Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề khảo sát chất lượng thi vào lớp 10 UBND Xã Quảng Chính SVIP
Đọc văn bản dưới đây:
Nếu có một bài văn ra đề rằng: Đất nước em hình gì?, em sẽ trả lời như thế nào? Có phải là: “Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau” để bày tỏ khát vọng ra khơi của đất nước mấy nghìn năm cứ mãi neo đậu? Để bày tỏ ước mơ giao hoà thế giới bao quanh địa cầu tươi đẹp này? Để gần hơn nữa với mọi quốc gia, mọi màu da trong thời kì hội nhập?
Có phải hiện hình trong em là đất nước hình bông lúa để em xót xa nhiều dáng mẹ, dáng cha một nắng hai sương nuôi em ăn học? Để em mang theo trong mình hồn xử sở khi em lớn khôn đi khắp mọi miền? Để em ơn nghĩa với bà con, với đồng bào đã góp sức lực, góp dáng hình vào trong mỗi bước em đi?
Có phải là đất nước em mang hình tia chớp để em không quên một thời đại đạn bom, một thời anh dũng. Để em không quên một xứ sở khó nhọc, quanh năm trông trời, trông đất, trông mây, trong mỗi giấc ngủ của ông cha cũng ám ảnh mưa nguồn chớp bể?
Có phải đất nước em hình người mẹ già ngồi đan nón lưng còng để nhắc em một lịch sử lâu dài cả đất nước đói nghèo trong rơm rạ? Để nhắc em Việt Nam mình còn đang ở tốp nghèo?
Có phải đất nước em hình chim câu để mơ mãi quê hương thanh bình, không có cảnh loạn lạc, không có cảnh đầu rơi máu chảy, mẹ đợi con, vợ chờ chồng trong biệt li, không hẹn ngày về? Có phải đất nước em hình chim câu cũng là để cho em mong đợi đất nước em có một ngày vỗ cánh?
Và cứ thế, trong mỗi trái tim VIỆT có một dáng hình nước VIỆT. Nên chăng mỗi lớp học phải treo một bản đồ VIỆT NAM ở nơi cao nhất, trang trọng nhất, để luôn khắc sâu trong tim mình hình chữ S này? Để nhắc nhở em chăm học, để nhắc nhở em danh dự và trách nhiệm của một công dân nước VIỆT? Bởi không phải biết Tổ quốc em hình gì mà điều quan trọng hơn em còn phải biết hoá thân vào dáng hình xứ sở:
“Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời”.
(Đoàn Công Lê Huy, Tôi muốn hỏi em: Về sau thế nào?, NXB Kim Đồng, 2018, tr.50)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Liệt kê những hình dung về dáng hình đất nước xuất hiện trong văn bản trên.
Câu 3 (0,5 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ “Có phải” được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 4 (0,5 điểm). Nhận xét về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong văn bản.
Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng tình với quan điểm của tác giả: “Nên chăng mỗi lớp học phải treo một bản đồ VIỆT NAM ở nơi cao nhất, trang trọng nhất?” không? Vì sao? (học sinh trình bày khoảng 7 – 10 dòng).
Hướng dẫn giải:
Câu 1. Luận đề của văn bản: Ý nghĩa và biểu tượng của dáng hình đất nước trong tâm khảm mỗi người Việt Nam, từ đó khơi dậy lòng tự hào và trách nhiệm đối với Tổ quốc.
Câu 2. Những hình dung về dáng hình đất nước xuất hiện trong văn bản:
– Hình một con tàu.
– Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau.
– Hình bông lúa.
– Hình tia chớp.
– Hình người mẹ già ngồi đan nón lưng còng.
– Hình chim câu.
– Hình chữ S.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ: Điệp ngữ “Có phải”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu dồn dập, tha thiết cho đoạn văn, tăng sức biểu cảm.
+ Nhấn mạnh những liên tưởng phong phú, đa dạng và sâu sắc của tác giả về vẻ đẹp, truyền thống và lịch sử của đất nước. Gợi mở sự suy ngẫm cho người đọc về hình ảnh quê hương.
+ Thể hiện tình yêu nước sâu sắc của tác giả.
Câu 4. Tình cảm của tác giả đối với đất nước:
– Tác giả dành cho đất nước tình yêu thương sâu nặng, sự trân trọng và niềm tự hào tự đáy lòng.
– Tác giả nhìn đất nước qua những hình ảnh bình dị nhưng thiêng liêng, thể hiện sự thấu hiểu về những gian lao, vất vả mà đất nước đã trải qua để từ đó nhắc nhở về ý thức trách nhiệm.
Câu 5.
– HS trả đồng tình/ không đồng tình với quan điểm của tác giả: “Nên chăng mỗi lớp học phải treo một bản đồ VIỆT NAM ở nơi cao nhất, trang trọng nhất?” và đưa ra lí giải phù hợp.
– Gợi ý lí giải đồng tình, vì:
+ Việc treo bản đồ Việt Nam ở nơi cao nhất, trang trọng nhất trong lớp học không chỉ đơn thuần là trang trí. Nó là một biểu tượng nhắc nhở học sinh về chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ.
+ Mỗi khi nhìn lên bản đồ, học sinh sẽ khắc sâu hình ảnh “dáng hình chữ S” thân thương vào tâm trí, từ đó bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
+ Đây còn là cách giáo dục trực quan hiệu quả, giúp thế hệ trẻ ý thức được trách nhiệm học tập và rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn, xứng đáng với tầm vóc thiêng liêng của Tổ quốc.
Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước.
Câu 2. (5,0 điểm) Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ sau:
CẦU VỒNG
(Nông Thị Ngọc Hoà)
Tuổi còn thơ khi chợt tắt cơn dông
Tôi nôn nao mong cầu vồng bảy sắc
Mẹ thường bảo: những người ở ác
Không sao qua nổi cầu vồng
Với cọng rạ đồng quê và lọ nước xà phòng
Tôi có được quả bóng tròn bé nhỏ
Cầu vồng của tôi sinh ra từ chiếc lọ
Có gì mà chẳng thể qua
Lớn lên rồi mới kịp nhận ra
Cầu vồng đẹp nhờ mặt trời rực rỡ
Quả bóng xà phòng dễ vỡ
Với bao điều chứa khuất ở bên trong
Cầu vồng, cầu vồng tôi chờ mong
Có chăng chỉ là ước vọng
Chỉ là trong thần thoại
Để nửa đời tôi ngộ nhận hào quang.
(In trong Thơ Việt Nam thế kỉ XX, Thơ trữ tình, Nguyễn Bùi Vợi (chủ biên), NXBGD, Hà Nội, 2008, tr.280)
– Chú thích: Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà, dân tộc Tày sinh năm 1955 tại Bắc Kạn. Các sáng tác của bà thường phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là văn hoá dân tộc Tày.
– Bài thơ “Cầu vồng” của Nông Thị Ngọc Hoà là một dòng hồi ức giàu chất trữ tình về hành trình nhận thức của con người từ những suy nghĩ hồn nhiên của tuổi thơ đến những thức tỉnh về những ảo tưởng, những giá trị đích thực của cuộc sống.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ về về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước.
c. HS trình bày được suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn văn hóa dân tộc. HS phải đưa ra ít nhất hai lí lẽ cụ thể để lí giải cho ý kiến của mình. Các lí lẽ được sắp xếp theo trình tự hợp lí, đưa ra bằng chứng thuyết phục. Sử dụng các từ ngữ có chức năng chuyển ý. Và cần đảm bảo các yêu cầu sau:
* Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề.
– Dẫn dắt: Mỗi con người đều có quê hương, đất nước – nơi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách.
– Nêu vấn đề: Mỗi cá nhân, đặc biệt là học sinh, cần ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước.
* Thân đoạn: Triển khai vấn đề.
a. Giải thích: Trách nhiệm là ý thức và hành động tự giác của mỗi người trong việc đóng góp, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
b. Bàn luận vấn đề:
– Làm gì để thể hiện trách nhiệm?
+ Ra sức học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích.
+ Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc.
+ Có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền đất nước.
+ Sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng, sống có trách nhiệm với xã hội.
+ Chấp hành tốt pháp luật, nội quy.
– Ý nghĩa:
+ Góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
+ Thể hiện lòng yêu nước chân chính.
+ Giúp bản thân trưởng thành và sống có mục đích.
(Dẫn chứng: Học sinh tích cực học tập, tham gia hoạt động tình nguyện. Các bạn trẻ tham gia bảo vệ môi trường, ủng hộ đồng bào khó khăn,...)
c. Phản đề (mở rộng): Phê phán những người thờ ơ, thiếu trách nhiệm, chỉ biết sống cho bản thân.
d. Bài học: Hiểu rõ trách nhiệm với quê hương, đất nước là nghĩa vụ của mỗi công dân, không phân biệt tuổi tác. Nhận ra rằng những việc làm nhỏ bé hằng ngày cũng góp phần xây dựng đất nước. Ý thức được vai trò của bản thân trong tương lai của quê hương.
* Kết đoạn: Khẳng định, liên hệ.
– Khẳng định lại: Trách nhiệm với quê hương, đất nước là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người.
– Liên hệ bản thân: Em sẽ cố gắng học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ Cầu vồng của tác giả Nông Thị Ngọc Hoà.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết:
– Xác định được các ý của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.
* Mở bài: Giới thiệu đôi nét về tác giả tác phẩm.
– Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà, dân tộc Tày sinh năm 1955 tại Bắc Kạn. Các sáng tác của bà thường phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là văn hoá dân tộc Tày.
– Bài thơ Cầu vồng của Nông Thị Ngọc Hoà là một dòng hồi ức giàu chất trữ tình về hành trình nhận thức của con người từ những suy nghĩ hồn nhiên của tuổi thơ đến những thức tỉnh về những ảo tưởng, những giá trị đích thực của cuộc sống,…
* Thân bài: Phân tích nội dung và nghệ thuật.
Luận điểm 1. Bài thơ khắc hoạ hành trình từ tuổi thơ hồn nhiên đến sự trưởng thành đầy chiêm nghiệm. Từ đó, nhắc nhở chúng ta trân trọng kí ức tuổi thơ và giữ vững niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
– Khổ 1: Khắc hoạ tuổi thơ hồn nhiên với niềm khao khát những điều kì diệu:
+ Tuổi thơ gắn liền với những cơn giông và sự chờ đợi cầu vồng hiện ra: “Tuổi còn thơ khi chợt tắt cơn dông/ Tôi nôn nao mong cầu vồng bảy sắc” thể hiện sự háo hức, ngây thơ trước vẻ đẹp của tự nhiên. Lời mẹ: “những người ở ác/ Không sao qua nổi cầu vồng”: Đưa vào yếu tố dân gian, gắn cầu vồng với quan niệm đạo đức. Tuổi thơ tin vào những điều kì ảo, giản dị mà trong trẻo.
+ Lời mẹ dạy: “Những người ở ác/ Không sao qua nổi cầu vồng” thể hiện các nhìn thiện ác phân minh, giáo dục con người hướng thiện ngay từ thuở nhỏ. Câu vồng khi ấy là biểu tượng của sự công bằng, là ranh giới mà chỉ người tốt mới vượt qua được.
– Khổ 2: Hình ảnh cầu vồng gắn với những trò chơi dân dã và trí tưởng tượng trẻ thơ:
+ Hình ảnh “cọng rạ đồng quê”, “lọ nước xà phòng”, “quả bóng tròn bé nhỏ”: Những vật dụng quen thuộc tạo nên “cầu vồng” riêng của tuổi thơ.
+ “Cầu vồng của tôi sinh ra từ chiếc lọ/ Có gì mà chẳng thể qua” thể hiện niềm tin đơn giản, hồn nhiên rằng mọi điều đều có thể đạt được, gợi vẻ đẹp bình dị, sáng tạo của tuổi thơ nơi làng quê.
– Khổ 3: Sự trưởng thành và nhận thức lại về bản chất của “cầu vồng”:
+ “Lớn lên rồi mới kịp nhận ra”, “Qua bóng xà phòng dễ vỡ”: Con người nhận ra vẻ đẹp đôi khi chỉ là hiện tượng thoáng qua, không bền vững.
+ Tác giả nhận ra quy luật: Có gì mà chẳng thể qua. Cuộc đời có những vẻ đẹp phù du, chóng vánh và cả những nỗi đau, thách thức rồi cũng sẽ qua.
– Khổ 4: Sự vỡ mộng và chiêm về những ước vọng đời người: “Cầu vồng... chỉ là ước vọng / Chỉ là trong thần thoại”: Phủ định những ảo tưởng đẹp đẽ. “Để nửa đời tôi ngộ nhận hào quang” thể hiện sự thức tỉnh muộn màng, nhìn lại hành trình sống, gửi gắm triết lí: Con người cần tỉnh táo trước những ảo ảnh, biết nhìn nhận thực tế cuộc sống.
Luận điểm 2: Hành trình từ tuổi thơ hồn nhiên đến sự trưởng thành đầy chiêm nghiệm được thể hiện dưới những hình thức nghệ thuật đặc sắc.
– Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt, phù hợp với dòng cảm xúc từ hồn nhiên đến suy tư.
– Giọng thơ biến chuyển: Từ trong trẻo, hồn nhiên sang trầm lắng, chiêm nghiệm.
– Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi: Cơn dông, cầu vồng, cọng rạ, lọ xà phòng,... nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng.
– Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm, mang màu sắc đời sống dân gian.
– Biện pháp tu từ:
+Ấn dụ: “cầu vồng”, “bóng xà phòng” biểu tượng cho ước mơ, ảo tưởng mong manh.
+ Liệt kê: “cọng rạ”, “lọ nước xà phòng...” tái hiện không gian tuổi thơ sinh động.
+ Điệp từ: “cầu vồng” nhấn mạnh hình tượng trung tâm và dòng suy tưởng.
+ Đối lập: Giữa tuổi thơ – trưởng thành, thực – ảo, làm nổi bật sự thức tỉnh.
=> Nghệ thuật góp phần làm nổi bật chiều sâu triết lí và hành trình nhận thức của con người trong bài thơ.
– Đánh giá, mở rộng:
* Kết bài:
+ Khẳng định lại giá trị của bài thơ.
+ Cảm nhận bản thân.
d. Diễn đạt: Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.