Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Củng cố, mở rộng - Bài 1 SVIP
I − LÍ THUYẾT
1. Truyện truyền kì
− Khái niệm:
Câu hỏi:
@210370469569@
− Đặc điểm truyện truyền kì:
+ Cốt truyện: Cốt truyện thường dựa trên những câu chuyện có sẵn trong dân gian hoặc lịch sử, sau đó được tác giả hư cấu, sắp xếp lại. Cốt truyện thường được tổ chức dựa trên chuỗi sự kiện sắp xếp theo trật tự tuyến tính hoặc nhân quả.
+ Nhân vật: Gồm con người (thường là những trí thức nghèo, những phụ nữ đức hạnh nhưng bất hạnh), thần tiên, ma quỷ, hoặc những nhân vật lịch sử được huyền thoại hoá. Nhân vật thường có số phận trắc trở, đầy bi kịch nhưng lại sở hữu những phẩm chất cao đẹp, nỗi niềm và khát vọng.
+ Không gian và thời gian: Không gian có sự giao thoa, không có ranh giới tuyệt đối giữa cõi thực và cõi ảo. Thời gian có sự kết hợp giữa thời gian lịch sử (triều đại, năm tháng cụ thể) và thời gian tâm linh/ hoang đường (cõi tiên, cõi âm − nơi mọi thứ ngưng đọng, không biến đổi).
+ Ngôn ngữ: Truyện truyền kì sử dụng nhiều điển tích, điển cố.
2. Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương
− Đặc sắc nội dung:
+ Phản ánh bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tiêu biểu là Vũ Nương: Hiền thục, thuỷ chung nhưng bị nghi oan và đẩy đến cái chết.
+ Lên án chế độ nam quyền, tư tưởng gia trưởng và thói ghen tuông mù quáng (Trương Sinh).
+ Thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ, đồng thời khẳng định vẻ đẹp phẩm chất: Đức hạnh, lòng vị tha và sự hi sinh; gửi gắm khát vọng công lí, lẽ công bằng (chi tiết giải oan, thế giới kì ảo giúp minh oan).
− Đặc sắc nghệ thuật:
+ Kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố hiện thực và kì ảo.
+ Xây dựng tình huống truyện kịch tính, bi kịch.
+ Khắc hoạ tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.
+ Sử dụng ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh và mang màu sắc cổ điển.
3. Văn bản Dế chọi
− Đặc sắc nội dung:
+ Phản ánh hiện thực xã hội phong kiến Trung Quốc với sự bóc lột, áp bức nặng nề của quan lại đối với dân thường (qua việc dâng nộp dế); lên án thói tham lam, háo danh của tầng lớp thống trị, gây khổ cực cho nhân dân.
+ Thể hiện số phận bi kịch của người dân lương thiện (nhân vật Thành) bị đẩy vào bước đường cùng.
+ Gửi gắm yếu tố nhân quả, công lí ở đời: Người hiền lành cuối cùng được đền đáp, dù mang màu sắc kì ảo.
− Đặc sắc nghệ thuật:
+ Kết hợp độc đáo yếu tố hiện thực và kì ảo (đứa con hoá dế, dế thần kì).
+ Khắc hoạ nhân vật chân thực, đặc biệt là số phận và tâm lí của người dân.
+ Xây dựng tình huống truyện li kì, hấp dẫn, giàu kịch tính.
II − THỰC HÀNH
1. Kẻ vào vở bảng hệ thống hoá kiến thức về hai văn bản đọc (Chuyện người con gái Nam Xương và Dế chọi) gồm các mục: cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, yếu tố kì ảo, chủ để và điền thông tin phù hợp vào những mục đó.
Trả lời:
Chuyện người con gái Nam Xương | Dế chọi | |
Cốt truyện | Xoay quanh cuộc đời và nỗi oan khuất của Vũ Nương. Chồng đi lính, nàng ở nhà nuôi con và chăm mẹ chồng. Khi chồng về, do nghi oan vợ thất tiết nên nàng tự tử. Sau đó, nàng được minh oan dưới cung nước nhưng không thể trở về nhân gian. | Kể về gia đình anh học trò Thành bị quan lại ép nộp dế chọi. Con trai Thành vô ý làm chết dế quý nên nhảy giếng tự tử, linh hồn hoá thành dế nhỏ chiến đấu dũng mãnh để cứu cha. Cuối cùng, gia đình được giàu sang, con trai hồi sinh. |
Nhân vật | − Vũ Nương: Trinh bạch, hiếu thảo, đảm đang nhưng số phận bi kịch. − Trương Sinh: Đa nghi, độc đoán, thiếu tin tưởng vợ. | − Thành: Chất phác, thật thà, nạn nhân của cường quyền. − Quan lại: Độc ác, sa đoạ. |
Không gian | Sự đan xen giữa không gian thực (làng Nam Xương, bến Hoàng Giang) và không gian kì ảo (cung nước của Linh Phi). | Sự đan xen giữa không gian thực (huyện Hoa Âm, tỉnh Thiểm Tây) và không gian kì bí (bức vẽ của bà đồng, sự hoá thân). |
Thời gian | Thời gian lịch sử cụ thể (triều đại nhà Hồ, cuộc chiến Chiêm Thành) kết hợp thời gian tâm linh. | Thời gian lịch sử xác thực (đời Tuyên Đức nhà Minh) kết hợp thời gian hư ảo (đứa trẻ ngủ mê mệt khi hoá thân thành dế). |
Yếu tố kì ảo | Phan Lang nằm mộng, được cứu sống dưới cung nước; Vũ Nương sống dưới cung nước; Vũ Nương hiển linh giữa dòng sông rồi biến mất. | Bức tranh tiên đoán của bà đồng; đứa con trai hoá thân thành con dế nhỏ nhưng có sức mạnh phi thường thắng cả gà. |
Chủ đề | Ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và sự thuỷ chung của người phụ nữ, đồng thời tố cáo chế độ nam quyền và chiến tranh phi nghĩa gây đau khổ cho con người. | Phê phán sự thối nát của bộ máy quan liêu phong kiến đẩy người dân vào đường cùng, đồng thời ca ngợi tình cảm gia đình và khát vọng công lí. |
2. Nêu vai trò của yếu tố kì ảo, chỉ ra mối quan hệ giữa thế giới kì ảo và thế giới hiện thực trong các văn bản đã đọc ở bài 1.
Trả lời:
* Vai trò của yếu tố kì ảo:
− Vai trò của yếu tố kì ảo trong văn bản Chuyện người con gái Nam Xương:
+ Giúp giải oan cho Vũ Nương, thể hiện khát vọng công lí của nhân dân.
+ Làm nổi bật giá trị nhân đạo, người tốt khi chịu oan khuất sẽ được minh oan và minh chứng.
+ Tăng tính li kì và hấp dẫn cho câu chuyện.
− Vai trò của yếu tố kì ảo trong văn bản Dế chọi:
+ Tạo nên sự phi thường, hấp dẫn khi đứa con hoá dế, dế thần.
+ Thể hiện quan niệm nhân quả, đền bù: Người hiền lành được hưởng phúc.
+ Góp phần phê phán xã hội: Sự phi lí khi số phận con người phụ thuộc vào một con dế.
* Mối quan hệ giữa thế giới kì ảo và thế giới hiện thực trong văn bản:
− Yếu tố kì ảo bắt nguồn từ hiện thực (oan khuất của Vũ Nương, nỗi khổ của dân nghèo).
− Thế giới kì ảo bổ sung, hoàn thiện hiện thực:
Câu hỏi:
@210370428698@
− Hai thế giới gắn bó chặt chẽ, thế giới kì ảo không tách giời mà phản ánh, lí giải và bộc lộ sâu sắc hiện thực.
3. Qua hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và Dế chọi, hãy rút ra những đặc điểm cơ bản của thể loại truyện truyền kì.
Trả lời:
Từ hai tác phẩm, học sinh rút ra những đặc điểm cơ bản của thể loại truyện truyền kì. Gợi ý:
− Sự đan xen giữa thực và ảo: Cốt truyện thường dựa trên các địa danh, nhân vật lịch sử có thật nhưng lại đưa vào những yếu tố hoang đường, kì lạ (người hoá dế, sống dưới cung nước,...).
− Thế giới nhân vật đa dạng: Có sự giao thoa giữa cõi trần và cõi tiên, giữa người thực và thần linh, ma quỷ. Nhân vật thường là người lao động hoặc trí thức lương thiện nhưng gặp số phận oan trái.
− Không gian và thời gian: Không gian dịch chuyển linh hoạt giữa trần thế và thế giới siêu nhiên (cung nước, hang động, cõi âm). Thời gian lịch sử cụ thể đan xen với thời gian hư ảo.
− Giá trị hiện thực và nhân đạo: Tác giả mượn các chi tiết kì ảo để phản ánh, phê phán những bất công của xã hội phong kiến, đồng thời gửi gắm ước mơ về sự công bằng, minh oan cho những người lương thiện.
4. Tìm đọc thêm 3 − 4 truyện truyền kì hoặc truyện hiện đại có yếu tố kì ảo, ghi chép các thông tin cơ bản về cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, đặc điểm yếu tố kì ảo, chủ đề và nêu nhận xét về nội dung, nghệ thuật của từng truyện.
Trả lời:
* Học sinh tìm đọc thêm 3 − 4 truyện truyền kì hoặc truyện hiện đại có yếu tố kì ảo. Học sinh đọc văn bản dưới đây:
NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU
(Lược dẫn phần đầu: Từ Đạt ở Khoái Châu, làm quan tại thành Đông Quan, kết thông gia với nhà quan Thiêm thư là Phùng Lập Ngôn. Con trai Phùng là Trọng Quỳ kết duyên với con gái Từ là Nhị Khanh. Nhị Khanh biệt cư xử khéo léo, được khen là người nội trợ hiền. Trọng Quỳ lớn lên, dần sinh chơi bời lêu lổng, Nhị Khanh thường vẫn can ngăn. Trong triều nhiều kẻ ghét Phùng Lập Ngôn, tiến cử vua cho ông đi dẹp giặc. Phùng Lập Ngôn để Nhị Khanh ở lại quê nhà, cùng con trai vào Nghệ An.)
Trọng Quỳ thấy Nhị Khanh không đi, có ý quyến luyến không dứt. Nhị Khanh ngăn bảo rằng:
– Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu, bề ngoài là tiến cử đến chốn hùng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào chỗ tử địa. Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm không người săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp đâu dám đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo. Mặc dầu cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê.
Sinh không đừng được, mới bày một bữa tiệc từ biệt, rồi cùng Lập Ngôn đem người nhà đi vào phương Nam. Không ngờ lòng giời khó hiểu, việc người khôn lường, cha mẹ Nhị Khanh nối nhau tạ thế. Nàng đưa tang về Khoái Châu, chôn cất cúng tế xong rồi, đến ở chung cùng với bà cô Lưu thị.
(Lược một đoạn: Bà cô Lưu thị có người cháu ngoại là quan tướng quân họ Bạch muốn lấy Nhị Khanh. Lưu thị bằng lòng, khôn khéo khuyên Nhị Khanh đồng ý, nhưng nàng một mực chối từ. Nhị Khanh nhờ người bõ già vốn là đầy tớ cũ, lặn lội vào xứ Nghệ để hỏi thăm tin tức thì gặp được Trọng Quỳ mới hay Phùng Lập Ngôn đã mất, gia sản không còn. Người bõ già đưa Trọng Quỳ về quê đoàn tụ. Trọng Quỳ vì quen phóng đãng nên qua lại cùng người lái buôn là Đỗ Tam bê tha lêu lổng. Đỗ ham Trọng Quỳ có vợ đẹp nên thường lấy lợi nhử anh. Nhị Khanh khuyên răn Trọng Quỳ cũng không được.)
Một hôm, Trọng Quỳ cùng các bè bạn họp nhau đánh tử sắc. Đỗ Tam bỏ ra trăm vạn đồng tiền để đánh và đòi Trọng Quỳ đánh bằng Nhị Khanh. Trọng Quỳ quen mùi vẫn được luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền bằng lòng cách ấy. Giấy giao kèo viết xong rồi vừa uống rượu vừa gieo quân. Trọng Quỳ gieo ba lần đều thua cả ba, sắc mặt tái mét; cử toạ cũng đều ngơ ngác buồn rầu hộ.
Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng:
– Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để luỵ đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại cũng không kịp nữa. Thôi thì bi hoan tản tụ cũng là việc thường của người ta. Nàng nên tạm về với người mới, khéo chiều chuộng hắn, rồi bất nhật tôi sẽ đem tiền đến chuộc.
Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:
– Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số giời xếp đặt, há chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẻ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ như đã đối với chàng xưa nay. Nhưng xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút.
Đỗ cả mừng, rót đầy một chén rượu xà cừ đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng:
– Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì. Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi.
Nói xong, lấy đoạn dây tơ thắt cổ mà chết.
(Lược một đoạn: Sau khi vợ chết, Trọng Quỳ hối hận vô cùng. Một hôm, đi đường xa, ngủ dưới gốc cây thì được Nhị Khanh báo mộng, hẹn gặp ở đền Trưng Vương. Trọng Quỳ đúng hẹn đến trước đền, đợi từ chiều tà đến quá nửa đêm thì Nhị Khanh xuất hiện, báo tin cho Trọng Quỳ.)
Khi nói đến việc hiện thời, Nhị Khanh chau mày:
– Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, binh cách nổi lớn, số người bị giết chóc đến chừng hơn 20 vạn, ấy là chưa kể số bị bắt cướp đi. Nếu không phải người trồng cây đức đã sâu e ngọc đá đều bị cháy cả. Bấy giờ có một vị chân nhân họ Lê, từ miền Tây Nam xuất hiện; chàng nên khuyên hai con bền chí đi theo vị ấy, thiếp dù chết cũng không nát.
Trời gần sáng, Nhị Khanh vội cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, rồi thoắt chốc thì biến đi mất.
Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.
(Trích Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ)
* Các thông tin cơ bản về văn bản Người nghĩa phụ ở Khoái Châu:
– Cốt truyện:
Câu hỏi:
@210370424152@
– Nhân vật:
+ Nhị Khanh: Tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống hiền thục, trọng nghĩa, giàu đức hi sinh; dù bị chồng đối xử tệ bạc vẫn giữ trọn đạo lí, cuối cùng chọn cái chết để bảo toàn phẩm giá.
+ Trọng Quỳ: Đại diện cho kiểu người yếu đuối, sa ngã, thiếu trách nhiệm, ham chơi, đánh mất đạo nghĩa, gây nên bi kịch cho gia đình.
=> Nhân vật được xây dựng mang tính đối lập để làm nổi bật tư tưởng ca ngợi người phụ nữ và phê phán thói xấu của con người trong xã hội.
– Không gian, thời gian:
+ Không gian: Đan xen giữa không gian thực (Khoái Châu, Nghệ An, đền Trưng Vương) và không gian kì ảo (cung tiên, cõi âm). Sự chuyển dịch không gian từ thực sang ảo giúp nâng tầm phẩm giá của Nhị Khanh, từ một phụ nữ bị hại thành một linh hồn cao khiết, linh thiêng.
+ Thời gian: Gắn liền với các mốc thời gian lịch sử xác thực (triều Hồ, năm Bính Tuất, khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Thái Tổ). Kết hợp thời gian kì ảo (đêm khuya báo mộng, sự hội ngộ ngắn ngủi giữa hai cõi) giúp giải quyết triệt để nỗi oan khuất và bù đắp bi kịch cho nhân vật.
– Yếu tố kì ảo:
+ Chi tiết kì ảo trong văn bản:
Câu hỏi:
@210370425715@
+ Tác dụng của chi tiết kì ảo:
++ Làm cho cốt truyện trở nên lung linh, kì bí, tăng sức hấp dẫn và giúp hoá giải những bế tắc của thực tại (cho phép người sống và người chết có thể đối thoại, tháo gỡ uẩn khúc).
++ Khẳng định phẩm giá cao đẹp của Nhị Khanh: Ngay cả khi đã qua đời, nàng vẫn lo lắng cho tương lai của chồng và con, vẫn giữ trọn đạo nghĩa; giúp Trọng Quỳ có cơ hội tỉnh ngộ, hối hận và bù đắp lỗi lầm bằng cách chăm sóc con cái nên người.
++ Thể hiện ước mơ về sự công bằng: Người tốt, có tiết hạnh như Nhị Khanh dù chết vẫn linh thiêng, được gần gũi các vị thần thánh (Đức Bà).
– Chủ đề:
Câu hỏi:
@210370429594@
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây