Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 0 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
chủ đề 1 di sản văn hóa phi vật thể SVIP
Nội dung này do giáo viên tự biên soạn.
CHỦ ĐỀ 1: DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ THÁI NGUYÊN
1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể.
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học thể hiện bản sắc của cộng đồng không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
- Di sản văn hóa phi vật thể gồm các loại hình tiếng nói, chữ viết, ngữ văn dân gian, nghệ thuật, trình diễn dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian.
Câu hỏi:
@205990714475@
2. Di sản văn hoá phi vật thể ở Thái Nguyên.
2.1. Loại hình di sản văn hoá phi vật thể ở Thái Nguyên.
- Di sản văn hóa phi vật thể Thái Nguyên gồm các loại hình phong phú:
+ Tiếng nói, chữ viết: lưu giữ trong nhiều tài liệu chữ Nôm Dao, Hán Nôm, văn bia, gia phả, sắc phong, cột đá, thần phả …Tiêu biểu: văn bia chùa Hà Châu (1672), Gia phả dòng họ Lưu Nhân Chú, câu đối ở Đền Đuổm,…
+ Ngữ văn dân gian: phong phú về thể loại: thần thoại, truyện thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ca dao, dân ca, tục ngữ…Tiêu biểu: truyện thuyết của người Tày về các Thần nông, giai thoại về các nhân vật lịch sử, anh hùng địa phương như Dương Tự Minh, Nùng Trí Cao,…
+ Tập quán xã hội và tín ngưỡng: gắn với sinh hoạt sản xuất, ăn, ở, cưới xin, ma chay và tín ngưỡng nông nghiệp. Tiêu biểu: lễ Cấp sắc (người Dao), lễ Then (người Tày), lễ Hết khoản (người Nùng), nghi lễ Tết nhảy (người Dao).
+ Nghệ thuật trình diễn dân gian: đa dạng: Chèo, tuồng, hát ví, hát lượn, múa Tắc Xình (người Sán Chay), khèn (người Mông), Pà Dung (người Dao), Soọng cô (người Sán Dìu)… Góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, phản ánh bản sắc tộc người.
+ Lễ hội truyền thống: mang yếu tố tín ngưỡng, văn hóa nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng kết hợp văn hóa tộc người. Tiêu biểu: lễ hội Đuổm (Phú Lương), Lồng Tồng (người Tày), Cầu mùa (người Sán Chay), Phương Độ (Phú Bình), Núi Văn – Núi Võ (Đại Từ), Lục Giáp (Phổ Yên)…
+ Nghề thủ công truyền thống: phát triển nhiều nghề: chế biến chè, thực phẩm, mộc, dệt, làm mành cọ… Tiêu biểu: chè Tân Cương (TP. Thái Nguyên), bánh chưng Bờ Đậu (Phú Lương), mành cọ làng Bằng (Định Hóa). Giá trị: phát triển kinh tế, quảng bá thương hiệu địa phương.
+ Tri thức dân gian: kinh nghiệm phong phú trong đời sống: dự báo thời tiết, sản xuất, chăm sóc sức khỏe, ẩm thực, giao tiếp. Đặc sắc: tri thức trồng – chế biến chè Tân Cương, tri thức may thêu của người Dao.
Như vậy, Di sản văn hóa phi vật thể của Thái Nguyên vô cùng đa dạng, phản ánh bản sắc của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Mông… Đây là nền tảng để giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc và phát triển du lịch – kinh tế địa phương.
về những di sản của các phường, xã ở khu vực tỉnh Bắc Cạn sau khi sát nhập.
– Lễ hội truyền thống Hằng năm, của các phường, xã tỉnh Bắc Kạn sau sát nhập có trên 100 lễ hội. Các lễ hội chủ yếu diễn ra vào mùa xuân tiêu biểu là
+ Lễ hội Lồng tồng ở các xã Ba Bể, xã Bạch Thông, xã Ngân Sơn;
+ Lễ hội Mù Là ở xã Cao Minh.
+ Lễ hội văn hoá Chợ tình Xuân Dương (xã Xuân Dương)
+ Hội Xuân ATK (xã Chợ Đồn, Xã Yên Thịnh, Yên Phong, Nghĩa Tá)
Lễ hội ở các phường, xã Bắc Kạn Kạn sau sát nhập không chỉ mang giá trị văn hoá tâm linh mà còn là dịp để giáo dục truyền thống lịch sử, ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Ngày nay, lễ hội còn là cơ hội để thúc đẩy giao lưu văn hoá, quảng bá hình ảnh quê hương, góp phần phát triển kinh tế – xã hội.
– Nghệ thuật trình diễn dân gian ở các phường, xã của tỉnh Bắc Kạn sau sát nhập là cái nôi của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc như hát Pá dung của người Dao; lượn Slương, lượn Cọi, lễ Kì Yên, hát ru của người Tày; hát Sli của người Nùng, nghệ thuật múa khèn của người Mông,… Trong đó nổi bật là hát Then của người Tày, Nùng và múa bát của người Tày.
Múa bát: Năm 2022, múa bát được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Múa bát là một điệu múa cổ của người Tày, được hình thành trong quá trình lao động, sản xuất lâu đời. Đây là nghệ thuật trình diễn dân gian quan trọng trong các dịp lễ tết, lễ hội truyền thống hàng năm.
– Tập quán xã hội và tín ngưỡng: đời sống tín ngưỡng cũng như những tập quán xã hội đặc sắc của các dân tộc ở các phường, xã của tỉnh Bắc Kạn sau sát nhập đã được định hình từ sớm. Tiêu biểu có thể kể đến Lễ cầu năm mới, cầu mùa; các tập quán và nghi lễ liên quan đến chu kì đời người như: Lễ Cấp sắc Tào, Lễ Cấp sắc Pụt (Lẩu Pụt) của người Tày; Lễ Cấp sắc của người Dao Tiền, Nghi lễ mừng sinh nhật (Hắt khoăn) của người Nùng;… Các tập quán xã hội và tín ngưỡng có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc, giúp họ có thêm sức mạnh tinh thần vượt qua khó khăn trong cuộc sống, hướng tới những điều tốt đẹp trong tương lai.
– Tiếng nói, chữ viết ngoài những nét đặc trưng tiêu biểu về phong tục tập quán, một số tộc người ở các phường, xã của tỉnh Bắc Kạn sau sát nhập còn có chữ viết riêng, trong đó có chữ Nôm của dân tộc Dao, Tày.
+ Chữ Nôm của người Dao
+ Chữ Nôm của người Tày
– Tri thức dân gian Tri thức dân gian là một trong những loại hình của di sản văn hoá, bao gồm tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Năm 2018, nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao Đỏ ở Bắc Kạn được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. 31 Nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao Đỏ thể hiện rõ nhất qua trang phục của phụ nữ, cụ thể là chiếc áo dài. Những hoạ tiết, hoa văn trên trang phục của người Dao Đỏ được thêu từ 5 màu cơ bản: đỏ, xanh, trắng, vàng, đen; trong đó chủ yếu là màu đỏ. Hoa văn trang trí chủ yếu là những hoạ tiết thường thấy trong sinh hoạt hàng ngày như cỏ cây, hoa lá, động vật,... Các hoạ tiết, hoa văn thường được thêu ở gấu áo, quần, khăn của người Dao Đỏ trên nền vải chàm với kĩ thuật vẽ bằng sáp ong rất đặc trưng của người Dao. Mỗi một hoạ tiết trên bộ trang phục truyền thống của người Dao Đỏ không chỉ thể hiện sự khéo léo của đôi bàn tay người phụ nữ mà ẩn sâu trong đó còn là những tâm tư, tình cảm, nét đẹp đời sống văn hoá tinh thần và tín ngưỡng đặc trưng cho tộc người.
– Nghề thủ công truyền thống đang duy trì và phát triển một số nghề thủ công truyền thống như:
+ Làm hương xạ
+ Nấu rượu men lá, chế biến chè Shan tuyết, đan giỏ
+ Nhuộm chàm
+ Làm miến dong
Hình ảnh: Chưng cất rượu men lá ở Bằng Phúc |
+ Nghề dệt thủ công truyền thống của người Tày ở xã Ba Bể, xã Bằng Thành, xã Nghiên Loan, xã Cao Minh đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Người Tày có hai kiểu dệt là dệt trơn và dệt có hoa văn (dệt thổ cẩm). Từ nguyên liệu chính là bông và những dụng cụ thô sơ, tự tạo, qua nhiều công đoạn như cán bông, quấn bông, se sợi và nhuộm… cùng bàn tay khéo léo, sự chăm chỉ, người phụ nữ đã tạo ra những sản phẩm dệt phong phú, đa dạng. Nghề dệt thủ công truyền thống của người Tày là nét văn hoá độc đáo và đặc sắc, giữ vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt, văn hoá truyền thống của người Tày. Ngày nay, nghề dệt thủ công truyền thống còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế gia đình, là sản phẩm hàng hoá được định hướng gắn với việc phát triển du lịch của địa phương
Câu hỏi:
@205990722433@
2.2. Vị trí phân bố di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở tỉnh Thái Nguyên.
- Di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Thái Nguyên đa dạng về loại hình phân bố ở khắp các xã, phường.
- Những di sản này có lịch sử lâu đời, mang đậm bản sắc vùng miền, được lưu truyền trong cộng đồng và được gìn giữ, phát huy đến ngày nay.
Câu hỏi:
@205990728275@
2.3. Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Thái Nguyên
- Di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Thái Nguyên là tài sản vô giá, là bộ phận cấu thành “nền tảng tinh thần” của cộng đồng các dân tộc trong tỉnh,là một bộ phận của di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam.
- Mỗi địa phương có nhiều di sản văn hóa phi vật thể với các giá trị khác nhau nhưng nhìn chung có thể thấy các di sản văn hóa phi vật thể đã góp phần lưu giữ giá trị tinh thần, thúc đẩy sự gắn kết xã hội và tôn trọng sự đa dạng văn hóa, tính sáng tạo của con người; giúp các cộng đồng, cá nhân kết nối với nhau ở cấp độ địa phương, khu vực, quốc gia, thế giới; tôn vinh quảng bá các giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học; góp phần giáo dục truyền thống địa phương, dân tộc cho thế hệ trẻ; là cơ sở sáng tạo giá trị văn hóa mới và mở mang giao lưu văn hóa quốc tế; góp phần thúc đầy phát triển kinh tế xã hội.
Câu hỏi:
@205990956727@
3. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể ở Thái Nguyên.
3.1. Cơ sở của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể.
- Di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Thái Nguyên có nhiều giá trị nên cần phải được bảo tồn và phát huy, từ đó sẽ gắn kết cộng đồng, xây dựng bản sắc địa phương, quảng bá hình ảnh để tạo nên sức mạnh nội sinh trong phát triển kinh tế - xã hội.
- Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Thái Nguyên tuy đã đạt được một số kết quả, song do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nên một số di sản đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.
- Để bảo tồn hiệu quả giá trị di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước và địa phương đã ban hành nhiều văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lí cho các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và các cá nhân thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Một số quan điểm của tỉnh Thái Nguyên.
3.3. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại Thái Nguyên.
- Cơ chế chính sách:
+ Nghiên cứu xây dựng, ban hành các văn bản điều hành, chỉ đạo,hướng dẫn trong lĩnh vực di sản văn hóa kịp thời, phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều kiện của địa phương.
+ Thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật về phong tặng danh hiệu, chính sách chế độ, cho Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân ưu tú ...
- Về quản lý Nhà nước: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đổi mới nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thanh kiểm tra trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Thái Nguyên.
- Về nguồn lực:
+ Ưu tiên cho công tác quản lý, phục dựng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt các di sản đứng trước uy cơ bị mai một.
+ Khuyến khích các nghệ nhân truyền bá các di sản văn hóa phi vật thể cho các thế hệ sau.
- Về phát huy giá trị di sản gắn với phát triển bền vững: Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên di sản để phục cho phát triển kinh tế - văn hóa của tỉnh.
- Về sử dụng khoa học, công nghệ:
+ Tăng cường ứng dụng các thành tự Khoa học – kĩ thuật để đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp phù hợp trong nghiên cứ, sưu tầm, kiểm kê, lập hồ sơ khoa học.....
+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứ khoa học.
+ Xuất bản tài liệu số.
- Về phục hưng di sản văn hóa phi vật thể:
+ Thực hiện đề án, chương trình, kế oạch sưu tầm, phục dựng di sản văn hóa phi vật thể gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống và phát triển du lịch cộng đồng.
+ Tổ chức mô hình, mẫu hình làng, bản như kiến trúc nhà sàn, tập quán lao động....
- Về giáo dục di sản:
+ Triển khai các hoạt động giáo dục di sản trong các giờ học chính khóa, ngoài khóa tại các nhà trường.
+ Đa dạng hóa nội dung và hình thức tuyên truyền.
Câu hỏi:
@205990963828@
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây