Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề khảo sát học sinh lớp 9 (lần 3) của phường Việt Yên SVIP
Đọc văn bản sau:
Mặc dù ai cũng thích được khen, nhưng không phải lời khen nào cũng khiến cho mọi người vui. Chỉ những lời khen xuất phát từ tấm lòng, đúng thực tế mới có thể gây được thiện cảm. Ngược lại, nếu lời khen không chân tình, vô căn cứ thì người được khen sẽ đánh giá không tốt về người khen, thậm chí còn cảm thấy người khen quá lẻo mép và sống không thật lòng.
Một vị Giám đốc nọ, trong buổi liên hoan công ty, do nhảy múa quả hào hứng nên cuối cùng không thể hát thành lời nữa. Ông xua tay và nói: “Không được rồi, hết sức rồi”. Không ngờ một nhân viên cấp dưới của ông lại nói: “Ngài hát hay lắm, cứ như một ca sĩ chuyên nghiệp vậy.”. Vị Giám đốc nghe thấy vậy không những không tỏ ra vui vẻ mà còn nhìn anh ta với ánh mắt rất lạ, sau đó ông lạnh lùng đáp: “Tôi biết mình thế nào mà.”. Người nhân viên cấp dưới tỏ ra vô cùng bối rối.
Do đó, khen người khác nhất định phải thật lòng, phải dùng chính tấm lòng của mình để cảm nhận ưu điểm của người đối diện và đưa ra lời khen.
(Theo Khéo ăn nói sẽ có được thiên hạ – Trác Nhã, người dịch Nguyễn Phương Thảo, NXB Văn học, 2021, tr.96-97)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề bàn luận trong văn bản trên.
Câu 2. Chỉ ra lời dẫn trực tiếp trong văn bản.
Câu 3. Phân tích vai trò của bằng chứng được sử dụng trong văn bản.
Câu 4. Trong văn bản, tác giả đã bộc lộ thái độ gì đối với vấn đề bàn luận?
Câu 5. Sau khi đọc văn bản, em rút ra bài học gì khi dành lời khen cho người khác?
Hướng dẫn giải:
Câu 1. Vấn đề được bàn luận trong văn bản: Lời khen/ Cách nói lời khen.
Câu 2.
Lời dẫn trực tiếp trong văn bản:
– “Không được rồi, hết sức rồi.”.
– “Ngài hát hay lắm, cứ như một ca sĩ chuyên nghiệp vậy.”.
– “Tôi biết mình thế nào mà.”.
Câu 3.
– Bằng chứng: Câu chuyện về cuộc liên hoan tại một công ty với tình huống giao tiếp giữa vị Giám đốc và nhân viên cấp dưới.
– Vai trò của bằng chứng: Làm tăng sức thuyết phục cho quan điểm của tác giả về tác hại của những lời khen không chân thành; giúp cho lập luận chặt chẽ, logic.
Câu 4. Thái độ của tác giả: Nghiêm túc, trách nhiệm, khách quan khi bàn luận về lời khen trong cuộc sống.
Câu 5.
Một số bài học có thể rút ra:
– Không nên dễ dãi trong việc sử dụng lời khen.
– Khi khen người khác cần có căn cứ phù hợp, khen bằng giọng điệu chân tình, thái độ trân trọng.
– Không nên khen người khác bằng những lời hoa mỹ, khách sáo, thái quá, khiến cho người được khen cảm thấy lời khen là giả tạo,...
Câu 1. (2.0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp đối với mỗi người.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
MỘT NGÀY CỦA MẸ
Đinh Tiến Hải
Ngày của mẹ
Bắt đầu từ năm giờ sáng
Khi con gà tồ cất tiếng gáy đầu tiên
Ông mặt trời phía hừng đông còn ngái ngủ
Cây bưởi vườn nhà đêm còn thức hơi sương
Ngày của mẹ
Sáng trồng ngô núi đá
Chiều trỉa (1) núi sườn thung (2)
Gió rát mặt người
Sương rơi bậu cửa (3)
Mưa trắng đồng xa...
Tất tả chợ làng
Non trưa
Nắng xế
Mẹ gom nhặt vào mình tất cả những gian lao
Ngày của mẹ
Lúc nào cũng vội vàng ồn ã
Lựa gà bắt vịt hái rau
Gói ghém cho lũ con mang về thành phố
Khi tất cả đi rồi
Ngày ngả sang chiều
Mẹ lặng lẽ một mình với nồi cá om tương.
(Theo Chiều trên sông vắng, Đinh Tiến Hải, NXB Hội Nhà văn, tr.63-64)
(1) Trỉa: Một phương thức gieo trồng đặc trưng của người dân vùng núi. Người ta dùng một chiếc gậy nhọn chọc lỗ xuống đất (thường là ở những nương đá, hốc đá), sau đó bỏ hạt giống (như ngô, đậu) vào lỗ rồi lấp đất lại.
(2) Thung: Đây là viết tắt của thung lũng – dải đất thấp giữa hai sườn núi hoặc đồi.
(3) Bậu cửa: Là thanh gỗ hoặc phiến đá nằm ngang phía dưới cùng của khung cửa ra vào. Trong kiến trúc nhà cổ hoặc nhà sàn, bậu cửa là nơi ngăn cách giữa trong nhà và ngoài sân.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng.
– Vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp đối với mỗi người.
– Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp,...
– Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
– Bằng chứng: Từ thực tế cuộc sống.
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Giải thích: Kĩ năng giao tiếp là khả năng của con người trong việc trao đổi thông tin, chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ của mình với người khác một cách hiệu quả.
b2. Bàn luận: Kĩ năng giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người/ kĩ năng giao tiếp rất quan trọng/ cần thiết. Có thể theo hướng:
– Giúp con người ngày càng hoàn thiện bản thân.
– Tạo được các mối quan hệ tốt đẹp.
– Giúp con người tự tin, có cơ hội khẳng định bản thân.
– Có thêm nhiều cơ hội để thành công.
b3. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục (VD: Trao đổi quan điểm trái chiều, mở rộng, nâng cao vấn đề,...).
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2.
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
– Vấn đề nghị luận: Nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Một ngày của mẹ.
– Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: Bài thơ Một ngày của mẹ.
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học:
– Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:
– Nội dung chủ đề: Sự tần tảo, chịu thương chịu khó không quản ngại vất và, sự hi sinh thầm lặng và tình yêu thương con sâu sắc của người mẹ. (Có thể phân tích nhan đề, hình ảnh mẹ với những công việc trong một ngày thể hiện qua các hình ảnh, chi tiết ở các khổ thơ,… Tình cảm của người con dành cho mẹ: Thấu hiểu, xót xa với cuộc đời đầy nỗi vất vả, nhọc nhằn của mẹ; trân trọng, biết ơn sự tảo tần, hy sinh, không quản khó khăn, vất vả của mę,...).
– Nghệ thuật: Thể thơ tự do; ngôn ngữ thơ chân thực, giản dị mà giàu sức gợi; giọng thơ chân thành, xót xa; biện pháp tu từ,...
Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
b3. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục (VD: Nhận xét, đánh giá giá trị của bài thơ; mở rộng, so sánh phù hợp,...).
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
– Thể hiện hiểu biết sâu sắc, thuyết phục về lí luận văn học, văn học sử.