pin

Đề số 4 (Tự luận)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

                Chốn quê

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,

Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,

Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,

Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,

Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

(Nguyễn Khuyến)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Hình ảnh người nông dân được thể hiện trong bài thơ qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3. Trình bày cách hiểu của em về hai câu thơ sau:

               Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,

               Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Câu 4. Xác định biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau và nêu tác dụng của nó.

              Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,

              Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Câu 5. Xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

Câu 6. Tình cảm yêu thương, chia sẻ giữa con người với con người là thông điệp quý giá mà bài thơ “Chốn quê” mang lại cho người đọc. Viết một đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) trình bày quan điểm của em về giá trị của tình người trong cuộc sống.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2. Hình ảnh người nông dân được thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh: chân thua, thuế quan Tây, trả nợ, nửa công đứa ở, nửa thuê bò, sớm trưa dưa muối, chợ búa trầu chè chẳng dám mua, cần kiệm,…

(Học sinh cần liệt kê được ít nhất 4 từ ngữ, hình ảnh phù hợp)

Câu 3.

Học sinh trình bày cách hiểu về hai dòng thơ.

– Hoàn cảnh sống thiếu thốn, nghèo khó, phải tiết kiệm, chắt chiu của người nông dân.

– Qua đó, cho thấy sự đồng cảm, thương yêu của tác giả dành cho những người nông dân nghèo khổ.

Câu 4.

– Biện pháp: Câu hỏi tu từ.

– Tác dụng:

+ Gợi lên cuộc sống cần kiệm, khó khăn của người nông dân.

+ Thể hiện sự xót xa, đồng cảm, thấu hiểu của tác giả dành cho những người nông dân.

+ Thể hiện nỗi bất lực, mệt mỏi của chính tác giả khi chứng kiến cảnh sống thiếu thốn, vất vả của người dân.

Câu 5. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm yêu thương, sự đồng cảm của nhà thơ với cuộc sống vất vả, nghèo khổ của người nông dân trong xã hội cũ.

Câu 6.

Học sinh viết đoạn văn trình bày quan điểm về giá trị của tình người trong cuộc sống.

– Đảm bảo hình thức của đoạn văn.

– Trình bày được những giá trị của tình người trong cuộc sống, ví dụ:

+ Tình người trong cuộc sống đó là sự yêu thương, chia sẻ, lắng nghe, giúp đỡ nhau.

+ Tình người sẽ tạo nên một xã hội đầy yêu thương, bao dung. Từ đó, không có mâu thuẫn, chiến tranh, ai ai cũng được sống trong yên ấm, hòa bình.

+ Tình người khiến chúng ta sống tích cực, có niềm tin vào cuộc đời.

+…

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

II. PHẦN VIẾT (4 ĐIỂM)

 Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích truyện ngắn “Bà lái đò” của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

 Bà lái đò

     Chúng tôi tới một bờ sông và phải qua con sông khá rộng ấy. Chà, chúng tôi thở phào một hơi khoan khoái: Chúng tôi sẽ được nghỉ ngơi trên thuyền. Một người đàn bà ngoài bốn mươi, ngồi cạnh một thằng bé chừng tám chín tuổi, hướng mặt ra sông, đang vót tre bằng con dao nhọn. Thấy tiếng động, người ấy quay nhìn chúng tôi và có ý hớt hải, thu xếp các thứ rồi một tay cầm dao, một tay dắt con, nhảy xuống thuyền. Bà ta lay nhổ vội vàng cái sào cắm chặt vào bùn, rồi đẩy mạnh chiếc thuyền nan. Con thuyền chổng mũi lên trời, vỗ sóng đành đạch, nhảy chồm ra xa. Nhưng không hiểu sao tự nhiên nó quay lại ghé vào bờ. Đồng chí Việt Nam muốn chừng hiểu ý, nói:

    – Bà cho chúng tôi sang sông với chứ. Sáu người chở không nặng lắm đâu.

     – Vâng, cháu ghé vào chỗ khô để các ông khỏi lấm giầy.

     Chúng tôi xuống thuyền, ngồi thăng bằng thì thuyền quay mũi. Chúng tôi duỗi chân cho đỡ mỏi, rồi lấy thuốc lá ra hút. Chúng tôi nói chuyện với nhau về các khúc sông bên châu Âu. Gió hiu hiu lướt trên da chúng tôi mát rượi. Sóng phản ánh vàng, mặt nước chói như gương. Quá nửa bên này, yên lặng, thuyền tới chỗ chảy xiết. Chúng tôi phải vịn vào nhau để ngồi cho vững. Bỗng tự nhiên con thuyền chòng chành, đảo lộn đi, hất thằng bé con xuống nước. Đồng thời chúng tôi nghe tiếng bùng bục: người đàn bà tay cầm con dao nhọn đang xỉa đâm nát cả phía lái. Nước ùa vào và trong khoảnh khắc, cả chúng tôi băng ra giữa dòng. Trước thế nguy, chúng tôi giữ bình tĩnh.

     – Anh em! Phải cứu lấy đàn bà và trẻ con!

     Lệnh đưa ra, chúng tôi hết sức. Chúng tôi chống nhau với sóng, với xoáy, để đuổi kịp những cái đầu lúc nhô lên, lúc thụt xuống, theo đà nước đỏ ngầu. Anh Bảo – tên Việt Nam của đồng chí Đức – đã nhanh tay ôm được thằng bé và cõng nó vào bờ. Còn chúng tôi đuổi theo người mẹ. Nhưng hễ nắm được cánh tay, thì người đàn bà quái gở ấy lại giãy giụa, hình như muốn chạy trốn. Nhưng không thể. Chúng tôi phải cứu. Và sau hết, bà ta cũng được dìu vào bờ. Chúng tôi đặt hai mẹ con nằm trên cỏ, xúm lại chữa. Cả hai người đã nôn ra được nhiều nước và đã thở được đều.

     Chừng nửa giờ sau, bà lái đò mới mở đôi mắt mệt nhọc nhìn chúng tôi, thở dài, nhắm mắt lại. Biết rằng bà ta đã tỉnh, đồng chí Việt Nam hỏi:

     – Tại làm sao bà nỡ xử với chúng tôi như thế?

     – Họ là người Pháp, chúng tôi không chở cho giặc!

     Chúng tôi kinh ngạc nhìn nhau. Đồng chí Việt Nam mỉm cười:

     – Các đồng chí này không phải là người Pháp mà là người châu Âu, giúp Chính phủ ta đánh Pháp đấy bà!

     Bà lái đò uể oải nhìn chúng tôi một lượt, rồi không hiểu bà ta có tin hay không, lại thấy bà ta nhắm mắt như trước.

     – Thế nếu các đồng chí này là người Pháp, sao bà còn để xuống thuyền?

     – Tôi cũng tính chạy, nhưng sau sực nghĩ ra là các ông có súng, không để các ông xuống cũng chết. Đằng nào cũng chết, thà tôi chết mà giết được tất cả có hơn không?

     Chúng tôi kinh ngạc nhìn nhau. Đồng chí Việt Nam lắc đầu hồi hỏi:

     – Nhà bà ở đâu?

     – Tôi không có nhà, chỉ có chiếc thuyền ấy.

     – Thế gia đình bà có những ai? Chúng tôi muốn vào thăm.

     – Tôi góa, chỉ có một thằng bé.

     Bà mở mắt ra nhìn con, rồi quờ tay sờ trán và ngực nó.

(Trích Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan)

* Chú thích: Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977), sinh ra trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế ở Hưng Yên. Ông là một nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác, ông đã để lại hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Một số tác phẩm tiêu biểu: Tập truyện ngắn gồm Kép Tư Bền (1935), Đào kép mới (1937)…; Tiểu thuyết gồm Lá ngọc cành vàng (1935), Ông chủ (1935), Bước đường cùng (1938)… Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Guide icon Hướng dẫn giải

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích truyện.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Công Hoan và tác phẩm “Bà lái đò” (nhan đề, đề tài, thể loại,...); nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.

* Thân bài:

+ Phân tích nội dung và chủ đề của tác phẩm:

  • Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm: Tác phẩm kể về một người phụ nữ lái đò có lòng yêu nước sâu sắc. Một lần, có một nhóm người trong đó có cả người nước ngoài muốn sang sông, bà đã lấy dao chọc thủng thuyền hòng giết chết những người này vì nghĩ họ là người Pháp. Mẹ con bà may mắn đã được họ cứu thoát và cho biết họ là những người châu Âu giúp chính phủ ta đánh Pháp.
  • Nêu được chủ đề chính của tác phẩm: Lòng yêu nước. Chủ đề của tác phẩm xoay quanh những suy nghĩ và hành động dứt khoát, dũng cảm của bà lái đò; để giết giặc sẵn sàng phá hủy tài sản duy nhất của gia đình (chiếc đò), không màng đến cả tính mạng của con và bản thân.

+ Chỉ ra và phân tích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:

  • Cốt truyện: Đơn tuyến, mạch truyện đơn giản.
  • Xây dựng tình huống truyện đặc sắc giúp nhân vật bộc lộ được phẩm chất tốt đẹp của mình.
  • Nhân vật: Được khắc họa chủ yếu qua hành động và lời nói.
  • Ngôi kể: Truyện được kể ở ngôi thứ nhất, người kể chuyện là người trong cuộc, chứng kiến toàn bộ diễn biến sự việc khiến cho câu chuyện trở nên sinh động, chân thực; giúp người kể có thể bộc lộ được suy nghĩ, tình cảm của bản thân.
  • Ngôn ngữ: Truyện sử dụng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, phù hợp với mỗi nhân vật và với ngôn ngữ của giai đoạn lịch sử lúc đó (thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp).

Kết bài: Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

– Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

Lưu‎ ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong bài văn.

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này