Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề tham khảo của trường THPT Chu Văn An SVIP
Đọc văn bản sau:
TIẾNG VE RAN
(Lược một đoạn: Sáng sớm chủ nhật, sau trận mưa rào đêm trước, đám trẻ con tụ họp chơi đá cầu trên bãi cỏ vườn hoa. Chúng trông thấy một con ve bay mệt mỏi và bắt được nó thật dễ dàng. Khi cầm nó trên tay, lũ trẻ nhận ra nó không có đuôi...)
Lũ trẻ ồn ào tranh cãi, chẳng đứa nào chịu đứa nào. Tôi cầm con ve trên tay. Đó là một con ve cái, không biết kêu. Cánh nó xơ xác, râu đã xoăn, mệt mỏi đến độ không buồn cựa quậy khi tôi nhấc một bên càng nó. Cái đốt đuôi cuối cùng của con ve đã rụng đâu mất. Bụng nó rỗng không, quanh thành bụng chỉ là một màng da mỏng trong veo.
Thật lạ lùng, mấy ngày sau, lũ trẻ liên tiếp bắt được những con ve như thế, "những con ve cuối mùa" chậm chạp, im lặng bay chuyền rất thấp từ gốc cây này sang gốc cây kia, đến đứa trẻ lên ba cũng có thể chộp được dễ dàng. Tôi không sao hiểu nổi về loại ve cụt đuôi ấy. Tôi quyết định đi hỏi bác Tư già coi vườn. Bác trông nom vườn hoa này đã hàng chục năm nay, chuyên tỉa cây, xén có, điều gì mà bác chẳng biết.
Thoạt nhìn thấy con ve tôi chìa ra, bác đã chép miệng:
– Tội nghiệp, con ve rạc! Chú đặt xuống có cho kiến nó rước đi... Ve rạc là sắp sang thu đấy!
Rồi bác giảng giải:
– Đây là con ve mẹ, chú hiểu chữa? Sau những ngày hè quần tụ, ve đực chết hết, những con ve cái nặng bụng trứng bay đi tìm chỗ đẻ. Chúng thường chọn những lúc mới tạnh mưa, tìm chỗ đất mềm gần các gốc cây, dùng mũi nhọn ở cuối đuôi đào lỗ, đẻ trứng xuống đó. Mấy ngày liền chúng không ăn không uống, chỉ bay quần bay quanh lo đẻ trứng. Đẻ hết bụng trứng thì người cũng rạc hết, đốt đuôi rụng theo với lứa trứng cuối cùng. Thế là ve mẹ đã làm xong phận sự. Đến mùa hè sang năm, ve con lột ra hàng đàn, các chú lại tha hồ nghe tiếng ve ngân.
Tôi ngẫm nghĩ mãi về câu chuyện con ve mẹ của bác Tư. Thế ra con ve thầm lặng hi sinh ấy là mẹ của những tiếng ve ran, mẹ của những tiếng ca rạng rỡ suốt cả các mùa hè! Khác nào im lặng là mẹ các âm thanh diệu kì.
Quả là tôi dốt nát và vô tình quá! Tôi đã bắt và chơi đủ thứ ve: ve kim, cồ cộ, ve giọng trầm, ve tí xíu mình đỏ cánh đen, vòi voi, ve cảnh lụa đốm hoa,... Thế nhưng đây là lần đầu tôi hiểu về con ve rạc. Vâng, nhất định như thế, chắc chắn là như thế, các bạn cứ lắng nghe mà xem. Những đêm hè thật yên tĩnh, trong lành, tiếng bẩy ve đồng thanh cất lên trang nghiêm và xúc động – chúng tưởng nhớ tới mẹ ve đã sinh ra chúng cùng giọng hát đầy tài năng của chúng đấy.
Tháng 12/1976
(Trích "Những truyện hay viết cho thiếu nhi – Vũ Tú Nam",
tác giả Vũ Tú Nam*, NXB Kim Đồng, tr. 226 – 228)
* Nhà văn Vũ Tú Nam (1929 – 2020) quê tại Vụ Bản. Ông rất thành công trong việc sáng tác cho thiếu nhi với hai đề tài chính là thiên nhiên và con người. Giọng văn của ông trong trẻo, dịu dàng, giàu tình cảm, có khả năng gợi mở trí tưởng tượng của con người và có tính giáo dục cao.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Truyện được kể ở ngôi thứ mấy?
Câu 2 (0,5 điểm). Con ve rạc trong văn bản được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu văn có tác dụng gì: Thế ra con ve thầm lặng hi sinh ấy là mẹ của những tiếng ve ran, mẹ của những tiếng ca rạng rỡ suốt cả các mùa hè!?
Câu 4 (1,0 điểm). Sự thay đổi trong nhận thức và cảm xúc của nhân vật "tôi" khi nghe bác Tư giải thích giúp em hiểu gì về nhân vật.
Câu 5 (1,0 điểm). Theo em, hình ảnh "con ve mẹ" trong văn bản là biểu trưng cho đức tính nào của con người? Trong xã hội hiện đại, đức tính đó có còn cần thiết không? Vì sao? (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Truyện được kể ở ngôi thứ nhất (xưng "tôi").
Câu 2. (0,5 điểm)
Con ve rạc được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh:
– Cánh xơ xác, râu đã xoăn.
– Mệt mỏi đến độ không buồn cựa quậy.
– Đốt đuôi cuối cùng đã rụng mất, bụng rỗng không, quanh thành bụng chỉ là một màng da mỏng trong veo.
– Chậm chạp, im lặng, bay chuyền rất thấp.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Biện pháp tu từ nhân hoá (ve được khắc hoạ với việc "thầm lặng hi sinh").
– Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá:
+ Làm cho hình ảnh con ve trở nên sinh động, gần gũi, mang tâm hồn và tình cảm giống như con người.
+ Nhấn mạnh sự cao cả, thiêng liêng trong vòng đời của con ve cái: Đó không chỉ là sự sinh tồn tự nhiên mà là một sự hi sinh thầm lặng vì thế hệ mai sau.
+ Thể hiện thái độ trân trọng, xúc động của tác giả đối với những vẻ đẹp khuất lấp trong thiên nhiên.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Sự thay đổi nhận thức của nhân vật "tôi": Từ chỗ tò mò, nhận thấy mình "dốt nát và vô tình" đến chỗ thấu hiểu và trân trọng.
– Sự thay đổi thể hiện con người của nhân vật "tôi":
+ Có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và biết yêu thương thiên nhiên.
+ Ham học hỏi, giàu lòng trắc ẩn: Biết lắng nghe sự chỉ bảo của người lớn và biết tự nhìn nhận, sửa đổi những hiểu biết nông cạn của bản thân.
+ Biết trân trọng những giá trị đạo đức: Biết rung động trước sự hi sinh và lòng mẫu tử.
Câu 5. (1,0 điểm)
– Đức tính biểu trưng: Hình ảnh "con ve mẹ" là biểu tượng cho đức tính hi sinh thầm lặng, lòng mẫu tử thiêng liêng và tinh thần tận hiến vì thế hệ mai sau.
– Sự cần thiết trong xã hội hiện đại: Đây là đức tính vẫn luôn vô cùng cần thiết và không bao giờ lỗi thời.
– Lí do:
+ Sự hi sinh là sợi dây gắn kết tình cảm gia đình, giúp nuôi dưỡng tâm hồn và tương lai của con trẻ.
+ Giúp con người vượt qua lối sống ích kỷ, biết quan tâm và cống hiến cho lợi ích chung của cộng đồng.
Câu 1 (2,0 điểm). Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật "tôi" trong văn bản "Tiếng ve ran" của Vũ Tú Nam.
Câu 2 (4,0 điểm). Hiện nay nhiều bạn trẻ có thói quen lạm dụng mạng xã hội. Em hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên và đề xuất giải pháp để sử dụng mạng xã hội thông minh, tránh xa các ảnh hưởng tiêu cực.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích nhân vật "tôi" trong văn bản "Tiếng ve ran" của Vũ Tú Nam.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Sự quan sát tinh tế và tính hiếu kì, ham học hỏi:
+ Nhân vật "tôi" không thờ ơ trước thiên nhiên mà quan sát rất kĩ con ve (cánh xơ xác, đốt đuôi rụng, bụng rỗng,...).
+ Khi gặp điều chưa biết (hiện tượng ve cụt đuôi), nhân vật đã chủ động đi hỏi bác Tư già để tìm lời giải đáp, cho thấy thái độ cầu thị, ham hiểu biết.
– Sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và cảm xúc:
+ Trước khi biết sự thật: Coi việc bắt ve chỉ là một thú vui giải trí của trẻ con ("đã bắt và chơi đủ thứ ve").
+ Sau khi nghe bác Tư giải thích: Nhân vật cảm thấy "ngẫm nghĩ mãi", tự trách mình là "dốt nát và vô tình". Đây là biểu hiện của một người biết tự trọng và có lương tâm.
– Khả năng thấu cảm và liên tưởng giàu tính nhân văn:
+ "Tôi" thấu hiểu được sự hi sinh thầm lặng của ve mẹ để duy trì sự sống cho thế hệ sau.
+ Nhân vật rút ra bài học triết lý: "Im lặng là mẹ các âm thanh diệu kì".
+ Tưởng tượng tiếng ve ran mùa sau là tiếng hát tri ân mẹ, cho thấy một tâm hồn giàu trí tưởng tượng và sự biết ơn..
=> Nhân vật "tôi" đại diện cho sự trưởng thành về tâm hồn của trẻ thơ thông qua việc học cách yêu thương và trân trọng những vẻ đẹp khuất lấp trong đời sống.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Trình bày suy nghĩ về vấn đề lạm dụng mạng xã hội của các bạn trẻ; đề xuất giải pháp để sử dụng mạng xã hội thông minh tránh xa các ảnh hưởng tiêu cực.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
* Mở bài:
– Dẫn dắt vấn đề: Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng xã hội (Facebook, TikTok, Instagram,...).
– Nêu vấn đề: Thực trạng lạm dụng mạng xã hội của giới trẻ hiện nay.
– Nhận định chung: Đây là "con dao hai lưỡi" gây ra nhiều hệ luỵ nếu không biết cách sử dụng hợp lý.
* Thân bài:
– Giải thích khái niệm lạm dụng mạng xã hội:
+ Dành quá nhiều thời gian trong ngày (trên 3-5 tiếng) chỉ để lướt web vô định.
+ Mọi hoạt động đời thường đều phụ thuộc vào "thế giới ảo" (sống ảo, câu like, check-in liên tục).
+ Bỏ bê các hoạt động thực tế: Học tập, giao tiếp gia đình, chăm sóc bản thân.
– Nguyên nhân:
+ Tính hấp dẫn, gây nghiện của các thuật toán (video ngắn, thông báo liên tục).
+ Tâm lý muốn được chú ý, khẳng định bản thân hoặc sợ bị lạc hậu (hội chứng FOMO).
+ Sự thiếu quan tâm, định hướng từ gia đình và nhà trường.
– Hệ luỵ tiêu cực:
+ Sức khoẻ: Cận thị, mất ngủ, cơ thể mệt mỏi, suy nhược.
+ Tâm lí: Dễ rơi vào trầm cảm, lo âu khi so sánh mình với "vỏ bọc hoàn hảo" của người khác trên mạng.
+ Xã hội: Suy giảm khả năng giao tiếp trực tiếp, dễ bị ảnh hưởng bởi tin giả, lừa đảo hoặc bạo lực mạng.
+ Học tập: Sao nhãng, kết quả giảm sút nghiêm trọng.
– Giải pháp:
+ Cá nhân: Tự thiết lập giới hạn thời gian sử dụng, ưu tiên các mục tiêu học tập và phát triển kỹ năng.
+ Nội dung: Loại bỏ các trang độc hại, theo dõi những trang mang lại giá trị tích cực, kiến thức.
+ Gia đình: Cha mẹ cần làm gương và tạo ra nhiều hoạt động gắn kết ngoài trời cho con em.
+ Nhà trường: Đẩy mạnh giáo dục kỹ năng số và an ninh mạng.
– Bài học nhận thức và hành động:
+ Mạng xã hội không xấu, quan trọng là cách sử dụng.
+ Cần trở thành người dùng thông minh, có trách nhiệm.
* Kết bài:
– Khẳng định lại vấn đề: Mạng xã hội là công cụ, không phải mục đích sống.
– Thông điệp: Hãy làm chủ công nghệ, đừng để công nghệ điều khiển cuộc sống của bạn.