Phần 1

(8 câu)
Câu 1
Tự luận

Trong lịch sử và trong cuộc sống đời thường, có những thất bại khiến cho người đời không chỉ cảm thấy buồn thương, tiếc nuối mà còn nể phục, kính trọng. Hãy kể về một thất bại như thế và cho biết điều gì gây ấn tượng với bạn.

Câu 2

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Câu 1:

Xác định thể thơ của bài thơ "Cảm hoài".

Tự do.
Thất ngôn bát cú.
Song thất lục bát.
Lục bát.
Câu 2:

Xác định nhân vật trữ tình của bài thơ "Cảm hoài".

Một người anh hùng lỡ vận, dù tuổi đã già nhưng vẫn ôm ấp hoài bão cứu nước và khôi phục lại cơ đồ.
Một người lính cũ, đang bồi hồi nhớ về những kỉ niệm chiến đấu hào hùng cùng đồng đội trong thời gian đã qua.
Một bậc hiền triết, quyết định rời bỏ quan trường để tìm lại sự thanh thản cho tâm hồn nơi chốn thôn quê vắng.
Một vị tướng trẻ tuổi, mang trong mình khát khao ra trận để lập công danh và mang lại vinh quang cho tổ quốc.
Câu 3

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Câu 1:

Hình ảnh nào trong bốn câu thơ đầu đã gợi ra được hoàn cảnh − tình thế của nhân vật trữ tình?

"Thời lai đồ điếu thành công dị".
"Vô cùng thiên địa nhập hàm ca".
"Thế sự du du nại lão hà".
"Vận khứ anh hùng ẩm hận đa".
Câu 2:

Hoàn cảnh − tình thế đó có đặc điểm gì?

Sự cân bằng giữa trách nhiệm đối với đất nước với cuộc sống riêng tư của con người.
Sự đối lập giữa nhiệm vụ lớn lao, khó khăn kéo dài với giới hạn thời gian và sức lực của con người.
Sự thống nhất giữa ý chí lập công danh với cơ hội và thời thế đang rộng mở phía trước.
Sự hài hoà giữa khát vọng cá nhân mạnh mẽ với điều kiện thuận lợi của hoàn cảnh thực tại.
Câu 4

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Nhân vật trữ tình có những cảm xúc, suy nghĩ gì khi đối diện với hoàn cảnh − tình thế đó?

Đau xót, bất lực trước thời cuộc nhưng vẫn nuôi dưỡng khát vọng lập công và trả thù nước.
Lạc quan, tin tưởng tuyệt đối vào tương lai và không còn bận tâm đến khó khăn trước mắt.
Thanh thản, buông bỏ mọi trách nhiệm và tìm cách sống ẩn dật để tránh xa thời cuộc.
Thờ ơ, chấp nhận số phận và không còn mong muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại.
Câu 5

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Câu 1:

Trong hai câu luận, tác giả đã sử dụng những biểu tượng quen thuộc của thơ trung đại để bày tỏ nỗi lòng. Hãy giải thích ý nghĩa của một số biểu tượng ("xoay trục đất", "rửa binh khí", "kéo sông Ngân",...).

Thể hiện niềm vui trước chiến thắng đã đạt được và khát vọng tiếp tục mở rộng quyền lực cá nhân.
Gợi lên ước mơ chinh phục thiên nhiên kì vĩ, khẳng định sức mạnh con người trước vũ trụ rộng lớn.
Diễn tả mong muốn sống hoà hợp với thiên nhiên, rời xa chiến tranh để tìm kiếm cuộc sống yên bình.
Thể hiện khát vọng lớn lao muốn xoay chuyển thời cuộc, dẹp loạn chiến tranh và lập lại trật tự cho đất nước.
Câu 2:
Tự luận

Nêu cảm nhận về nỗi lòng của nhân vật trữ tình.

Câu 6
Tự luận

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Phân tích ý nghĩa của hình ảnh người tráng sĩ mài gươm trong hai câu kết.

Câu 7
Tự luận

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Nêu một số biểu hiện của phong cách cổ điển trong bài thơ.

Câu 8
Tự luận

CẢM HOÀI

(NỖI LÒNG)

Đặng Dung

Phiên âm:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mà ta đã già, biết làm thế nào?

Trời đất không cùng, thu cả vào cuộc say ca.

Gặp thời, người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ thành công,

Lỡ vận, những bậc anh hùng cũng đành nuốt hận.

Giúp chúa, những muốn xoay trục đất,

Rửa binh khí, tiếc không có lối kéo sông Ngân xuống.

Thù nước chưa trả được, mà đầu đã bạc,

Bao phen mài gươm Long Tuyền dưới trăng.

Dịch thơ:

Thế sự ngổn ngang đã vội già,

Đất trời bất tận cuộc say ca.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

Quốc thù chưa trả đầu sao bạc,

Bao độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Nguyễn Khắc Phi dịch

(Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 148)

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một biểu tượng mà bạn cho là đặc sắc trong bài thơ "Cảm hoài".