Đề kiểm tra giữa học kì I - Đề số 4 (Công văn 7991)
Đọc văn bản sau:
CỦ KHOAI NƯỚNG
Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn. Đã chớm hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói. Thường Mạnh đi học về là đi thả trâu. Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi cơm bốc khói nghi ngút.
Nhưng từ giờ đến tối còn lâu và cậu cần phải tìm được một việc gì đó trong khi con trâu đang mải miết gặm cỏ. Cậu bèn ngồi đếm từng con sáo mỏ vàng đang nhảy kiếm ăn trên cánh đồng màu đã thu hoạch. Thỉnh thoảng chúng lại nghiêng ngó nhìn cậu, ý chừng muốn dò la xem "anh bạn khổng lồ" kia có thể chơi được không. Chợt Mạnh phát hiện ra một đám mầm khoai đỏ au, mập mạp, tua tủa hướng lên trời. Kinh nghiệm đủ cho cậu biết bên dưới những chiếc mầm là củ khoai lang sót. Với bất cứ đứa trẻ trâu nào thì điều đó cũng tương đương với một kho báu. Nó bị sót lại từ trước Tết và bây giờ nó sẽ rất ngọt. Để xem, anh bạn to cỡ nào? Không ít trường hợp bên dưới chỉ là một mẩu khoai. Nước miếng đã kịp tứa khắp chân răng khi cậu tưởng tượng đến món khoai nướng. Ruột nó trong như thạch. Những giọt mật trào ra, gặp lửa tạo một thứ hương thơm chết người, nhất là khi trời lại lành lạnh thế này. Thật may là mình đem theo lửa − cậu lẩm bẩm. Sợ niềm hy vọng đi veo mất nên cậu rón rén bới lớp đất mềm lên. Khi cậu hoàn toàn tin nó là một củ khoai thì cậu thọc sâu tay vào đất, sâu nữa cho đến khi những ngón tay cậu ôm gọn củ khoai khá bự, cậu mới từ từ lôi nó lên. Chà, thật tuyệt vời. Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót. Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu.
Mạnh đã có việc để làm, mà lại là một việc làm người ta háo hức. Trong chốc lát đống cành khô bén lửa và đợi đến khi nó chỉ còn lớp than hồng rực Mạnh mới vùi củ khoai vào. Cậu ngồi im lắng nghe một sự dịch chuyển vô cùng tinh tế dưới lớp than, cùi trắng muốt đang bị sức nóng ủ cho thành mật. Từng khoảnh khắc với Mạnh lúc này trở nên vô cùng huyền diệu. Rồi có một mùi thơm cứ đậm dần, cứ quánh lại, lan toả, xoắn xuýt. Cậu nhớ lại có lần bà kể, nhờ đúng một củ khoai nướng mà ông cậu thoát chết đói và sau đó làm nên sự nghiệp. Chuyện như cổ tích nhưng lại có thật. Nào, để xem sau đây cậu sẽ làm nên công trạng gì.
Chợt cậu thấy có hai người, một lớn, một bé đang đi tới. Ông già ôm theo bọc tay nải còn cậu bé thì cứ ngoái cổ lại phía làng. Cậu nhận ra hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên. Hôm nay, chẳng có phiên chợ sao ông cháu lão cũng ra khỏi nhà nhỉ. Vài lần giáp mặt cậu bé và thấy mặt mũi nó khá sáng sủa. Bố mẹ nó chết trong một trận lũ quét nên nó chỉ trông cậy vào người ông mù loà. Mạnh lén trút ra tiếng thở dài khi ông cháu lão ăn mày đã đến rất gần. Có thể thấy rõ cánh mũi lão phập phồng như hà hít tìm thứ mùi vị gì đó. Cậu bé vẫn câm lặng, thỉnh thoảng lén nhìn Mạnh.
− Mùi gì mà thơm thế − ông cậu bé lên tiếng − Hẳn ai đang nướng khoai. Ngồi nghỉ một lát để ông xin lửa hút điếu thuốc đã cháu.
Ông lão lần túi lấy gói thuốc lào. Thằng bé giúp ông tháo khỏi lưng chiếc điếu nhỏ xíu. Mùi khoai nướng vẫn ngào ngạt và Mạnh đành ngồi chết gí, không dám động cựa. Chỉ khi ông lão nhờ, cậu mới cúi xuống thổi lửa. Chà, ông cháu lão mà ngồi dai là củ khoai cháy mất. Đã có mùi vỏ cháy. Lửa sẽ lấn dần vào cho đến khi biến củ khoai thành đen thui mới thôi. Dường như đoán được nỗi khó xử của Mạnh, ông lão bảo:
− Tôi chỉ xin lửa thôi...
Mạnh như bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm, mặt đỏ lên. Nhưng ông lão mắt loà không thể nhìn thấy còn cậu bé ý tứ nhìn đi chỗ khác.
− Thôi, chào cậu nhé. Ta đi tiếp đi cháu!
Ông lật đật đứng dậy, bám vào vai cậu bé, vội vã bước. Cậu bé lặng lẽ nhìn Mạnh như muốn xin lỗi vì đã làm khó cho cậu. Cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng, không muốn bị thương hại khiến Mạnh vội cúi gằm xuống. Ôi, giá như có ba củ khoai, chí ít cũng là hai củ. Đằng này chỉ có một... Mạnh thấy rõ tiếng chân hai ông cháu xa dần. Nhưng chính khi ấy, khi củ khoai nóng hổi, lớp vỏ răn lại như từng gợn sóng nằm phơi ra trước mắt Mạnh, thì nỗi chờ đón háo hức lúc trước cũng tiêu tan mất. Giờ đây củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn nào đó. Dù Mạnh có dối lòng rằng mình chẳng có lỗi gì sất nhưng cậu vẫn không dám chạm vào củ khoai... Hình như đã có người phải quay mặt đi vì không dám ước có được nó. Có thể ông nội cậu đã từng nhìn củ khoai nướng cho ông làm nên sự nghiệp bằng cái cách đau đớn như vậy.
Mặc dù rong trâu về từ chiều nhưng mãi tối mịt Mạnh mới vào nhà. Giờ đây mới là lúc cậu sống trọn vẹn với cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một món quà vô giá. Cậu nhắm mắt lại mường tượng giây phút cậu bé kia mở gói giấy báo ra. Nửa củ khoai khi đó sẽ khiến cậu ta liên tưởng đến phép lạ, có thể lắm chứ! Và rồi cậu thấy lâng lâng đến mức chính mình tự hỏi liệu đây có phải là giấc mơ?
(Trích Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có những ai đi đến?
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn sau: "Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót. Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu.".
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh từ khi hai ông cháu người ăn mày xuất hiện cho đến khi họ bỏ đi. Tại sao Mạnh lại cảm thấy "củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn"?
Câu 5 (1,0 điểm). Kết thúc truyện, Mạnh cảm thấy "lâng lâng", "ngây ngất" dù bụng vẫn đói. Từ cảm giác này của nhân vật, em rút ra bài học gì về mối quan hệ giữa sự sẻ chia và hạnh phúc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù loà cùng một câu bé đi đến.
Câu 3.
− Biện pháp tu từ so sánh ví "củ khoai" ("Nó") như một món "quà tặng".
− Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động, giàu sức gợi.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh niềm vui, sự háo hức của Mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá, qua đó thể hiện vẻ đẹp của những niềm vui giản dị trong cuộc sống.
Câu 4.
− Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Ban đầu (khi thấy ông lão và cậu bé đi đến): Mạnh lo lắng, căng thẳng, "lén trút ra tiếng thở dài", không dám động cựa vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai.
+ Khi ông lão xin lửa: Mạnh xấu hổ, bối rối, giống như "bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm".
+ Khi hai ông cháu rời đi: Mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã được đánh thức; sự háo hức ban đầu tiêu tan, thay vào đó là cảm giác tội lỗi.
− Mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến Mạnh có những suy nghĩ ích kỉ, hẹp hòi trước những người nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng.
Câu 5.
− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lý giải phù hợp.
− Gợi ý trả lời:
+ Hạnh phúc không đơn thuần đến từ việc sở hữu vật chất hay thoả mãn nhu cầu cá nhân, mà nó nảy nở khi ta biết chiến thắng sự ích kỷ để trao đi yêu thương.
+ Sự sẻ chia giúp con người trở nên tử tế, giàu lòng nhân ái và biết sống vì người khác.
+ Khi sẻ chia, ta không hề mất đi mà ngược lại, tâm hồn được bồi đắp bởi niềm vui "lâng lâng" của lòng nhân ái.
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm "Củ khoai nướng" (Tạ Duy Anh).
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về sự cần thiết của việc thấu hiểu và tôn trọng người khác trong cuộc sống.
Câu 1.
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm “Củ khoai nướng” (Tạ Duy Anh).
− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, khắc hoạ nhân vật, lựa chọn chi tiết, sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện.
− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.
− Bằng chứng: Kết hợp lí lẽ với các chi tiết, hình ảnh, câu văn được trích từ tác phẩm.
b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng được lí lẽ, bằng chứng để làm rõ đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.
− Ý 1) Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện giản dị nhưng giàu ý nghĩa.
+ Tình huống Mạnh tìm được củ khoai lang sót, háo hức chuẩn bị nướng thì gặp hai ông cháu ăn mày tạo nên sự giằng co giữa mong muốn tận hưởng món quà của riêng mình và sự cảm thông với người có hoàn cảnh khó khăn.
+ Tình huống được phát triển tự nhiên, tạo bước ngoặt trong nhận thức của Mạnh, giúp câu chuyện làm nổi bật ý nghĩa của lòng nhân ái và sự sẻ chia.
− Ý 2) Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật tinh tế, chú trọng diễn biến tâm lí.
+ Tâm trạng Mạnh thay đổi từ háo hức, sung sướng khi tìm được khoai đến bối rối, xấu hổ khi đối diện với hai ông cháu, thể hiện qua chi tiết “mặt đỏ lên”, “cúi gằm xuống”. Diễn biến ấy cho thấy sự thức tỉnh của lòng trắc ẩn trong cậu bé.
+ Nhân vật ông lão và cậu bé được khắc hoạ qua những chi tiết giàu sức gợi, đặc biệt là “cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng, không muốn bị thương hại”, làm nổi bật lòng tự trọng của những con người nghèo khó.
− Ý 3) Nghệ thuật lựa chọn chi tiết đặc sắc, ngôn ngữ miêu tả giàu sức gợi.
+ Hình ảnh củ khoai được miêu tả qua màu sắc, hương thơm và sức nóng, chẳng hạn “Những giọt mật trào ra, gặp lửa tạo một thứ hương thơm chết người”, khiến niềm khao khát của Mạnh hiện lên chân thực, đồng thời làm nổi bật sự đấu tranh trong lòng cậu.
+ Ngôn ngữ giản dị, kết hợp miêu tả sinh động với phân tích tâm lí tinh tế; giọng kể tự nhiên, giàu cảm xúc giúp câu chuyện đời thường trở nên sâu sắc, cảm động.
➜ Bằng tình huống truyện giàu ý nghĩa, nghệ thuật khắc hoạ tâm lí nhân vật tinh tế cùng những chi tiết giàu sức gợi, Tạ Duy Anh đã làm nổi bật sự thức tỉnh của lòng nhân ái; qua đó nhắc nhở mỗi người biết cảm thông, sẻ chia và trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.
− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sự cần thiết của việc thấu hiểu và tôn trọng người khác trong cuộc sống.
− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 600 chữ.
− Sử dụng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp để làm rõ sự cần thiết của việc thấu hiểu và tôn trọng người khác trong cuộc sống.
b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:
− Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Sự cần thiết của việc thấu hiểu và tôn trọng người khác trong cuộc sống.
− Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc thấu hiểu và tôn trọng người khác; liên hệ, mở rộng vấn đề.
b2. Triển khai vấn đề nghị luận:
b2.1. Giải thích sự thấu hiểu và tôn trọng người khác:
− Thấu hiểu là khả năng lắng nghe, quan sát, đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để nhận biết, cảm thông với suy nghĩ, cảm xúc và những khó khăn mà họ đang trải qua.
− Tôn trọng người khác là biết coi trọng phẩm giá, lòng tự trọng, quyền lợi và sự khác biệt của mỗi người; ứng xử đúng mực, không xúc phạm hay áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác.
➞ Thấu hiểu và tôn trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau: Thấu hiểu giúp con người biết cách ứng xử phù hợp, còn tôn trọng là biểu hiện cụ thể của sự thấu hiểu và thái độ trân trọng dành cho người khác.
b2.2. Phân tích sự cần thiết của việc thấu hiểu và tôn trọng người khác trong cuộc sống:
− Ý 1) Thấu hiểu và tôn trọng giúp con người biết yêu thương, sẻ chia một cách chân thành, đúng đắn.
+ Khi biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, mỗi người sẽ nhận ra những khó khăn, tổn thương và nhu cầu thực sự của họ, từ đó có cách ứng xử phù hợp thay vì vội vàng phán xét hay chỉ nhìn nhận sự việc từ góc độ cá nhân.
+ Sự giúp đỡ xuất phát từ thấu hiểu và đi cùng thái độ tôn trọng sẽ đem lại niềm vui, sự ấm áp cho người nhận mà không khiến họ cảm thấy bị thương hại hay tổn thương lòng tự trọng. Liên hệ: Trong truyện ngắn "Củ khoai nướng" của Tạ Duy Anh, nhân vật Mạnh tưởng tượng đến niềm vui của cậu bé khi nhận được nửa củ khoai. Qua đó, nhân vật nhận ra rằng sự sẻ chia không chỉ đem lại niềm vui cho người nhận mà còn khiến người cho cảm thấy hạnh phúc khi biết quan tâm đến cảm xúc và phẩm giá của người khác.
− Ý 2) Thấu hiểu và tôn trọng góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, tạo nên sự gắn kết giữa con người với con người.
+ Khi được lắng nghe, cảm thông và đối xử công bằng, mỗi người sẽ cảm thấy mình được ghi nhận, từ đó dễ mở lòng, tin tưởng và hợp tác với những người xung quanh.
+ Ngược lại, sự thiếu thấu hiểu dễ dẫn đến hiểu lầm, định kiến và những lời nói, hành động làm tổn thương người khác. Vì vậy, biết lắng nghe, tôn trọng sự khác biệt và ứng xử bằng thiện chí là nền tảng để xây dựng gia đình hạnh phúc, tình bạn bền vững và cộng đồng nhân ái.
− Ý 3) Thấu hiểu và tôn trọng giúp mỗi người hoàn thiện nhân cách; đồng thời góp phần tạo nên một xã hội văn minh, nhân văn.
+ Quá trình thấu hiểu người khác cũng giúp mỗi người nhìn lại bản thân, điều chỉnh cách suy nghĩ và hành động, biết kiềm chế sự ích kỉ, nuôi dưỡng lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm.
+ Một cộng đồng mà con người biết tôn trọng phẩm giá, quyền lợi và sự khác biệt của nhau sẽ hạn chế những hành vi miệt thị, áp đặt, phân biệt đối xử; tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng với giá trị của mình. Nhờ đó, những mối quan hệ không chỉ được duy trì bằng lợi ích mà còn được bồi đắp bởi sự chân thành và lòng tin.
b2.3. Trao đổi, mở rộng:
− Ý 1) Phê phán những người sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến cảm xúc và lợi ích của bản thân, thường xuyên phán xét người khác khi chưa hiểu rõ hoàn cảnh của họ; đồng thời phê phán cách giúp đỡ mang tính ban ơn, thương hại hoặc cố tình làm tổn thương lòng tự trọng của người nhận.
− Ý 2) Thấu hiểu không có nghĩa là đồng tình với mọi suy nghĩ, hành động của người khác; tôn trọng cũng không đồng nghĩa với việc dung túng cho cái sai hay từ bỏ chính kiến của bản thân. Mỗi người cần biết lắng nghe, nhìn nhận vấn đề khách quan, góp ý chân thành và giữ vững những nguyên tắc đúng đắn trong ứng xử.
− Ý 3) Sự thấu hiểu và tôn trọng cần được thể hiện bằng những hành động cụ thể như lắng nghe khi người khác chia sẻ, không vội vàng phán xét, tôn trọng sự khác biệt, giúp đỡ đúng lúc và giữ gìn phẩm giá của người được giúp đỡ. Mỗi người cũng cần học cách giao tiếp chân thành, đặt mình vào vị trí của người khác và cân nhắc cảm xúc của họ trước khi nói hoặc hành động.