Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của UBND phường Hà Đông SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
(Tóm tắt đoạn đầu: Nhân vật “tôi” sau khi tốt nghiệp sư phạm, chọn công tác tại một điểm trường vùng sâu, xa xôi thay vì theo con đường ổn định mà bạn bè lựa chọn. Dù biết có khó khăn tại nơi làm việc, anh vẫn quyết tâm vì khát khao khám phá và cống hiến. Trong cuộc sống tại điểm trường hẻo lánh, anh dần quen với sự thiếu thốn.)
Những đứa trẻ của tôi thật tuyệt vời. Tôi dạy chúng tiếng phổ thông và chúng dạy tôi tiếng địa phương. Chúng thường nhầm việc đến trường thành việc được vui chơi thay vì lên nương rẫy hay bế em, nhưng chúng luôn sẵn sàng học cả ngày trong ngôi trường luôn rung lên trong cơn gió mạnh. Dẫu sao những đứa bé ấy là người có học hành cao nhất trong nhà. Ông bà bố mẹ chúng đều không biết đọc. Mọi người kỳ vọng chúng sẽ đem lại sự kỳ diệu nào đó cho đàn trâu, nương ngô, sự diệu kỳ đến từ những cuốn sách lấm lem bùn đất vì trẻ té ngã lúc đến trường. Buổi tối bên bếp lửa, đám trẻ đánh vần bi bô và đôi khi chúng đóng vai tôi, dạy cho bố mẹ biết một vài chữ cái.
[...] Mùa xuân, ghé vào nhà bà thầy cúng để mượn cây đàn của bà, tôi thấy một người con gái thấp thoáng trong nhà bên. Bà cụ nói: “Chồng nó đã về Trời, để lại nó ở đây với núi rừng.”.
Cô gái ấy trạc tuổi tôi, với tập tục lấy vợ gả chồng sớm, con của cô ấy đang là học sinh của tôi. Người chồng bị tai nạn giao thông trong một lần hiếm hoi theo chúng bạn về chơi ở thị trấn huyện, cách bản chừng vài trăm cây số.
“Em không có tên. Tập tục của bản em là lấy tên người mất để đặt cho đứa trẻ mới ra đời. Em mang tên của bà ngoại em.” – Cô gái nói – “Thầy có muốn vào nhà em chơi không? Nếu thầy không ngại, mời thầy vào ăn cơm.”.
[...] Mâm cơm được dọn ra, chỉ hai món là cơm trắng và măng luộc chấm muối. Không gì trang trọng và quý hơn muối. Tôi tặng cô một lọ muối còn cô thì nói: “Thầy đặt cho em một cái tên cho dễ gọi.”. Tôi chần chừ mãi: “Em tên là Hà nhé?”. (...)
Ăn cơm xong, hai mẹ con đốt đuốc đưa tôi lên trường. Trường đóng trên đỉnh núi, bản thì nằm bên suối. Trời tối đen như mực, Hà cầm đuốc dẫn đường tôi đi. Nếu lạc, đến sáng cũng chẳng tới được trường đâu. Rừng nguyên sinh xanh ngắt một màu.
Đến trường, Hà bảo: “Ô! Thầy sống đơn giản thế này sao.”. Cô thích những cuốn sách của tôi. Chúng sờn mòn. Tôi đọc đi đọc lại chẳng biết bao lần. Tôi đọc sách như thể mình không đọc gì. Đôi giày tôi treo trên tường, giữ cho thật sạch để mỗi sáng lên lớp sẽ đi. Bọn trẻ chưa bao giờ thấy một đôi giày mới và tôi thích thu hút chúng bằng điều mới lạ.
Hai mẹ con chào tôi về. Tôi bảo: “Giờ đã khuya, trên rừng biết đâu có thú dữ. Tôi sẽ cùng Hà về bản.”. Ôi, vậy đưa nhau đi đi lại lại tới sáng ư?
Quay lại, thấy cậu học trò nhỏ đã ngủ say sưa trên giường của thầy, đắp chiếc chăn bông cũ của thầy. Nó nghịch nhất lớp, thích chọc các bạn rồi bày đủ trò vui chơi mỗi khi tan học. Nó muốn quên đi thân phận đứa trẻ duy nhất trong bản không còn bố.
Nó biết mặt bố bao giờ đâu. Trên này chẳng có ai chụp ảnh, mà cũng chẳng có phong tục thờ người quá cố bằng tranh ảnh.
Tôi nhớ mãi cái đêm ấy, một đêm mùa xuân hoa đào hoa ban ngan ngát và trong phòng tôi trên điểm trường trên đỉnh núi có nhiều hơn một người. Cảm giác ấm cúng lạ thường và vẻ như tôi được trải qua cảm giác mà người ta thường nói là “như thể một gia đình”.
(Trích Hoa suối, Trần Nguyên Anh, in trong Truyện ngắn đặc sắc 2024, NXB Văn Học, 2024)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể trong đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Tìm một lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm trên và chuyển thành lời dẫn gián tiếp.
Câu 3 (1,0 điểm). Trong đoạn đầu của văn bản, những đứa trẻ ở điểm trường được miêu tả như thế nào? Điều đó phản ánh điều gì về cuộc sống của chúng?
Câu 4 (1,0 điểm). Tại sao nhân vật “tôi” lại có cảm nhận: Cảm giác ấm cúng lạ thường và vẻ như tôi được trải qua cảm giác mà người ta thường nói là “như thể một gia đình”.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung văn bản trên, em rút ra những thông điệp gì?
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
– Ngôi kể: Thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
Câu 2. (0,5 điểm)
– HS chỉ đúng một lời dẫn trực tiếp và chuyển thành lời dẫn gián tiếp:
+ Tìm đúng lời dẫn trực tiếp: “Chồng nó đã về Trời, để lại nó ở đây với núi rừng.”.
+ HS chuyển đúng: VD: Bà cụ nói rằng chồng của nó đã qua đời, để lại nó sống nơi núi rừng.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Những đứa trẻ ở điểm trường được miêu tả:
+ Chúng dạy “tôi” tiếng địa phương.
+ Chúng thường nhầm việc đến trường thành việc được vui chơi thay vì lên nương rẫy hay bế em.
+ Chúng luôn sẵn sàng học cả ngày trong ngôi trường luôn rung lên trong gió mạnh.
+ Những đứa trẻ là người có học hành cao nhất trong nhà.
+ Đám trẻ đánh vần bi bô, dạy bố mẹ biết vài chữ cái.
– Điều đó phản ánh cuộc sống của chúng:
+ Cuộc sống thiếu thốn, nghèo khó, lạc hậu của trẻ em vùng sâu, vùng xa.
+ Khát vọng học tập của trẻ em và niềm hi vọng của gia đình dành cho chúng trong việc thay đổi cuộc sống.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Nhân vật tôi có cảm nhận đó vì:
+ Có sự hiện diện của nhiều người trong căn phòng nhỏ (cô Hà, cậu học trò nhỏ).
+ Không khí gần gũi, ấm áp giữa những con người xa lạ.
+ Sự gắn bó, quan tâm chân thành.
+ Trong hoàn cảnh cô đơn nơi vùng cao, tình người trở nên đặc biệt ý nghĩa.
Câu 5. (1,0 điểm)
– HS nêu được các thông điệp:
+ Hoàn cảnh khó khăn, yêu thương, chia sẻ đã gắn kết con người với con người.
+ Được học tập là khao khát của biết bao trẻ em nghèo.
+ Hạnh phúc có thể đến từ những điều giản dị trong cuộc sống.
+ Biết sống cống hiến, dấn thân vì cộng đồng.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “tôi” trong đoạn trích Hoa suối ở phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Cha mẹ và thầy cô là những người đưa ra cho chúng ta những lời khuyên bảo đúng đắn, giúp chúng ta hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, một số học sinh luôn có những phản ứng tiêu cực trước lời nhắc nhở của thầy cô. Vậy mỗi học sinh cần có cách ứng xử như thế nào trước những lời nhận xét, đánh giá và góp ý từ thầy cô? Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trả lời cho câu hỏi trên.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn phân tích nhân vật: (0,25 điểm)
Mở đoạn giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật cần phân tích; thân đoạn phân tích làm rõ những đặc điểm nổi bật của nhân vật và đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật; kết đoạn khái quát, tổng hợp lại.
b. Xác định đúng yêu cầu phân tích: (0,25 điểm)
Phân tích đặc điểm nổi bật của nhân vật “tôi”, đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật của truyện.
c. Phân tích, làm rõ được: (1,0 điểm)
– Bối cảnh: “Tôi” – một giáo viên trẻ đầy nhiệt huyết trên hành trình lên vùng cao giảng dạy.
– Lí tưởng sống đẹp, tinh thần cống hiến: Tình nguyện lên vùng sâu, vùng xa; chấp nhận khó khăn, thiếu thốn;…
– Tình yêu nghề và sự tận tâm với bọn trẻ: Gắn bó với trò, trân trọng sự hồn nhiên và ham học của bọn trẻ, kiên trì dạy học trong điều kiện gian khổ,…
– Tâm hồn nhân hậu, giàu tình cảm: Quan tâm, đồng cảm với hoàn cảnh của trò, những cảm nhận tinh tế về hạnh phúc,…
– Đặc sắc nghệ thuật: Ngôi kể thứ nhất, xây dựng nhân vật qua lời nói, cử chỉ, hành động,…
d. Chính tả, ngữ pháp: (0,25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: (0,25 điểm)
Thể hiện suy nghĩ của bản thân về nhân vật “tôi”, có cách diễn đạt sáng tạo, mới mẻ. (Sống có lí tưởng, đáng khâm phục,…)
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: (0,25 điểm)
Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0,5 điểm)
Đề xuất giải pháp để tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ bạn bè.
c. Phân tích, làm rõ được: (2,5 điểm)
HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng, bảo đảm các yêu cầu sau:
MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
TB: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích: Phê bình, góp ý: Là những nhận xét của thầy cô nhằm chỉ ra điểm chưa tốt, thiếu sót của học sinh để giúp các em tiến bộ.
→ Đây là một phần tất yếu trong quá trình giáo dục và rèn luyện.
– Nêu thực trạng: Phản ứng tiêu cực của HS trước những lời đánh giá, nhận xét của thầy cô (chống đối, cãi lại, im lặng những bực bội, xa cách, không thích học, bi quan, chán nản, tự ti,...).
– Nguyên nhân:
+ Từ chính bản thân học sinh (tâm lí tự ái, chưa kiểm soát được cảm xúc, chưa hiểu ý nghĩa của những lời đánh giá của thầy cô,...).
+ Lối sống đề cao cái tôi cá nhân, kiêu ngạo khó chấp nhận sự nhắc nhở.
+ Cha mẹ bận rộn, ít chia sẻ, bênh vực.
+ Xã hội: Nhiều quan điểm sống lệch lạc, cổ vũ cho những phản ứng tiêu cực.
+ Cách nhận xét, đánh giá có thể chưa phù hợp.
– Hậu quả:
+ Nếu vấn đề không được giải quyết, học sinh sẽ bỏ lỡ cơ hội học hỏi và phát triển từ những lời góp ý quý báu của thầy cô.
+ HS khó tiến bộ, dễ lặp lại lỗi sai.
+ Thái độ chống đối, phớt lờ lời nhận xét đánh giá có thể khiến mối quan hệ thầy trò trở nên căng thẳng, ảnh hưởng đến quá trình học tập và rèn luyện.
– Đề xuất các biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề:
Cá nhân:
+ Bình tĩnh, lắng nghe một cách chân thành và thấu đáo.
+ Suy ngẫm và nhìn nhận vấn đề một cách khách quan. Nhìn thẳng và đối diện với lỗi sai, biết nói lời xin lỗi, biết tìm cách thay đổi,...
+ Tích cực trao đổi, thảo luận với thầy cô với thái độ lễ phép.
+ Rèn luyện bản lĩnh, kiểm soát cảm xúc, tiếp nhận lời phê bình một cách cầu thị.
+ Biến lời phê bình thành động lực để rèn luyện bản thân.
+ Đặt ra mục tiêu cho mình, trở thành tấm gương tốt.
(Có bằng chứng phù hợp)
Gia đình: Cần chia sẻ, động viên, phân tích đúng sai, khuyên nhủ phù hợp.
Nhà trường: Cần tổ chức các hoạt động tuyên dương, lan toả những cá nhân có sự tiến bộ, trưởng thành nhờ tiếp thu tích cực lời đánh giá của thầy cô,...
– Liên hệ bản thân: Nhận thức được tầm quan trọng của việc tiếp thu lời góp ý; biết lắng nghe, sửa sai và hoàn thiện bản thân hơn trong học tập và cuộc sống.
KB:
– Khẳng định ý nghĩa của việc ứng xử đúng đắn trước lời nhận xét đánh giá, góp ý của thầy cô.
– Kêu gọi.
(Nêu được những lí lẽ, bằng chứng hợp lí, tiêu biểu, xác thực làm sáng tỏ quan điểm của cá nhân.)
d. Chính tả, ngữ pháp: (0,25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: (0,5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.