Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra giữa học kì I - Đề số 1 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.
NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN
Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...
Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.
Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].
Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...
[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?
[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...
(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.
Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".
Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. (0,5 điểm)
Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. (1,0 điểm)
Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về:
− Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,…; phiên chợ cuối năm họp kín người.
− Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4. (1,0 điểm)
− HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
− HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5. (1,0 điểm)
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau.
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nhận của em sau khi đọc văn bản Những dặm đường xuân của Băng Sơn.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hoá dân tộc.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ghi lại cảm nhận sau khi đọc xong văn bản Những dặm đường xuân.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
c1. Cảm nhận về bức tranh ngày xuân:
– Bức tranh ngày xuân hiện lên tươi đẹp, rộn ràng, giàu sức sống.
– Con người vào những ngày này cũng hối hả chuẩn bị đón xuân: Phố xá đông vui, người qua lại tấp nập, tiếng cười nói rộn ràng.
=> Khung cảnh ngày xuân hiện lên sống động, đầy màu sắc và âm thanh, tái hiện chân thực khung cảnh ngày xuân truyền thống của người Việt.
c2. Cảm nhận về tình cảm, suy nghĩ của nhà văn trong những ngày xuân:
– Trong không khí những ngày giáp Tết, nhà văn bộc lộ nỗi chạnh lòng, bâng khuâng khi vẫn còn vương lại nơi đất khách, quê người. Những ngày giáp Tết này càng khiến nỗi nhớ quê, nhớ hương vị quê nhà thêm da diết.
– Khi nhà văn hoà mình vào “những dặm đường xuân” ở Hà Nội, được sống trong không khí rộn ràng, tấp nập của ngày Tết, nhà văn cũng cảm thấy hân hoan trước cảnh người người nhà nhà đi sắm sửa, cảnh vật như khoác lên mình những chiếc áo mới.
=> Từ cảnh xuân, nhà văn chiêm nghiệm về lẽ sống, hi vọng về một năm mới bình an, mọi điều tốt đẹp sẽ đến với mọi người.
=> Từ đây, HS thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của mình về văn bản Những dặm đường xuân: Văn bản đã tái hiện lại trong tâm tưởng của người đọc một không gian xuân tươi đẹp, đông vui, huyên náo; gieo vào lòng người những cảm xúc trong trẻo, tích cực, tốt lành, những hi vọng về một năm mới bình an, hạnh phúc,... Qua đó, văn bản còn đem đến cho bạn đọc những suy tư về việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hoá truyền thống cùng tình yêu quê hương đất nước.
Câu 2.
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 ± 100 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hoá dân tộc.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
c2. Thân bài:
* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
– Thực trạng: Có nhiều nét đẹp văn hoá, nhiều nghề truyền thống dần bị mai một trong bối cảnh xã hội hiện đại, phát triển về công nghệ, máy móc.
– Ý nghĩa: Bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những giá trị tạo nên vị thế, nét đặc sắc riêng của dân tộc, do đó thế hệ trẻ cần có ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó.
– Các biện pháp khắc phục: Các bạn trẻ cần ý thức được trách nhiệm của mình với việc bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc; cần tích cực hơn trong việc tìm tòi, gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá đó;…
– Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện. Chẳng hạn như việc: Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi nhiều bạn trẻ tích cực giữ gìn, quảng bá văn hoá thì vẫn còn một bộ phận giới trẻ thờ ơ, coi nhẹ văn hoá truyền thống của dân tộc hoặc một số bạn có lối sống thực dụng, sính ngoại, bắt chước một cách mù quáng các trào lưu mà quên đi giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
* Khẳng định lại tầm quan trọng của bản sắc văn hoá dân tộc và nhấn mạnh trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập hiện nay.
c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề được nghị luận.