Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề khảo sát kỳ thi tốt nghiệp THPT của trường THPT Thái Phiên SVIP
Đọc đoạn trích sau:
Bạn nên làm gì để định hướng tương lai cho mình? Cách tốt nhất là lập ra một bản nhiệm vụ cho bản thân. Nó cũng giống như một bức phác hoạ cuộc đời bạn vậy, nó cũng tương tự như chức năng của các thể chế của những quốc gia. Các công ty lớn như Microsoft hoặc Coca – Cola cũng có những bản nhiệm vụ như vậy.
Vậy tại sao bạn chưa lập bản nhiệm vụ của riêng mình? Những bạn trẻ khác cũng đã làm rồi đấy. Nó có thể dài hay ngắn, có thể là một bài thơ hoặc có thể là một bản nhạc, có những bạn lại chọn một câu danh ngôn làm bản nhiệm vụ cho mình, người khác lại chọn một bức tranh hay một tấm hình. Tôi đã gặp một cậu bé tên Adam Sosne, cậu ta có một bản nhiệm vụ tương tự như 7 thói quen: Tự trọng và tôn trọng mọi người xung quanh; Tử tế với mọi người; Biết đặt ra mục tiêu; Không bao giờ xao lãng mục tiêu; Luôn học hỏi; Muốn thay đổi những người xung quanh thì trước tiên phải thay đổi mình; Hành động chứ không nói suông.
Một bản nhiệm vụ cá nhân cũng giống như một cái cây cỏ rễ sâu: khi gặp mưa dông gió bão trong đời, bạn có thể nương náu dưới bóng cây này – nó sẽ giữ cho bạn vững vàng và không bị cuốn đi. Hãy hình dung xem, có thể những biến cố không ngờ sẽ đến với bạn: bạn mất việc, bạn phải dời nhà, chiến tranh xảy ra, bố mẹ li dị. Khi đó, bản nhiệm vụ cá nhân cũng như một cây cổ thụ sẽ giúp bạn vượt qua và giữ vững bản thân. Vậy ngay từ bây giờ, bạn nên đề ra bản nhiệm vụ của riêng bản thân mình.
(Trích 7 thói quen của bạn trẻ thành đạt, Sean Covey,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2020, tr. 108-110)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định luận đề của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra bằng chứng được sử dụng trong văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Một bản nhiệm vụ cá nhân cũng giống như một cái cây có rễ sâu.
Câu 4 (1,0 điểm). Trình bày mục đích của tác giả được thể hiện qua văn bản.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung hành động chứ không nói suông trong bản nhiệm vụ của cậu bé tên Adam Sosne được nhắc đến trong văn bản, anh/ chị hãy đề ra những việc cần làm khi đứng trước ngưỡng cửa trưởng thành.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Luận đề: Sự cần thiết và ý nghĩa của việc lập ra bản nhiệm vụ cá nhân để định hướng tương lai và giữ vững bản sắc trước những biến cố của cuộc đời.
Câu 2. (0,5 điểm)
Học sinh có thể chỉ ra một trong các bằng chứng sau:
– Các công ty lớn như Microsoft hoặc Coca – Cola đều có bản nhiệm vụ.
– Cậu bé Adam Sosne với bản nhiệm vụ cụ thể (Tự trọng, tử tế, đặt mục tiêu, hành động,...).
Câu 3. (1,0 điểm)
– Biện pháp tu từ: So sánh ("bản nhiệm vụ cá nhân" với "cái cây có rễ sâu").
– Hiệu quả:
+ Về diễn đạt: Làm cho khái niệm trừu tượng (bản nhiệm vụ) trở nên cụ thể, sinh động và dễ hình dung.
+ Về nội dung: Nhấn mạnh vai trò nền tảng, vững chãi của bản nhiệm vụ cá nhân. Nó là cái "gốc" giúp con người bám trụ vững vàng, không bị gục ngã hay cuốn trôi trước những "dông bão", biến cố bất ngờ trong cuộc sống.
Câu 4. (1,0 điểm)
Mục đích của tác giả qua văn bản:
– Khuyến khích và thúc đẩy bạn trẻ chủ động thiết kế lộ trình cuộc đời mình thay vì sống thụ động.
– Cung cấp một công cụ tinh thần (bản nhiệm vụ) giúp con người định vị được giá trị bản thân và giữ vững đức tin, nhân cách trước những khó khăn của thực tế.
– Truyền cảm hứng để người đọc bắt tay vào hành động ngay lập tức ("Vậy ngay từ bây giờ...").
Câu 5. (1,0 điểm)
Từ tinh thần "Hành động chứ không nói suông", khi đứng trước ngưỡng cửa trưởng thành, em cần thực hiện những việc làm cụ thể như:
– Xác định mục tiêu rõ ràng: Thay vì chỉ mơ mộng, cần viết ra những kế hoạch cụ thể về nghề nghiệp hoặc kỹ năng cần đạt được.
– Bắt tay vào thực hiện từ việc nhỏ: Ví dụ, thay vì nói "muốn giỏi ngoại ngữ", hãy bắt đầu học 10 từ vựng mỗi ngày và duy trì nó.
– Rèn luyện kỷ luật bản thân: Chấp nhận bước ra khỏi vùng an toàn, đối mặt với thử thách thay vì trì hoãn hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh.
– Học đi đôi với hành: Tích cực tham gia các hoạt động thực tế, thực tập hoặc công việc cộng đồng để tích luỹ kinh nghiệm sống thay vì chỉ tích luỹ lí thuyết suông.
Câu 1 (2,0 điểm). Anh/ chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh.
Câu 2 (4,0 điểm). Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trog hai đoạn trích sau:
Tôi nhớ năm lên lớp hai có lần đau chân không đi học được, mẹ bế tôi đặt vào một đầu thúng rồi gánh tới lớp, đầu kia là cặp sách và đứa em út của tôi mới vừa biết lật phải mang theo luôn vì để ở nhà không có ai trông. Tôi đội chiếc mũ tai bèo cũ rách của cha, mẹ che nắng cho em bằng chiếc nón mê thủng lỗi chỗ còn trên đầu mẹ chỉ buộc một tấm khăn vuông. Ngồi trong thúng tôi cứ ước con đường dài mãi ra để được xoay xoay bồng bềnh theo từng nhịp chân của mẹ, đâu biết rằng mẹ vừa sinh xong dậy mất sức lại thiếu ăn nên vừa run rẩy bước vừa cắn răng nên những cơn đau. Niềm vui lớn nhất thuở ấu thơ chúng tôi là lúc mẹ đi chợ về. Đôi quanh gánh của mẹ dường như gánh theo cả thế giới bí mật thần kỳ với bao nhiêu thức quà từ phố huyện. Hôm nào mẹ đi chợ là chị em cứ tha thẩn chơi loanh quanh đầu ngõ, thấy bóng mẹ từ đằng xa liền reo lên háo hức chạy ùa tới đón. Mẹ mỉm cười lau mồ hôi đặt gánh xuống khỏi vai, chiếc mẹt thưa đậy trên thúng được mở ra từ từ, bên dưới đó thế nào cũng có một đùm kẹo bột, chiếc bánh tráng nướng giòn hay gói bỏng ngô thơm nức. Những món quả ít ỏi được chia đều cho mấy đứa con đang đứng vây xung quanh, thòm thèm đến nỗi hai tay lấm lem đất cát chỉ kịp chùi vội vào vạt áo rồi xoè ra đợi lấy phần của mình. Thế nhưng cũng có hôm chợ ế, mẹ gánh rau đi lại gánh rau về, mở chiếc thúng ra chỉ có mớ dưa cải đọt khoai héo rũ, chị em tôi ngơ ngác nhìn nhau. Mẹ nói hôm nay bà bán kẹo đi vắng nên bữa sau mới mua được nhưng bé út không chịu liền oà lên khóc nức nở. Tôi cố lục tìm lần nữa trong thúng vẫn chẳng thấy gì nên mếu máo khóc theo. Mẹ bế hai đứa lên tay càng cố sức dỗ dành thì em khóc càng to, mồ hôi lẫn với nước mắt ướt đầm manh áo vá. Hình như trong đó có cả nước mắt đắng cay xa xót phận nghèo của mẹ mà chúng tôi vô tâm nào có biết.
(Trích Mẹ gánh con đi, Trần Thị Tú Ngọc, in trong Thương nhớ miền Trung,
NXB Thanh Niên, 2020, tr. 199-200)
Mỗi ngày của mẹ, cùng đôi quang gánh của con tôm cái tép, mẹ bước dài trong màn trời vàng chảy màu nắng, gió lộng, cùng cái nóng lún chân của dải cát bóng. Bước chân mẹ cùng đôi quang gánh chông chênh hằn lên vệt dài, mong manh kéo đến tận chân trời. Lũ anh em chúng tôi đứng nhìn dáng mẹ hút dần về phía xa, rồi reo lên ùa chạy và ra đồi cát thoả sức chơi đùa.
Ngày hai đứa em tôi lên 3 lên 4, chúng hay nằng nặc đòi theo mẹ vượt qua những đồi cát để về làng Ninh Thuỷ, nơi mẹ buôn bán. Mẹ mỉm cười rồi chiều ý. Thế là từ những lần như vậy, mẹ để mỗi đứa vào một đầu gánh, và nhọc nhằn gồng gánh hai con qua dặm dài đồi cát. Hai đứa tíu tít cười đùa, mẹ mím môi cười qua đôi mắt, biển như thương tình, thổi gió ào ạt, tấm áo lưng mẹ vẫn bền bệt mồ hôi.
Lần đó, anh em chúng tôi biết mẹ chưa tầm giờ về và kéo ra biển như mọi bận. Nhưng hôm đó mẹ bệnh, phải sớm phiên chợ về. Từ trên cao đồi cát, mẹ thấy ba anh em chúng tôi lặn ngụp nơi khúc biển vắng, mẹ tung đôi quang gánh, chạy ào theo triền cát lao về phía chúng tôi. Chúng tôi thấy mẹ té, rồi mẹ đứng lên chạy, mẹ ra sức ngăn chúng tôi, mẹ lại té lăn theo triền cát. Trận đòn đêm ấy không làm tôi đau, nhưng tôi đau vì lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mẹ té vùi trong cát.
Lũ anh em chúng tôi lớn dần lên và bước chân mẹ trên những đồi cát dường như lại tất tả hơn cùng cát nóng. Sáng sớm tinh mơ, mẹ đã trẩy đôi quang gánh vượt đồi cát ra chợ, trưa mẹ về cùng con cá con tôm, rồi mẹ lại đi. Cứ mỗi lần như vậy, chúng tôi chỉ háo hức những thứ mẹ đem về, chúng tôi nào biết đôi chân tấy đỏ, bỏng rát cùng bờ vai chai sần quang gánh mà mẹ chẳng bao giờ cho chúng tôi xem.
(Trích Mẹ và đồi cát, Tạ Tư Văn, in trong Thương nhớ miền Trung,
NXB Thanh Niên, 2020, tr. 360-361)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Suy nghĩ về sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Giải thích ngắn gọn:
+ "Thay đổi mình" là việc tự soi chiếu, sửa chữa những khiếm khuyết, hoàn thiện tư duy và hành động của chính cá nhân.
+ Đây là một tiến trình từ trong ra ngoài: Bản thân thay đổi dẫn đến cách nhìn nhận và tác động lên người khác thay đổi.
– Tầm quan trọng của việc thay đổi bản thân:
+ Sức mạnh của sự làm gương: Con người thường bị thuyết phục bởi hành động hơn là lời nói suông. Khi bạn trở nên tốt đẹp, kỷ luật và tử tế, bạn tạo ra một "tấm gương" có sức lan toả tự nhiên, khiến người khác tự nguyện thay đổi theo. (Ví dụ: Một người cha muốn con bỏ thuốc lá thì bản thân người cha phải là người đầu tiên không chạm vào thuốc).
+ Thay đổi góc nhìn: Khi ta thay đổi thái độ và tâm thế, ta sẽ nhìn nhận lỗi lầm của người khác bằng sự bao dung và thấu hiểu hơn. Đôi khi, vấn đề không nằm ở người xung quanh, mà nằm ở lăng kính tiêu cực của chính ta.
+ Quyền kiểm soát duy nhất: Chúng ta không thể ép buộc hay kiểm soát ý chí của người khác, nhưng hoàn toàn có quyền làm chủ bản thân mình. Thay đổi điều mình có thể kiểm soát là cách làm hiệu quả và thực tế nhất.
+ Tạo ra môi trường tích cực: Một cá nhân thay đổi sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền (hiệu ứng cánh bướm), làm thay đổi năng lượng của cả một tập thể.
– Bàn luận mở rộng:
+ Thay đổi mình không có nghĩa là nhu nhược hay đánh mất bản sắc, mà là sự chuyển hoá để tiến bộ hơn.
+ Phê phán những người luôn đòi hỏi thế giới phải xoay quanh mình trong khi bản thân vẫn bảo thủ, trì trệ.
=> Thay đổi bản thân là một hành trình gian nan nhưng đó là con đường duy nhất dẫn đến một cuộc sống hoà hợp và tốt đẹp hơn.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
So sánh, đánh giá chủ đề và những đặc sắc nghệ thuật trong hai đoạn trích "Mẹ gánh con đi" và "Mẹ và đồi cát".
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
* Mở bài:
– Dẫn dắt: Tình mẫu tử là đề tài vĩnh cửu của văn học. Trong dòng chảy của nỗi nhớ về miền Trung nắng gió, hình ảnh người mẹ gắn liền với đôi quang gánh trở thành biểu tượng thiêng liêng cho sự tần tảo và hi sinh.
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
+ Đoạn trích 1 từ "Mẹ gánh con đi" của Trần Thị Tú Ngọc.
+ Đoạn trích 2 từ "Mẹ và đồi cát" của Tạ Tư Văn.
– Nêu vấn đề cần nghị luận: Cả hai tác phẩm đều khắc hoạ tình yêu thương bao la và sự hi sinh thầm lặng của người mẹ thông qua hình ảnh đôi quang gánh, nhưng mỗi nhà văn lại có những cách khai thác và cảm nhận riêng biệt.
* Thân bài:
– Phân tích đoạn trích "Mẹ gánh con đi":
+ Chủ đề: Nỗi xót xa về sự tảo tần của mẹ và niềm hạnh phúc nhỏ bé của những đứa trẻ nghèo gắn liền với đôi thúng, đôi quang gánh.
+ Nội dung:
++ Hình ảnh mẹ gánh con đi học: Sự đối lập giữa cảm giác "bồng bềnh" vui sướng của con và sự "run rẩy", "cắn răng nén đau" vì kiệt sức của mẹ.
++ Đôi quang gánh là "thế giới bí mật": Mang theo quà bánh phố huyện, niềm háo hức của tuổi thơ.
++ Nỗi đau từ sự nghèo khó: Những ngày chợ ế, niềm thất vọng của lũ trẻ và giọt nước mắt "đắng cay xa xót phận nghèo" của mẹ.
+ Nghệ thuật: Ngôn ngữ giàu cảm xúc, chi tiết hiện thực đời thường (nón mê, kẹo bột, bánh tráng nướng), lối kể chuyện tâm tình, bộc lộ sự hối lỗi của người con khi nhận ra sự vô tâm của mình trước nỗi khổ của mẹ.
– Phân tích đoạn trích "Mẹ và đồi cát":
+ Chủ đề: Sự hi sinh can trường của mẹ giữa thiên nhiên khắc nghiệt (đồi cát) và nỗi đau của người con khi nhận ra những vết sẹo thời gian trên thân thể mẹ.
+ Nội dung:
++ Bối cảnh khắc nghiệt: "nắng chảy màu vàng", "nóng lún chân", "dải cát bỏng". Hình ảnh mẹ gánh con vượt cát gợi sự kiên cường.
++ Sự kiện bước ngoặt: Mẹ bệnh nhưng vẫn chạy ào trên cát khi thấy con tắm biển vắng. Chi tiết "mẹ té vùi trong cát" là điểm chạm cảm xúc mãnh liệt nhất, khiến người con đau đớn nhận ra sự mong manh của mẹ.
++ Sự thấu hiểu muộn màng: Đôi chân "tấy đỏ, bỏng rát", bờ vai "chai sần" vì quang gánh.
+ Nghệ thuật: Sử dụng hình ảnh biểu tượng (đồi cát, đôi quang gánh), biện pháp nhân hoá (biển thương tình thổi gió), tương phản giữa sự vô tư của con và sự nhọc nhằn của mẹ.
– So sánh, đánh giá về hai đoạn trích:
+ Điểm tương đồng:
++ Chủ đề: Đều tôn vinh tình mẫu tử, sự hi sinh quên mình của người mẹ miền Trung nghèo khó nhưng giàu lòng vị tha.
++ Biểu tượng: Đôi quang gánh là hình ảnh trung tâm, gánh cả cuộc đời con, gánh cả nỗi lo cơm áo.
++ Cái nhìn của người con: Đều xuất phát từ điểm nhìn của đứa con đã trưởng thành, nhìn lại quá khứ bằng sự thấu hiểu, trân trọng và cả niềm ăn hối hận vì sự vô tâm thuở bé.
+ Điểm khác biệt:
++ Đoạn 1: Nhấn mạnh vào cái "nghèo" và những thức quà quê. Nỗi đau là nỗi đau của sự thiếu thốn vật chất nhưng đầy ắp tình thương trong gian bếp, góc chợ.
++ Đoạn 2: Nhấn mạnh vào cái "khắc nghiệt" của thiên nhiên (đồi cát). Nỗi đau gắn liền với sự tàn phá của thời gian và công việc nặng nhọc lên cơ thể mẹ.
* Kết bài:
– Khẳng định giá trị: Hai đoạn trích là những thước phim chậm về tình mẹ, nhắc nhở chúng ta về giá trị của gia đình và lòng biết ơn.
– Liên hệ bản thân: Bài học về sự thấu hiểu và sẻ chia với cha mẹ khi còn có thể. Tình yêu của mẹ chính là "đôi quang gánh" vững chãi nhất đưa chúng ta đi suốt cuộc đời.