Bài học cùng chủ đề
- Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần 1)
- Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần 1)
- Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần 2)
- Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần 2)
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam (Phần 2) SVIP
2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam
a) Nguyên tắc pháp chế
* Biểu hiện:
- Xét xử hình sự đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
- Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự.
- Chỉ được kết tội về tội danh cụ thể đã được quy định trong Bộ luật Hình sự, chỉ được tuyên hình phạt trong khung hình phạt mà Bộ luật Hình sự quy định.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) quy định:
Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
* Ví dụ:
Anh A (25 tuổi) vì muốn có tiền tiêu nên đã trộm chiếc xe máy trị giá 35 triệu đồng của anh B rồi mang đi bán. Cơ quan công an điều tra xác định anh A đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), hành vi này cấu thành tội trộm cắp tài sản.
→ Anh A bị truy cứu trách nhiệm hình sự và có thể bị áp dụng hình phạt theo khung hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Qua ví dụ trên cho thấy: Việc xử lí anh A không dựa vào ý kiến cá nhân mà phải căn cứ vào quy định của pháp luật; chỉ khi hành vi được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì người thực hiện mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong pháp luật hình sự.
b) Nguyên tắc bình đẳng
* Biểu hiện:
- Khi xét xử bất cứ một tội danh nào đều không phân biệt đối xử, không quy định những quyền, đặc lợi cho tầng lớp nhân dân nào trong xã hội vì địa vị xã hội, vì tình trạng tài sản của họ.
- Mọi người phạm tội như nhau đều bị xử lí như nhau, việc áp dụng hình phạt chỉ căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hiến pháp năm 2013 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:
1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
* Ví dụ:
Ông A là giám đốc một doanh nghiệp, anh B là công nhân. Trong một lần đi ăn uống cùng nhau, ông A và anh B đã cùng thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 20 triệu đồng. Sau khi bị cơ quan công an phát hiện, hành vi của cả hai được xác định đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
→ Dù ông A có địa vị xã hội cao hơn, còn anh B là công nhân, cả hai vẫn bị xử lí theo quy định của pháp luật như nhau, không ai được ưu tiên hay miễn trách nhiệm hình sự vì nghề nghiệp, địa vị xã hội. Đây là biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng.
Câu hỏi:
@210427332968@
c) Nguyên tắc dân chủ
* Biểu hiện:
- Luật hình sự bảo vệ các quyền dân chủ của công dân trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, kiên quyết xử lí các hành vi xâm phạm những quyền dân chủ của công dân.
- Luật hình sự bảo đảm cho nhân dân lao động tự mình hay thông qua các tổ chức xã hội tham gia vào xây dựng luật hình sự, giám sát việc áp dụng Bộ luật Hình sự, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Hiến pháp năm 2013 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:
Điều 30 (trích)
Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) quy định:
Điều 4. Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (trích)
3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
* Ví dụ:
Anh A phát hiện ông B có hành vi làm giả giấy tờ để chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã đến cơ quan công an trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận thông tin, cơ quan điều tra tiến hành xác minh và khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật.
→ Việc anh A được quyền trình báo hành vi phạm tội cho cơ quan có thẩm quyền thể hiện nguyên tắc dân chủ.
d) Nguyên tắc nhân đạo
* Ý nghĩa của nguyên tắc nhân đạo:
- Tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo, làm lại cuộc đời và có cơ hội để sớm hoà nhập vào cộng đồng.
- Hình phạt trong pháp luật hình sự không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
* Biểu hiện:
- Trong xử lí người phạm tội:
+ Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.
+ Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.
+ Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật Hình sự quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện.
+ Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xoá án tích.
- Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên:
+ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (khoản 2 Điều 40 Bộ luật Hình sự).
- Đối với người chưa thành niên:
+ Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội (khoản 2 Điều 5 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024).
* Ví dụ:
Anh A (19 tuổi) thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người khác với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Theo quy định của Bộ luật Hình sự, hành vi của anh A có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và xét xử, anh A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, Tòa án quyết định tuyên phạt anh A 2 cải tạo không giam giữ 03 năm thay vì áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn.
→ Việc Tòa án xem xét các yếu tố tích cực của người phạm tội để lựa chọn mức hình phạt phù hợp thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự.
Câu hỏi:
@210427370737@
e) Nguyên tắc hành vi
* Biểu hiện: Luật hình sự truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của họ khi hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu của tội phạm cụ thể được quy phạm pháp luật hình sự quy định.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) quy định:
Điều 8. Khái niệm tội phạm (trích)
1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
* Ví dụ:
Anh A và anh B là hàng xóm, do có mâu thuẫn trong việc tranh chấp lối đi chung nên xảy ra cãi vã. Bực tức, anh A nói với mọi người trong xóm là sẽ tìm anh B để đánh. Mọi người trong xóm lo sợ sẽ xảy ra chuyện lớn nên đã báo cho cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn. Sau đó, cơ quan chức năng xác minh và nhận thấy anh A chỉ mới có ý định đánh, chưa tìm gặp anh B, chưa có hành vi đánh người hoặc gây thương tích.
→ Anh A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì chưa thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Đây là biểu hiện của nguyên tắc hành vi.
g) Nguyên tắc có lỗi
* Biểu hiện:
- Một người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người đó có lỗi.
- Những hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng người thực hiện hành vi đó không có lỗi (vì những lí do như: họ bị mất năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi vì mắc bệnh tâm thần hoặc họ ở trong tình trạng bất khả kháng) thì không bị coi là tội phạm và chủ thể thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.
* Phân loại lỗi:
Loại lỗi | Biểu hiện | Ví dụ | |
Lỗi cố ý phạm tội | Lỗi cố ý trực tiếp | Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. | Do có mâu thuẫn, anh A dùng dao đâm anh B với mục đích tước đoạt tính mạng của anh B. Anh A biết hành vi dùng dao đâm vào vùng nguy hiểm có thể làm chết người nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra. |
Lỗi cố ý gián tiếp | Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. | Trong lúc đánh nhau, anh A dùng gậy đánh liên tiếp vào người anh B. Anh A biết việc đánh mạnh có thể làm anh B bị thương nặng, thậm chí tử vong nhưng vẫn thực hiện vì muốn trả thù, mặc cho hậu quả xảy ra. | |
Lỗi vô ý phạm tội | Vô ý do quá tự tin | Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. | Anh A điều khiển xe ô tô chạy với tốc độ cao trên đường đông người. Anh A biết việc này có thể gây tai nạn nhưng cho rằng mình có kinh nghiệm lái xe nên chắc chắn sẽ kiểm soát được. Tuy nhiên, anh A gây tai nạn làm người khác bị thương. |
Vô ý do cẩu thả | Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. | Anh A sau khi sửa điện tại nhà đã không kiểm tra, để dây điện bị hở ngoài sân. Anh A không nghĩ rằng có thể gây nguy hiểm, nhưng sau đó một người đi qua bị điện giật dẫn đến tử vong. | |
Câu hỏi:
@210427479755@
h) Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự
* Biểu hiện:
– Pháp luật hình sự căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội làm cơ sở phân loại tội phạm, xác định hình phạt và cụ thể hoá hình phạt trong từng trường hợp.
– Phân loại tội phạm thành các nhóm tội khác nhau để có các quy định khác nhau về trách nhiệm hình sự.
– Đa dạng hoá hệ thống hình phạt.
– Phân hoá chế tài của mỗi tội thành nhiều khung hình phạt khác nhau,…
– Chi tiết hoá các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 51, 52 Bộ luật Hình sự).
– Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó (Điều 58 Bộ luật Hình sự).
* Ví dụ:
A và B cùng bàn bạc để chiếm đoạt tài sản của ông C. A là người trực tiếp đột nhập vào nhà ông C và lấy đi chiếc xe máy trị giá 50 triệu đồng. B không trực tiếp lấy tài sản nhưng là người chuẩn bị công cụ, theo dõi thời gian sinh hoạt của gia đình ông C và chỉ dẫn cho A thực hiện hành vi.
Sau khi vụ việc được phát hiện, Tòa án xác định:
- A là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn.
- B là người giúp sức, vai trò ít nguy hiểm hơn nên được xem xét áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn A.
→ Việc A và B cùng tham gia một vụ phạm tội nhưng phải chịu các mức hình phạt khác nhau thể hiện nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự.
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây