống và nhịp vận động rộn ràng của làng quê trong những ngày cuối Chạp.
➜ Qua hai văn bản, người đọc cảm nhận được mùa xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là mùa của niềm vui, sự sống, không khí Tết và tình yêu quê hương.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.
− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vai trò của ước mơ và khát vọng đối với tuổi trẻ.
− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 600 chữ.
− Sử dụng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp để làm rõ vai trò của ước mơ và khát vọng đối với tuổi trẻ.
b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:
− Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Vai trò của ước mơ và khát vọng đối với tuổi trẻ.
− Kết bài: Khẳng định vai trò quan trọng của ước mơ và khát vọng; nhắn nhủ người trẻ cần nuôi dưỡng ước mơ, sống có mục tiêu và nỗ lực biến khát vọng thành hiện thực.
b2. Triển khai vấn đề nghị luận:
b2.1. Giải thích ước mơ và khát vọng:
− Ước mơ là những điều tốt đẹp mà con người mong muốn đạt được trong tương lai, gắn với học tập, công việc, cuộc sống và sự trưởng thành của bản thân.
− Khát vọng là mong muốn mạnh mẽ, thôi thúc con người vươn tới những mục tiêu có ý nghĩa, vượt qua giới hạn của bản thân để đạt được những điều mình hướng đến.
➞ Ước mơ và khát vọng có mối quan hệ mật thiết, giúp con người xác định đích đến và tạo động lực hành động để biến mong muốn thành hiện thực.
b2.2. Phân tích vai trò của ước mơ và khát vọng đối với tuổi trẻ:
− Ước mơ và khát vọng giúp người trẻ xác định mục tiêu, định hướng tương lai.
+ Tuổi trẻ là giai đoạn con người có nhiều cơ hội khám phá bản thân, học hỏi và lựa chọn con đường riêng. Ước mơ giúp người trẻ hiểu mình muốn trở thành ai, mong muốn đóng góp điều gì, từ đó có định hướng rõ ràng trong học tập và cuộc sống.
+ Khi có mục tiêu để hướng tới, người trẻ sẽ biết lựa chọn việc cần làm, sử dụng thời gian hợp lí và chủ động hơn trước những quyết định quan trọng, tránh sống mơ hồ, thiếu phương hướng.
− Ước mơ và khát vọng tạo động lực để người trẻ vượt qua khó khăn, không ngừng hoàn thiện bản thân.
+ Trên hành trình trưởng thành, người trẻ khó tránh khỏi thất bại, áp lực và những giới hạn của chính mình. Khát vọng trở thành nguồn động lực tinh thần, giúp họ kiên trì theo đuổi mục tiêu, mạnh dạn thử sức và không dễ dàng từ bỏ trước trở ngại.
+ Quá trình hiện thực hoá ước mơ còn thúc đẩy người trẻ tích luỹ kiến thức, rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng ý chí và tinh thần trách nhiệm. Dù chưa đạt được thành công như mong muốn, những nỗ lực ấy vẫn đem lại những giá trị thiết thực cho sự trưởng thành của mỗi người.
− Ước mơ và khát vọng giúp tuổi trẻ sống có ý nghĩa, tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
+ Khi hướng đến những mục tiêu tốt đẹp, người trẻ có thêm niềm tin, niềm vui và động lực để sống tích cực, chủ động nắm bắt cơ hội, phát huy năng lực của bản thân.
+ Những ước mơ không chỉ hướng đến lợi ích cá nhân mà còn gắn với gia đình, quê hương và đất nước sẽ thôi thúc người trẻ cống hiến tài năng, sức lực, góp phần giải quyết những vấn đề của cuộc sống và thúc đẩy xã hội phát triển.
b3. Trao đổi, mở rộng:
− Phê phán những người trẻ sống thiếu mục tiêu, không dám ước mơ, dễ dàng buông xuôi trước khó khăn; đồng thời phê phán lối sống chỉ biết mơ mộng, đặt ra mục tiêu viển vông nhưng không chịu hành động.
− Ước mơ và khát vọng cần phù hợp với năng lực, hoàn cảnh và những giá trị tốt đẹp; không nên chạy theo danh vọng, thành công bằng mọi giá hoặc lấy ước mơ cá nhân làm lí do để xem nhẹ trách nhiệm với gia đình và cộng đồng.
− Mỗi người trẻ cần chủ động khám phá năng lực, xác định mục tiêu phù hợp, lập kế hoạch cụ thể, kiên trì học tập và rèn luyện; biết điều chỉnh cách thực hiện khi gặp trở ngại, đồng thời không ngừng nuôi dưỡng niềm tin và ý chí vươn lên.