Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra giữa học kì II - Đề số 4 SVIP
Đọc văn bản sau.
CHIẾC TẤT NHUỘM BÙN
(Lược một đoạn: Thầy giáo Hy bị mất chiếc đồng hồ để trong túi áo ba-đờ-suy treo trong lớp học. Thầy trách phạt Kỳ Phát vì cho rằng cậu đã lấy chiếc đồng hồ đó trong giờ ra chơi.)
Buổi tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, Kỳ Phát một mình đến nhà Sâm. [...] Thấy Kỳ Phát thấp thoáng đằng xa, Sâm lúc ấy đương đứng chơi ngoài cổng, định lảng chạy vào trong nhà nhưng Kỳ Phát đã lên tiếng gọi:
− Anh Sâm ơi! Tôi biết rõ chuyện rồi!
Sâm nghe Kỳ Phát nói thế càng lộ vẻ luống cuống, đành đứng im mà đợi. Kỳ Phát đã đến nơi, thấy mặt Sâm xám ngắt, ngơ ngác nhìn mình thì bất giác thương hại, vỗ vai mà bảo rằng:
− Tôi hiểu rõ chuyện, tôi biết không phải anh định lấy cắp đồng hồ, chỉ vì tính tò mò mà bất đắc dĩ phải giữ lại như vậy. Và sau anh không dám trả nữa... [...]
Sâm như hối hận, rơm rớm nước mắt nói rằng:
− Tôi không ngờ anh lại hiểu rõ chuyện như vậy. Chỉ vì tôi rút rát quá thành ra để anh mang tiếng oan... Mấy hôm nay tôi khổ lắm...
Kỳ Phát hỏi:
− Nhưng bây giờ đồng hồ đâu rồi? Vẫn còn phải không?
Sâm đưa Kỳ Phát vào trong nhà, lấy đồng hồ trao cho rồi lo lắng nói:
− Nhưng anh trả cách nào để cho thầy giáo khỏi biết! [...]
Sâm đưa Kỳ Phát ra cửa, sực nhớ, hỏi rằng:
− À, nhưng vì ai nói mà anh biết được việc này?
Kỳ Phát lắc đầu:
− Không, có ai biết mà nói được! Để tôi cắt nghĩa cho anh nghe, chỉ nhờ có chỗ 8 giờ kém 5 mà tôi tìm được ra người đã lấy, nói trót cầm thì đúng hơn, chiếc đồng hồ của thầy giáo Hy.
Thấy Sâm ngạc nhiên không hiểu, Kỳ Phát nói tiếp:
− Anh nên để ý một điều: thầy giáo Hy sáng hôm ấy đến trường lúc 7 giờ 15 phút. Vì thầy cần lên Hà Nội nên lấy đồng hồ lại, để chậm 15 phút vì lẽ đồng hồ thầy chạy nhanh, như vậy thì lên đến Hà Nội, đồng hồ sẽ vừa đúng. Vậy mà lúc vào học, thầy lấy đồng hồ xem thấy đồng hồ chết và kim chỉ 8 giờ kém 5 phút. Anh hãy nghĩ mà coi, đồng hồ có thể chạy nhanh nhưng có phải trong khoảng non một giờ đồng hồ (từ 7 giờ đến 8 giờ) đồng hồ có thể chạy nhanh lên được tới trên 15 phút không? Thực là vô lí. Như vậy, ta có thể biết chắc rằng trước khi thầy giáo vào lớp học, áo ba-đờ-suy còn treo ở trên mắc, thì đã có người lên lấy đồng hồ ra, vặn lại rồi. Tôi đoán hẳn phải có một anh bạn nào tính tò mò, nhân vào sớm giờ thấy áo thầy giáo treo trên mắc, biết trong đó có đồng hồ nên tinh nghịch lén lấy ra mở, xem máy, vặn đi vặn lại và bởi vậy làm cho đồng hồ hỏng máy không chạy nữa. Rồi đến giờ vào học, anh chàng ấy mới vội vàng bỏ đồng hồ vào túi trả thầy, tưởng rằng thầy sẽ không để ý đến, ngờ đâu, vừa vào lớp, thầy đã giở đồng hồ ra rồi. Và cũng bởi thế anh chàng kia sợ hãi, chờ cho đến giờ chơi, lại lẻn vào lớp, định lấy đồng hồ mở máy ra chữa. Song loay hoay chưa kịp lắp vào trả, vả lại đồng hồ cũng chưa chạy, anh chàng kia chợt thấy tôi ở ngoài vào (mãi về sau tôi mới nhớ lúc ra chơi tôi có bỏ lớp ra ngoài mất một lúc) không giấu đi đâu kịp, vội vàng bỏ đồng hồ vào túi và chạy ra khỏi lớp. Anh chàng này, không định lấy đồng hồ vậy mà thành ra ăn cắp bất đắc dĩ...
Sâm chú ý nghe Kỳ Phát, tỏ vẻ kính phục mà nói rằng:
– Anh kể việc đã xảy ra đúng như hệt chính mắt anh trông thấy vậy. Tôi đã hiểu từ chỗ 8 giờ kém 5 mà anh luận ra có kẻ nghịch đồng hồ trước khi vào học, nhưng tôi cũng chưa biết vì đâu mà anh biết tôi chính là thủ phạm.
Kỳ Phát gật đầu:
– Khi đã biết thế, tôi chỉ còn nhớ ra xem trong lớp thường có những bạn nào hay đến trường sớm và hay cất sách trước vào lớp để ra sân chơi. Tôi thấy có ba, bốn anh nhưng để ý tìm tòi, không thấy cặp ai có dấu gì khả nghi cả (vì tôi đoán có lẽ anh chàng ăn cắp bất đắc dĩ ấy không dám mang đồng hồ ra khỏi lớp ngay). Khi tìm đến chỗ anh ngồi thì tình cờ tôi thấy trên mặt bàn có vết dầu máy, khi tôi lấy giấy thấm lên lau thì vết dầu lại càng rõ rệt. Như vậy thì chắc chắn anh đã tháo máy đồng hồ để lên bàn rồi còn gì nữa.
Sâm ngắt lời hỏi:
– Có phải chính lúc anh đương vào lục xét ấy, thì thầy giáo tình cờ nhảy vào, bắt gặp?
Kỳ Phát buồn rầu, gật đầu:
– Chính thế, thầy vào, bắt được tôi đương lục sách, như vậy thì tôi dù có muốn chối cãi cũng không được nữa. Vả lại, tôi đã biết anh bất đắc dĩ mà làm việc ấy, anh xưa nay vốn là một người học trò chăm chỉ và ngoan ngoãn, tôi vẫn mến, tôi tự nhiên không muốn nói rõ việc ra đợi đến tối nay, lại anh, nói chuyện cho anh nghe và bàn cách xử trí.
(Phạm Cao Củng, Trích Chiếc tất nhuộm bùn, NXB Công an nhân dân, 2018, tr.63-67)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản "Chiếc tất nhuộm bùn".
Câu 2. Chỉ ra 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.
Câu 3. Những chi tiết nào đóng vai trò quan trọng trong việc khám phá ra sự thật của câu chuyện? Qua đó, em nhận thấy nhân vật Kỳ Phát có tính cách, phẩm chất gì nổi bật?
Câu 4. Văn bản "Chiếc tất nhuộm bùn" sử dụng ngôi kể thứ mấy? Nêu tác dụng của việc sử dụng ngôi kể này.
Câu 5. Qua câu chuyện về vụ "ăn cắp bất đắc dĩ", em rút ra bài học gì về cách nhìn nhận mọi vấn đề trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Chiếc tất nhuốm bùn" là tự sự.
Câu 2. (0,5 điểm)
− Học sinh chỉ ra được 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.
− Gợi ý trả lời: "luống cuống", "ngơ ngác", "rơm rớm", "loay hoay", "ngoan ngoãn",...
Câu 3. (1,0 điểm)
− Những chi tiết quan trọng giúp khám phá sự thật của câu chuyện:
+ Chi tiết về thời gian (8 giờ kém 5 phút): Sự chênh lệch vô lý giữa giờ trên đồng hồ (chạy nhanh quá mức cho phép trong thời gian ngắn) so với thực tế giúp Kỳ Phát suy luận đồng hồ đã bị ai đó lấy ra nghịch trước giờ học.
+ Chi tiết vết dầu máy: Vết dầu dính trên bàn của Sâm là bằng chứng xác nhận Sâm đã tháo lắp đồng hồ tại chỗ ngồi của mình.
− Tính cách, phẩm chất nổi bật của Kỳ Phát:
+ Thông minh, sắc sảo: Có khả năng quan sát tinh tế và tư duy logic chặt chẽ.
+ Nhân hậu, bao dung và trọng tình nghĩa: Dù bị oan nhưng Kỳ Phát không vội tố giác bạn, cậu thấy hiểu lí do và sự bất đắc dĩ của Sâm nên chọn cách giải quyết kín đáo hơn.
Câu 4. (1,0 điểm)
− Văn bản "Chiếc tất nhuốm bùn" sử dụng ngôi kể thứ ba.
− Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ ba:
+ Giúp người kể chuyện quan sát và thuật lại toàn bộ diễn biến câu chuyện một cách khách quan, bao quát.
+ Dễ dàng mô tả diễn biến tâm lí của cả hai nhân vật Kỳ Phát và Sâm.
+ Tăng tính thuyết phục khi tái hiện những suy luận dẫn đến việc tìm ra sự thật.
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về cách nhìn nhận mọi vấn đề trong cuộc sống. Gợi ý:
− Không nên vội vàng kết luận hay phán xét bất cứ điều gì khi chưa hiểu rõ nguyên nhân.
− Cần biết cảm thông, chia sẻ và sẵn sàng tạo cơ hội cho người khác sửa sai.
− Sự bao dung và tấm lòng vị tha sẽ giúp giữ gìn các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống.
Câu 1. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật Kỳ Phát trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. "Cái tôi làm nên bản sắc, nhưng cái chúng ta làm nên sức mạnh.". Từ góc nhìn của người trẻ, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về việc người trẻ cần cân bằng giữa "cái tôi" và "cái chúng ta".
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm)
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
– Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Kỳ Phát trong đoạn trích" ở phần Đọc hiểu. (0,25 điểm)
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm)
Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
– Trí tuệ sắc sảo và khả năng tư duy logic:
+ Kỳ Phát không chấp nhận và cũng không nóng giận, đánh mất lí trí vì sự buộc tội vô căn cứ của thầy giáo. Anh dựa vào mốc thời gian "8 giờ kém 5" trên chiếc đồng hồ chết để tính toán sự phi lí giữa thời điểm thầy đến trường và thời điểm vào lớp.
+ Kỳ Phát có khả năng quan sát vô cùng tỉ mỉ và chính xác. Anh đã kết nối các manh mối và tìm ra thủ phạm nhờ "vết dầu máy" trên mặt bàn học của Sâm. Đây là chi tiết nhỏ mà người thường dễ bỏ qua nhưng Kỳ Phát vẫn tinh ý nhìn nhận được, cho thấy Kỳ Phát có tố chất của một thám tử chuyên nghiệp.
+ Kỳ Phát có sự điềm tĩnh đến bất ngờ. Anh đến tìm Sâm, nói chuyện nhẹ nhàng để tái hiện lại toàn bộ diễn biến sự việc (Sâm tò mò, làm hỏng đồng hồ, lo sợ nên lén giấu đi) chính xác đến mức thủ phạm không thể chối cãi, thậm chí còn có phần cảm phục.
→ Cho thấy một bộ óc thám tử nhạy bén, khả năng suy luận khoa học và thái độ điềm tĩnh, tự tin trước mọi tình huống khó khăn.
– Tâm hồn cao thượng và cách ứng xử đầy tình người:
+ Sự thấu cảm: Khi biết Sâm là hung thủ, Kỳ Phát không chê bai, chỉ trích hay đánh giá phiến diện Sâm là kẻ ăn cắp xấu xa. Anh nhìn nhận mọi thứ bằng sự nhẹ nhàng và cảm thông, hiểu rằng đó chỉ là một sự "ăn cắp bất đắc dĩ" xuất phát từ sự tò mò.
+ Lòng bao dung: Dù bản thân bị nghi oan và chịu phạt vì lỗi lầm của Sâm nhưng Kỳ Phát không hề oán hận hay vội vàng tố cáo Sâm để minh oan cho bản thân. Anh chọn cách gặp riêng Sâm vào buổi tối để lí giải và tìm cách giải quyết sự việc.
+ Sự tinh tế: Kỳ Phát tìm cách giúp Sâm trả lại đồng hồ mà không để thầy giáo biết, chấp nhận sự thiệt thòi của bản thân nhằm bảo vệ danh dự và tương lai cho bạn. Hành động "vỗ vai" và những lời nói với Sâm cho thấy một nhân cách lớn, trọng tình nghĩa hơn là sự thắng thua về lí lẽ.
→ Khẳng định vẻ đẹp đạo đức cao thượng, lối sống trọng tình nghĩa và lòng vị tha đáng trân trọng, giúp hoá giải mâu thuẫn bằng tình thương thay vì sự trừng phạt.
– Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật:
+ Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại sắc sảo và hành động cụ thể, giàu tính logic.
+ Đặt nhân vật vào tình huống thử thách (bị nghi oan) để làm nổi bật sự đối lập giữa vẻ ngoài bình thản và nội tâm sâu sắc, tài năng.
=> Kỳ Phát là một nhân vật lí tưởng, kết hợp hài hoà giữa bộ óc thông tuệ và trái tim ấm áp. Qua nhân vật, tác giả gửi gắm bài học về cách nhìn nhận con người cần sự thấu đáo, đa chiều và lòng vị tha thay vì chỉ đánh giá qua bề nổi của sự việc.
Câu 2 (4,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm)
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm)
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ về việc người trẻ cần cân bằng giữa "cái tôi" và "cái chúng ta".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm)
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích:
+ "Cái tôi" là bản ngã, là cá tính riêng của mỗi người, bao gồm tư duy, quan điểm, sở thích và ước mơ mà mỗi cá nhân tự xây dựng để khẳng định mình trong cuộc sống. Với tuổi trẻ, "cái tôi" thường bộc lộ rõ nét qua những khát vọng mãnh liệt, tinh thần dám nghĩ dám làm và khao khát được tỏa sáng. Đây là yếu tố thúc đẩy người trẻ vượt qua giới hạn, tìm kiếm thành công và tạo nên dấu ấn cá nhân.
+ "Cái chúng ta" là ý thức cộng đồng, là trách nhiệm gắn kết với xã hội bao gồm việc sẻ chia, hòa nhập và cống hiến cho tập thể. Với tuổi trẻ, "cái chúng ta" thể hiện qua sự đồng lòng khi làm việc nhóm, tinh thần đoàn kết vì mục tiêu chung và sự dấn thân vì lợi ích chung của cộng đồng, xã hội.
+ Cân bằng giữa "cái tôi" và "cái chúng ta" là sự hòa hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Đây là cách mỗi người biết tôn trọng bản sắc riêng, nhu cầu và quan điểm cá nhân, đồng thời gắn kết, sẻ chia và đóng góp cho cộng đồng.
– Tại sao tuổi trẻ cần cân bằng giữa "cái tôi" và "cái chúng ta"?
+ Tuổi trẻ luôn khát khao thể hiện cá tính, đam mê và chinh phục những đỉnh cao riêng biệt. Điều này giúp ta trở nên tự tin, bản lĩnh và mạnh mẽ hơn trên hành trình tìm kiếm giá trị của mình. Tuy nhiên, nếu quá đề cao "cái tôi", ta dễ rơi vào sự kiêu ngạo, xa cách, ích kỉ và dần đánh mất các mối quan hệ quan trọng xung quanh.
+ Ngược lại, nếu tuổi trẻ chỉ biết đến "cái chúng ta" mà quên đi "cái tôi" sẽ dễ dàng hoà tan vào đám đông và đánh mất chính mình. Những khát vọng cá nhân, bản lĩnh và sự độc đáo – vốn là ngọn lửa thúc đẩy thành công – sẽ bị lụi tàn trong sự mờ nhạt và thụ động. Một tuổi trẻ không có dấu ấn riêng chẳng khác gì một dòng sông chảy mãi nhưng không để lại dấu vết, lặng lẽ và vô nghĩa giữa đời.
+ Khi biết cân bằng giữa "cái tôi" và "cái chúng ta", người trẻ vừa tận dụng được nội lực, bản sắc của bản thân, vừa nhận được sự hỗ trợ của tập thể. Dù "cái tôi" mạnh mẽ giúp người trẻ chạm tới thành công, nhưng để giữ vững thành công đó, ta cần đến sức mạnh của "cái chúng ta". Cộng đồng là nơi mang lại sự hỗ trợ, đồng cảm và cơ hội để cá nhân phát triển toàn diện. Khi biết dung hòa giữa cá nhân và tập thể, người trẻ không chỉ xây dựng sự nghiệp vững chắc mà còn tạo nên giá trị bền lâu cho xã hội.
=> Một tuổi trẻ thiếu cân bằng sẽ lạc lối, không thể phát triển toàn diện. Tuổi trẻ chỉ thực sự đẹp khi nó hòa quyện giữa bản lĩnh cá nhân và tình yêu thương, sẻ chia với tập thể. Do đó, sự cân bằng giúp ta vừa giữ được cái tôi đặc sắc, vừa góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết, tiến bộ.
– Mở rộng vấn đề, trao đổi quan điểm trái chiều/ý kiến khác:
+ Phê phán nhiều bạn trẻ sống ích kỉ, chỉ biết đến "cái tôi" mà quên đi "cái chúng ta", quên đi trách nhiệm với cộng đồng. Lối sống ấy không chỉ làm tổn thương mối quan hệ xung quanh mà còn khiến họ trở nên cô độc, nhỏ bé trong sự ích kỷ của mình. Ngược lại, cũng có những người đánh mất cái tôi, quên đi bản sắc riêng và sống chỉ để làm hài lòng người khác. Họ tồn tại như những chiếc bóng nhạt nhòa, không còn giá trị, ý chí hay ước mơ riêng, đánh đổi ý nghĩa cuộc đời chỉ để hòa vào đám đông vô nghĩa.
+ Đưa ra ý kiến trái chiều và phản biện: Một số người cho rằng chỉ cần tập trung vào cái tôi, sống vì bản thân mới là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công. Nhưng thực tế, thành công ích kỷ ấy thường ngắn ngủi và trống rỗng, vì không có sự sẻ chia và đóng góp từ những người xung quanh. Ngược lại, cũng có quan điểm đề cao việc hy sinh hoàn toàn cái tôi để vì tập thể. Điều này lại làm mất đi sự khác biệt và sáng tạo – hai yếu tố cần thiết để cá nhân và xã hội cùng phát triển. Vì thế, chỉ khi biết cân bằng giữa cái tôi và cái chúng ta, con người mới tìm được sự hài hòa và bền vững trong cuộc sống.
– Rút ra bài học:
+ Nhận thức:
Cần nhận thức rằng cái tôi và cái chúng ta không phải hai thái cực đối lập, mà là hai giá trị bổ sung, giúp cá nhân và cộng đồng cùng phát triển. Cái tôi là nơi khởi nguồn của sự tự tin và sáng tạo, trong khi cái chúng ta lại mang đến sự kết nối, đồng lòng, và sức mạnh tập thể. Người trẻ chỉ có thể sống trọn vẹn nếu biết hài hòa giữa khát vọng cá nhân và trách nhiệm xã hội.
+ Hành động:
Hãy nuôi dưỡng và khẳng định cái tôi bằng cách không ngừng học hỏi, rèn luyện, và phát triển bản thân. Đồng thời, học cách hòa mình vào cái chúng ta bằng sự lắng nghe, sẻ chia, và thấu hiểu. Tham gia vào các hoạt động tập thể, đóng góp vào lợi ích chung không chỉ là trách nhiệm, mà còn là cơ hội để mỗi cá nhân trưởng thành. Hãy làm cho cái chúng ta trở thành nền tảng giúp cái tôi của bạn tỏa sáng một cách rực rỡ nhất.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm)
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0,5 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0,5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.