pin

Đề kiểm tra giữa học kì I - Đề số 7

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

CẬU BÉ CỜ LAU ĐINH BỘ LĨNH

Từ cánh đồng ngoài xa, có tiếng kêu của ai đó dội về vách đá, vọng vào căn nhà gỗ ven núi:

– Thằng Bộ Lĩnh đánh chết người!

Bà Đàm ngừng tay đưa thoi, lắng nghe. Bà biết rõ con bà lắm. Thằng Bộ Lĩnh đã nhiều lần làm khổ bà vì cái tính nghịch ngợm và bướng bỉnh của nó. Còn giết người thì từ khi sinh ra, Bộ Lĩnh không ở với bố là Đinh Công Trứ đang làm thứ sử ở Hoan Châu mà ở Hoa Lư với bà đã mười bốn năm nay, bà chẳng biết nó hay sao? Con bà không làm chuyện ấy. Lại có tiếng gọi:

– Bà Đàm ra mà đền con cho người ta kìa!

Nó đánh nhau với con cái nhà ai rồi! Nghĩ vậy, bà Đàm đứng dậy, với tay cầm chiếc roi trên vách.

Vừa ra đến đầu động bà đã thấy lũ trẻ chăn trâu kéo nhau về. Một tốp cưỡi trâu đi trước, đứa nào đứa nấy kết lá làm bành, ngồi ngất nghểu trên lưng trâu. Tiếp theo, một tốp khác vác cờ lau đi như rước hội. Bộ Lĩnh đang chễm chệ ngồi trên tay hai đứa trẻ khoanh làm kiệu rước đi giữa, hai bên có mấy đứa cầm cờ lau kiếm gỗ hộ vệ. Bà Đàm bực mình, đi thẳng lại chỗ Bộ Lĩnh. Cây roi trong tay bà vừa vung lên thì Bộ Lĩnh đã tụt vội xuống đất, luồn qua tay bà, rồi chạy lên phía trước. Bộ Lĩnh nhảy tót lên lưng trâu, thúc trâu tế về phía núi.

Thì ra lũ trẻ chăn trâu Hoa Lư cờ lau tập trận. Đánh nhau với một lũ trẻ khác, bị cướp mất trâu, Bộ Lĩnh tức giận đuổi bắt thằng bé đầu đàn, quẳng xuống sông. Khi thằng bé sắp chìm, Bộ Lĩnh lại nhảy xuống vớt lên…

Lại một hôm, trong lúc cờ lau tập trận, đoàn trẻ chăn trâu Hoa Lư được tin lũ trẻ sách bên đang đi về phía chúng. Lập tức Bộ Lĩnh cho dàn trận, còn mình thì leo lên một mỏm đá đứng chỉ huy, tay cầm bông lau làm cờ hiệu, thanh kiếm gỗ đeo bên sườn. Một trận chiến đấu ác liệt sẽ xảy ra. Không phải thế. Chúng đến để xin nhập bọn. Muốn nhập bọn với Bộ Lĩnh nhưng lại không chịu nhận Bộ Lĩnh làm chủ tướng, nhao nhao đòi tài vật xem ai khoẻ hơn ai mới được làm chủ tướng. Tuy nhỏ bé hơn thằng đầu đàn của lũ trẻ con sách bên, nhưng Bộ Lĩnh không do dự, nhận lời đọ sức.

Hai đứa cởi áo xông vào vật nhau. Bộ Lĩnh dùng tài nhanh nhẹn của mình làm cho thằng kia ngã sấp xuống rồi chồm lên lưng hắn ngồi như cưỡi trâu. Thằng kia cố sức vùng dậy. Bộ Lĩnh thúc chân vào sườn hắn mà thét:

– Mau lên! Cõng chủ tướng về hang núi khao quân!

Lũ trẻ reo cười nhìn thằng lớn cõng thằng bé. Có tiếng xì xào: "Thằng Bộ Lĩnh khôn quá, đáng mặt làm chủ tướng.".

Thế là đoàn quân trẻ nhỏ lũ lượt diễu binh. Bộ Lĩnh ngồi trên kiệu đi giữa, có tả hữu hộ vệ. Rừng cờ lau di động men theo sườn núi, tiến về hang đá. Đến nơi, Bộ Lĩnh để lũ trẻ đứng đợi, còn mình thì dẫn mười đứa về nhà.

[...]

Tuổi niên thiếu của Bộ Lĩnh trôi qua với những ngày sôi nổi: tập trận khao quân rồi lại tập trận khao quân. Cứ như thế, Bộ Lĩnh cùng lũ trẻ chăn trâu gắn bó với nhau như cá với nước.

Bà Đàm lo lắng vì Bộ Lĩnh quá nghịch ngợm nhưng bà cũng mừng thầm có đứa con hơn người. Các cụ bô lão truyền cho nhau: "Đứa bé này khí độ như thế tất sẽ làm nên việc lớn, bọn chúng ta nếu không về theo, ngày sau hối không kịp". Còn trẻ chăn trâu quanh vùng ngày càng mến phục và rủ nhau tìm về với Bộ Lĩnh.

(Theo lichsu.org)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản "Cậu bé cờ lau Đinh Bộ Lĩnh" thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 3. Phân tích ý nghĩa của chi tiết Đinh Bộ Lĩnh đứng trên mỏm đá cầm cờ lau chỉ huy.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Tiếp theo, một tốp khác vác cờ lau đi như rước hội.".

Câu 5. Từ câu chuyện Đinh Bộ Lĩnh cùng các bạn chăn trâu tập trận, em hãy trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần đoàn kết trong một tập thể. (Trình bày ngắn gọn trong 5 − 7 dòng)

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Cậu bé cờ lau Định Bộ Lĩnh" thuộc thể loại truyện lịch sử.

Câu 2. (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự.

Câu 3. (1,0 điểm)

Ý nghĩa của chi tiết:

− Thể hiện sự tự tin, bản lĩnh và khả năng chỉ huy của Đinh Bộ Lĩnh ngay từ khi còn nhỏ.

− Cho thấy trí tưởng tượng phong phú, sự chủ động và khả năng tổ chức, điều khiển đội quân của cậu bé.

− Gợi lên khát vọng trở thành người đứng đầu, tinh thần mạnh mẽ và tố chất của một người có tài lãnh đạo.

− Góp phần khắc hoạ hình tượng Đinh Bộ Lĩnh là cậu bé khác thường, có những phẩm chất nổi bật, báo hiệu khả năng làm nên việc lớn trong tương lai.

Câu 4. (1,0 điểm)

– Biện pháp tu từ: So sánh giữa "tốp" đứa trẻ "vác cờ lau" với "rước hội".

– Tác dụng:

+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

+ Khắc hoạ sinh động không khí vui tươi, náo nhiệt của lũ trẻ chăn trâu trong trò chơi cờ lau tập trận.

+ Qua đó làm nổi bật tài chỉ huy ngay từ khi còn nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh.

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần đoàn kết đối với tập thể. Gợi ý:

− Tạo nên sức mạnh tập thể, giúp mọi người cùng vượt qua khó khăn và hoàn thành mục tiêu chung.

− Giúp các thành viên gắn bó, yêu thương, tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau.

− Phát huy thế mạnh của mỗi cá nhân, tạo điều kiện để mọi người cùng tiến bộ và phát triển.

− Góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, tạo nên những thành công mà một cá nhân khó có thể đạt được.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng nhân vật Đinh Bộ Lĩnh trong văn bản "Cậu bé cờ lau Đinh Bộ Lĩnh".

Câu 2 (4,0 điểm). Hãy viết bài văn (khoảng 400 chữ) kể lại chuyến tham quan một di tích lịch sử gắn với các nhân vật hoặc sự kiện tiêu biểu trong lịch sử dân tộc.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Hình tượng nhân vật Định Bộ Lĩnh.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

– Ý 1) Một cậu bé nghịch ngợm nhưng trọng nghĩa khí:

+ Đinh Bộ Lĩnh được khắc hoạ là một cậu bé nghịch ngợm, bướng bỉnh, thường làm bà Đàm lo lắng, thậm chí bị hiểu lầm là "đánh chết người". Tuy nhiên, đằng sau vẻ nghịch ngợm ấy là sự gan dạ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước hành động của mình.

+ Chi tiết Bộ Lĩnh đẩy bạn xuống sông vì tức giận nhưng ngay lập tức nhảy xuống cứu cho thấy một tính cách quyết liệt nhưng không tàn nhẫn. Điều này minh chứng cho một tấm lòng nhân hậu, trọng nghĩa khí – một tố chất quan trọng của người làm đại sự, biết phân biệt giữa sự trừng phạt răn đe và lòng bao dung cứu độ.

– Ý 2) Tư chất thủ lĩnh và tài năng quân sự được bộc lộ từ rất sớm:

+ Trong trò chơi "cờ lau tập trận" với lũ trẻ con, Đinh Bộ Lĩnh không chỉ là người tham gia mà là người tổ chức, chỉ huy. Hình ảnh cậu đứng trên mỏm đá, tay cầm cờ lau làm hiệu lệnh, cho thấy tư thế hiên ngang của một vị tướng tương lai.

+ Trong cuộc đọ sức với tên đầu đàn ở sách bên, dù "nhỏ bé hơn" đối thủ, Bộ Lĩnh không hề nao núng mà dùng sự nhanh nhẹn để chiến thắng. Hành động "thúc chân vào sườn" và tiếng thét "Mau lên! Cõng chủ tướng về hang núi khao quân!" thể hiện một thần thái uy nghiêm, biết cách dùng uy lực để thu phục lòng người, biến kẻ thù thành thuộc hạ một cách tâm phục khẩu phục.

– Ý 3) Sự thừa nhận và lòng tin của mọi người đối với Đinh Bộ Lĩnh:

+ Sự mến phục của lũ trẻ ("như cá với nước") và lời tiên đoán của các bậc bô lão ("tất sẽ làm nên việc lớn") đã nâng tầm nhân vật từ một cậu bé nghịch ngợm thành một hiện tượng lịch sử.

+ Ánh mắt nhìn nhận của người đời chính là sự bảo chứng cho "chân mệnh thiên tử", cho thấy Bộ Lĩnh không chỉ có sức mạnh cá nhân mà còn có sức hút về nhân cách.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm): Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.

b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Xác định đúng yêu cầu của đề: Chuyến tham quan di tích lịch sử mà em ấn tượng nhất.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:

* Mở bài:

– Giới thiệu chuyến tham quan di tích lịch sử mà em đã tham gia (đi cùng gia đình, nhà trường hoặc bạn bè).

– Nêu tên di tích, địa điểm và ấn tượng chung của em về chuyến đi.

* Thân bài:

– Ý 1) Giới thiệu khái quát về chuyến đi:

+ Thời gian, địa điểm diễn ra chuyến tham quan.

+ Tâm trạng, sự chuẩn bị và mong đợi của em trước chuyến đi.

– Ý 2) Kể lại diễn biến chuyến tham quan:

+ Trên đường đến di tích:

++ Khung cảnh hai bên đường, thời tiết, cảnh vật.

++ Tâm trạng háo hức, vui vẻ hoặc hồi hộp của em.

+ Khi đặt chân đến di tích:

++ Ấn tượng đầu tiên về không gian, cảnh quan, kiến trúc của di tích.

++ Hoạt động tham quan, nghe giới thiệu về lịch sử hình thành và ý nghĩa của di tích.

+ Trong quá trình tham quan:

++ Tìm hiểu mối liên hệ giữa di tích với nhân vật hoặc sự kiện lịch sử: Nêu nguồn gốc, dấu mốc lịch sử gắn với di tích; vai trò, đóng góp của nhân vật hoặc ý nghĩa của sự kiện đối với dân tộc.

++ Khám phá dấu tích lịch sử: Quan sát hiện vật, bia đá, tượng đài, tranh ảnh hoặc nghe thuyết minh về những câu chuyện liên quan.

++ Nêu cảm xúc, suy nghĩ: Chia sẻ ấn tượng về nhân vật, sự kiện và giá trị lịch sử của di tích; bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước.

+ Kết thúc chuyến tham quan:

++ Kể lại hoạt động trước khi ra về và tâm trạng của em trên đường trở về.

++ Nêu một sự việc hoặc kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi.

* Kết bài:

− Khẳng định ý nghĩa và giá trị của chuyến tham quan đối với bản thân.

− Bày tỏ tình cảm, niềm tự hào, lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước.

− Nêu lời hứa hoặc hành động của bản thân trong việc học tập lịch sử, giữ gìn và phát huy giá trị của di tích lịch sử.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này