pin

Đề kiểm tra giữa học kì I - Đề số 5 (Công văn 7991)

Đọc văn bản sau:

NHỚ MÙA XUÂN BIÊN GIỚI

Năm xưa ra trận lên biên giới

Tết đến xuân về vẫn có hoa

Những giò phong lan bên bờ suối

Treo ở cửa hầm, lối vào ra.


Bánh chưng, giò chả rồi mứt kẹo

Hậu phương gửi tặng luôn kịp thời

Đài phát vẫn đủ các làn điệu

Báo thì đủ loại bao tin vui.


Vui nhất vẫn là những lá thư

"Bay lên" bất chấp cả sương mù

Những lời động viên như có cánh

Tiếp thêm nghị lực − chẳng đắn đo.


Các đoàn đại biểu dưới xuôi lên

Chớp nhoáng nhưng mà thật ấm êm

Nghe tiếng các chị, các em đến

Căn hầm nào cũng thấy vui thêm.


Chỉ súng với người luôn cảnh giác

Không để một giây bị bất ngờ

Bình yên Tổ quốc là hạnh phúc

Là đất trời trọn vẹn ước mơ!

(Nguyễn Đức Việt, Nhớ mùa xuân biên giới, Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ, số 517 + 518 + 519 (1 + 2/2026))

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Bài thơ được viết theo dòng hồi tưởng của ai?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong khổ thơ thứ hai.

Câu 4 (1,0 điểm). Theo bài thơ, vì sao những lá thư được xem là niềm vui lớn nhất đối với người lính? Từ đó, anh/ chị có suy nghĩ gì về giá trị của sự động viên, sẻ chia trong cuộc sống?

Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của văn bản, anh/ chị rút ra được những bài học gì? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ bảy chữ.

Câu 2. Bài thơ được viết theo dòng hồi tưởng của người lính đã từng chiến đấu nơi biên giới ("Năm xưa ra trận lên biên giới").

Câu 3.

− Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện ở các chi tiết: "Bánh chưng", "giò chả", "mứt kẹo".

− Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Làm cho cách diễn đạt cụ thể, sinh động và giàu sức thuyết phục.

+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh sự quan tâm chu đáo của hậu phương đối với người lính, qua đó góp phần làm nổi bật tình quân dân gắn bó, ấm áp.

Câu 4.

− Theo bài thơ, những lá thư được xem là niềm vui lớn nhất đối với người lính vì đó là những lời thăm hỏi, động viên từ hậu phương, giúp họ có thêm niềm tin và sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ ("Vui nhất vẫn là những lá thư", "Những lời động viên như có cánh/ Tiếp thêm nghị lực − chẳng đắn đo.").

− Học sinh nêu suy nghĩ về giá trị của sự động viên, sẻ chia trong cuộc sống. Gợi ý trả lời: Sự động viên, sẻ chia có giá trị to lớn lao trong cuộc sống vì giúp con người vơi đi khó khăn, tiếp thêm niềm tin, nghị lực và động lực để vượt qua thử thách, đồng thời góp phần gắn kết tình cảm giữa con người với con người.

Câu 5.

− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.

− Đáp án tham khảo:

+ Cần biết trân trọng sự hy sinh, cống hiến thầm lặng của những người lính đang ngày đêm bảo vệ Tổ quốc.

+ Luôn quan tâm, động viên và sẻ chia với những người đang gặp khó khăn, bởi sự quan tâm chân thành có thể tiếp thêm sức mạnh cho họ.

+ Có ý thức sống trách nhiệm, yêu nước và sẵn sàng đóng góp sức mình để xây dựng, bảo vệ quê hương.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích cấu tứ của tác phẩm "Nhớ mùa xuân biên giới" (Nguyễn Đức Việt).

Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1.

Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cấu tứ của bài thơ “Nhớ mùa xuân biên giới” (Nguyễn Đức Việt).

− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ cách tổ chức, triển khai mạch cảm xúc và sự phát triển của hình tượng thơ, qua đó chỉ ra ý nghĩa của cấu tứ đối với việc thể hiện chủ đề tác phẩm.

− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.

− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các hình ảnh, từ ngữ, câu thơ được trích từ bài thơ.

b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để làm rõ cấu tứ của bài thơ.

− Ý 1) Bài thơ được triển khai theo mạch hồi tưởng về những mùa xuân nơi biên giới, từ những kỉ niệm cụ thể đến những suy ngẫm về ý nghĩa của sự bình yên đất nước.

+ Câu thơ mở đầu “Năm xưa ra trận lên biên giới” xác định điểm xuất phát của dòng hồi tưởng, đưa người đọc trở về những năm tháng người lính đón Tết nơi biên cương.

+ Từ những kỉ niệm về mùa xuân, bài thơ dần mở rộng đến tình cảm hậu phương và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tạo nên sự phát triển tự nhiên trong mạch cảm xúc.

− Ý 2) Các hình ảnh được tổ chức theo trình tự, làm nổi bật sự gắn bó giữa người lính biên giới với hậu phương.

+ Hình ảnh “Những giò phong lan bên bờ suối”, những món quà Tết, làn điệu phát thanh, báo chí và đặc biệt là những lá thư lần lượt gợi lên không khí đón xuân cùng sự quan tâm, động viên từ hậu phương.

+ Hình ảnh “Các đoàn đại biểu dưới xuôi lên” tiếp tục nối dài những tình cảm ấy, khiến “Căn hầm nào cũng thấy vui thêm”. Sự liên kết giữa các hình ảnh giúp tình đồng đội, tình quân dân và tình hậu phương hiện lên gần gũi, ấm áp.

− Ý 3) Cấu tứ chuyển từ không khí mùa xuân ấm áp sang ý thức cảnh giác và khát vọng bảo vệ hoà bình.

+ Hai câu thơ “Chỉ súng với người luôn cảnh giác/ Không để một giây bị bất ngờ” tạo bước chuyển từ niềm vui đón Tết sang nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ biên cương.

+ Hai câu kết “Bình yên Tổ quốc là hạnh phúc/ Là đất trời trọn vẹn ước mơ!” khái quát ý nghĩa của những kỉ niệm được hồi tưởng, khẳng định bình yên của đất nước chính là niềm hạnh phúc và khát vọng lớn lao của người lính.

➜ Cấu tứ vận động từ hồi ức về mùa xuân biên giới, qua những tình cảm ấm áp của hậu phương, đến ý thức trách nhiệm và khát vọng hoà bình đã làm nổi bật sự gắn bó giữa tiền tuyến với hậu phương; đồng thời thể hiện tình yêu Tổ quốc và niềm trân trọng đối với những người lính bảo vệ biên cương.

Câu 2.

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng.

− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 600 chữ.

− Sử dụng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp để làm rõ trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng.

b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:

b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:

− Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng trong cuộc sống.

− Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm đối với cộng đồng; liên hệ, mở rộng vấn đề.

b2. Triển khai vấn đề nghị luận:

b2.1. Giải thích trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng:

− Trách nhiệm là ý thức và hành động của mỗi người trong việc thực hiện bổn phận, góp phần giải quyết những công việc chung và mang lại lợi ích cho người khác.

− Cộng đồng là tập hợp những người có mối liên hệ với nhau trong đời sống, cùng chia sẻ không gian sống, lợi ích và những giá trị chung.

➝ Trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng là ý thức quan tâm, sẻ chia, sẵn sàng đóng góp công sức và khả năng của bản thân để xây dựng tập thể, xã hội ngày càng tốt đẹp.

b2.2. Phân tích ý nghĩa và biểu hiện của trách nhiệm đối với cộng đồng:

− Ý 1) Thực hiện trách nhiệm với cộng đồng thể hiện tình yêu thương, sự sẻ chia và tinh thần gắn bó giữa con người với con người.

+ Trong cuộc sống, mỗi cá nhân đều có những mối liên hệ với những người xung quanh và có thể gặp khó khăn, cần được giúp đỡ vào những thời điểm nhất định. Sự quan tâm, động viên và hỗ trợ đúng lúc sẽ giúp người khác có thêm niềm tin, nghị lực để vượt qua thử thách.

+ Liên hệ: Bài thơ "Nhớ mùa xuân biên giới" của Nguyễn Đức Việt gợi nhắc những tình cảm ấm áp mà hậu phương dành cho người lính nơi biên giới qua những món quà, lá thư động viên và các đoàn đại biểu đến thăm. Những tình cảm ấy không chỉ đem lại niềm vui mà còn tiếp thêm nghị lực cho người lính hoàn thành nhiệm vụ. Qua đó, có thể thấy sự sẻ chia tuy xuất phát từ những hành động giản dị nhưng có thể tạo nên sức mạnh tinh thần lớn lao.

− Ý 2) Thực hiện trách nhiệm với cộng đồng góp phần giải quyết những vấn đề chung, xây dựng xã hội đoàn kết và phát triển.

+ Khi mỗi người biết đặt lợi ích chung bên cạnh lợi ích cá nhân, chủ động đóng góp sức lực và trí tuệ, những khó khăn của tập thể sẽ có thêm cơ hội được giải quyết. Một hành động có ích có thể khơi gợi những hành động tích cực khác, tạo nên sức mạnh từ sự chung tay của nhiều người.

+ Trách nhiệm ấy được thể hiện qua những việc làm thiết thực như giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, tham gia hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự nơi công cộng và nghiêm túc thực hiện các quy định chung. Những đóng góp dù nhỏ bé nhưng khi được duy trì và lan toả sẽ góp phần xây dựng cộng đồng văn minh, nhân ái, bền vững.

− Ý 3) Thực hiện trách nhiệm với cộng đồng giúp mỗi người hoàn thiện bản thân và nhận ra ý nghĩa của cuộc sống.

+ Quá trình quan tâm, sẻ chia và hợp tác với người khác giúp mỗi người rèn luyện lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, khả năng làm việc cùng tập thể và ý thức vượt lên trên lối sống ích kỉ.

+ Khi biết sống vì cộng đồng, con người không chỉ nhận được niềm vui từ những mối quan hệ tốt đẹp mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của bản thân qua những đóng góp có ích. Hạnh phúc vì thế không chỉ nằm ở những gì mỗi người nhận được mà còn ở những điều tốt đẹp họ có thể trao đi.

b3. Trao đổi, mở rộng:

− Ý 1) Phê phán lối sống ích kỉ, thờ ơ trước khó khăn của người khác, chỉ quan tâm đến quyền lợi cá nhân mà né tránh trách nhiệm chung. Lối sống ấy làm suy giảm sự gắn kết giữa con người, cản trở việc giải quyết những vấn đề của cộng đồng.

− Ý 2) Trách nhiệm với cộng đồng không đồng nghĩa với việc hi sinh mọi quyền lợi chính đáng của bản thân hay làm theo số đông một cách thiếu suy nghĩ. Mỗi người cần biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, lựa chọn cách đóng góp phù hợp với khả năng, điều kiện của mình và tôn trọng quyền lợi chính đáng của người khác.

− Ý 3) Trách nhiệm đối với cộng đồng cần được thể hiện bằng hành động cụ thể, tự giác và bền bỉ, không chỉ dừng lại ở lời nói hay cảm xúc nhất thời. Mỗi người có thể bắt đầu từ những việc gần gũi như quan tâm đến người thân, giúp đỡ bạn bè, có ý thức giữ gìn môi trường và tích cực tham gia các hoạt động chung. Đặc biệt, người trẻ cần chủ động phát huy tri thức, sức sáng tạo và tinh thần nhiệt huyết để đóng góp cho cộng đồng.

➞ Trách nhiệm đối với cộng đồng là biểu hiện của lối sống nhân ái, có ý thức và có ích. Khi mỗi người biết quan tâm, sẻ chia và chủ động đóng góp, cộng đồng sẽ ngày càng gắn kết, phát triển; đồng thời, mỗi cá nhân cũng tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của mình.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này