Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu hỏi :
Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай
Trả lời :
Đọc chó về nhà
P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!
sai rồi phải là
ĐỌC LÀ CON CHÓ
đó là tiếng MÔNG CỔ
Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.
Dịch ra tiếng việt:
Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.
Dịch ra tiếng anh:
What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.
1. tất cả các tháng có 28 ngày
2. mày chết rồi à ,.....................
3. chọn phòng thứ 3 là an toàn
1.Tất cả các tháng có 28 ngày
2.Mày chết rồi à ......................
3.Ba = Bố , Bố . n Bốn
4. Chọn phòng số 3 an toàn vì con sư tử kia chết rồi
Câu 1 : Tự sự
Câu 2 : Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. ... Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.
Câu 3 : - Câu kinh đó ý nói: khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ những thế hệ sau này. Những điều tốt đẹp ấy sẽ như một hạt giống tốt tươi được lan xa, lan rộng.
TL
BA=BỐ
=:> ba thằng Mỹ đen và ba thằng Mỹ trắng =BỐ THK MỸ DA ĐEN VÀ BỐ THẰNG MĨ DA TRẮNG
=>TRÊN THUYỀN CÓ 2 NGƯỜI NÊN KO CHÌM
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Câu 1: Đặc điểm thi pháp có trong câu tục ngữ sau:
Tục ngữ là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra một chân lí phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lí, phong tục tập quán của nhân dân, tục ngữ do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội ...
* Câu: Cá mè đè cá chép.
- Từ ngữ, vần và nhịp:
+ Vần: vần liền nối hai vế với nhau: mè – đè
+ Nhịp: 2/3
- Thủ pháp nghệ thuật: nhân hóa
- Giá trị câu tục ngữ: Câu tục ngữ cho ta thấy cá lớn ăn hiếp cá bé.
* Câu: Người ta là hoa đất.
- Từ ngữ, vần và nhịp:
+ Vần: vần liền nối hai vế với nhau: mè – đè
+ Nhịp: 2/3
- Thủ pháp ngệ thuật: ẩn dụ
- Giá trị câu tục ngữ: Câu tục ngữ này cho thấy mọi tinh hoa, vẻ đẹp đều hội tụ vào con người. Cần có sự trân trọng về giá trị con người. Đó không chỉ là một lời ca ngợi mà còn là một sự khẳng định, một luận điểm đúng đắn sôi nổi thu hút nhiều suy nghĩ của những người xung quanh.
Câu 2: Phân tích truyện Cây Khế dưới góc nhìn thi pháp
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam quả thật là rất phong phú. Mỗi câu chuyện lại mang đến cho người đọc những bài học sâu sắc và có giáo dục rất lớn đối với thế hệ học sinh. Cây khế là một trong những câu chuyện như vậy.
Truyện “Cây khế” là một câu chuyện cổ tích thần kỳ trong nhóm Thần kỳ- loài vật- sinh hoạt và có dấu ấn rất rõ nét đối với người đọc. Ta thấy tác phẩm này với tư cách thần kỳ và lựa chọn những thi pháp nổi trội nhất của nó, chúng ta dễ dàng tiếp cận trước hết với 3 yếu tố cơ bản của một tác phẩm truyện: Cốt truyện/ kết cấu – nhân vật – tình tiết. Bên cạnh đó chúng ta có thể xem xét thêm về các yếu tố thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ....trong câu truyện đều ẩn chứa trong những câu chuyện ly kỳ ấy lại là những bài học, những ý nghĩa sâu xa về cách đối xử giữa con người với con người. Truyện “Cây khế” về thi pháp kết cấu của câu chuyện được xây dựng theo trình tự nhân quả (hay trình tự thời gian) các sự việc liên tiếp xuất hiện theo trình tự trước sau. Người kể chuyện là người đứng bên ngoài chuyện trên nguyên tắc biết hết mọi điều về câu chuyện và thực hiện hành vi kể lại. Kết cấu truyện phụ thuộc vào cốt truyện và đồng nhất với cốt truyện. Điểm nổi bật của thi pháp cốt truyện trong truyện Cây Khế là thi pháp nhân vật. Ở đây các tác giả dân gian đã xây dựng các nhân vật theo loại nhân vật chức năng. Những tính cách của các nhân vật này là biểu hiện của các nguyên lý thế giới. Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão, thiện thắng ác...Tính chất chức năng của nhân vật biểu hiện ở chỗ nó xây dựng lên để thực hiện chức năng của mình, ngoài ra không làm gì khác.
Nhân vật chính trong câu chuyện là hai anh em, cây khế và con chim phượng hoàng. Sinh ra trong một gia đình không quá nghèo khó nhưng vợ chồngngười em trong câu chuyện chỉ được anh trai mình chia cho một mảnh đất nhỏ dủ để dựng một túp lều với cây khế ở trước nhà. Cây khế đó cũng là tài sản duy nhất mà hai vợ chồng người em có được. Tình huống truyện đã lột tả được bản tính tham lam, keo kiệt và thiếu tình thương của vợ chồng người anh trai với em ruột của mình. Lấy hết toàn bộ gia tài của cha mẹ để lại, chia cho em mảnh đất nhỏ với cây khế làm vốn sinh nhai, thử hỏi có người anh nào lại cạn tình đến vậy ?
Vợ chồng người em hiền lành chất phác, tuy chỉ được chia cho mảnh đất đủ để dựng túp lều nhỏ nhưng vẫn không oán than nửa lời, ngược lại họ chăm chỉ đi làm thuê cấy mướn kiếm song và chăm sóc cho cây khế- tài sản duy nhất mà họ có. Đức tính hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khosnayf của hai vợ chồng quả thật là đáng quý và đáng học hỏi.
Ông trời đã không phụ lòng người, quả không sai đến mùa quả chin, cây khế trước nhà sai trĩu quả, như là thành quả cho công laocuar hai vợ chồng đã chăm chỉ sớm hôm. Thế nhưng, bỗng đâu một con đại bang to lớn từ đâu bay đến , xà xuống cây ăn lấy ăn để. Hai vợ chồng lo sợ và bất lực chỉ biết cầu xin chim đừng ăn nữa. Nhưng con chim đại bàng kia vẫn không ngừng ăn, trước khi bay đi chi tiết ly kỳ đã xảy ra. Đại bàng biết nói “Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, đem đi mà đựng”. Lời nói của chim tưởng đâu là bang quơ nhưng người em tin là thật và đã thức đêm chuẩn bị chiếc túi ba gang như lời chim nói. Sáng hôm sau, con chim đến chở người em ra đảo, một hòn đảo rất nhiều vàng. Tác giả dân gian xây dựng tình huống truyện để người em nhận được món quà vô cùng gia strij, nhưng đó cũng là những gì mà vợ chồng người em xứng đáng nhận được. đó cũng là lời khẳng định cho một giá trị nhân văn rằng: người tốt nhất định sẽ được báo đáp và ở hiền chắc chắn sẽ gặp lành.
Câu chuyện chưa dừng lại ở đó, vợ chồng người anh khi thấy em mình đang nghèo rớt bỗng nhiên nay lại mua đất làm nhà, rồi mua ruộng làm ăn thì thấy làm ngạc nhiên và lân la hỏi dò. Vợ chồng người em thật thà kể lại cho người anh nghe. . Khi thấy gia đình người em giàu có vợ chồng người anh không dừng lại sự tham lam đố kị. Sự quỷ quyệt của người anh bộc lộ theo từng cấp độ tình huống truyện. Khi thì không cho người em bất cứ thứ gì quý giá, nay nghe tin em được chim thần trả ơn thì lại muốn chiếm lấy “ Cây khế tạo vàng” Nó thể rõ hơn khi người anh đã đổi cả gia tài của mình lấy mảnh đất của người em. Người anh, bản tính tham lam không bao giờ thay đổi, người anh cũng muốn được giàu có như thế nên đã xin chim thần cho đi theo, nhưng vì lòng tham vô đáy, không bao giờ là đủ thay vì may tíu ba gang anh ta đã may túi tới mười hai gang, ra tới đảo đã bị vàng làm cho mờ mắt nhét vàng vào đầy người, khệ nệ leo lên lung chim thần nhưng cuối cùng đã bị rơi xuống biển. Hậu quả mà người anh nhận phải đều là do người chứ có phải tại chim đâu, mà chim đã cảnh báo trước rồi nhưng người anh tham lam đã không chịu nghe theo lời chim thần.
Câu chuyện đã dẫn dụ người đọc hòa vào thế giới của những phép màu sảng khoái ly kỳ. Yếu tố kỳ ảo như một “nhân vật” đồng hành suốt truyện với các sắc thái biểu hiện trực tiếp hoặc ẩn thân. Cốt truyện xây dựng trên xung đột thiện và ác và quan niệm về lẽ sống công bằng của con người trong cuộc sống chung ở cuộc đời.. Truyện Cây khế bắt đầu sự hiền lành, lương thiện, chăm chỉ làm việc của người em nhưng khi cha mẹ mất, anh hai lấy vợ chỉ chia cho em một mảnh ruộng nhỏ có túp lều trên mảnh đất đó chỉ có một cây khế. Và để chống lại cái ác, “cái thiện’ lên tiếng cùng với sự trợ lực của của yếu tố thần kỳ là chim Phượng hoàng đã đưa người em trai đi lấy vàng và trở về an toàn có cuộc sống hạnh phúc. Con chim ‘thần’ trong truyện của “Cây khế” là một con có tình có nghĩa, biết giữ lời hứa. Chiếc túi ba gang mà chim dặn người em mang đi ẩn chứa một lời nhắn nhủ kín đáo: phải biết sống cho đúng đạo lý và không được để lòng tham che mờ mắt.
Như vậy nhờ thi pháp văn học mà qua cốt truyện Cây khế dân gian muốn nhắc nhở chúng ta, lòng tham làm ta đánh mất đi chính bản thân mình, khiến con người ta trở nên thấp hèn, xấu xa. Và hãy luôn nhớ câu tục ngữ “ở hiền gặp lành” của ông cha ta, làm việc thiện thì sẽ ắt gặp nhiều điều may mắn và tốt đẹp. Câu chuyện cây khế là câu chuyện rất hay, một câu chuyện về bài học về đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở hiền gặp lành đối với tất cả mọi người. Đặc biệt là phải giáo dục trẻ em ngay từ khi còn nhỏ.
Kết thúc câu chuyện thật thú vị. Đáng đời kẻ tham lam, phải mất mạng chỉ vì quá tham vàng. Nếu anh ta chỉ may chiếc túi ba gang thì đâu đến nỗi phải bỏ mạng. Thế nhưng tâm tính con người đâu dễ gì thay đổi. Đó là cái giá mà người anh phải trả sau những già đã làm với người em và trả giá cho bản tính tham lam của mình.
Cây khế với một kết thúc có hậu dành cho người chính nghĩa, chăm chỉ lương thiện và kẻ tham lam xảo quyệt đã phải lãnh hâu quả. Đó là bài học về cách làm người mà thế hệ cha ông gửi gắm qua từng câu chữ. Hãy cứ chăm chỉ lương thiện, sống đúng với những giá trị rồi sẽ có ngày thu được quả ngọt, còn những kẻ chỉ biết đến bản thân mình, gian manh tham lam thì cuối cùng cũng mất tất cả và phải chịu quả báo.
Còn người anh vì tham lam khi được chim thần đưa đi lấy vàng đã thể hiện rõ sự tham lam từ lúc may túi mười hai gang, chưa dừng lại ở đó còn nhét đầy vàng vào khắp người nên khi đến giữa biển gặp gió to, song lớn, nặng quá chim không thể chống đỡ nổi nên bị rơi xuống biển chết là một kết thúc xứng đáng.
Với H0=2μCi𝐻0=2𝜇Ci, T=15gi𝑇=15gi, t=7,5gi𝑡=7,5gi. H=2⋅2−7,515=2⋅2-0,5=2⋅12=2μCi𝐻=2⋅2−7,515=2⋅2−0,5=2⋅12√=2√𝜇Ci Step 2: Chuyển đổi đơn vị độ phóng xạ Độ phóng xạ ban đầu H0=2μCi=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq𝐻0=2𝜇Ci=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq(phân rã/giây).
Độ phóng xạ sau 7,5 giờ: H=2μCi≈1,414μCi𝐻=2√𝜇Ci≈1,414𝜇Ci.
Độ phóng xạ của mẫu máu lấy ra: H′=502phân rã/phút=50260Bq𝐻′=502phânrã/phút=50260Bq(phân rã/giây). Step 3: Tính thể tích máu Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu V𝑉.
Độ phóng xạ H′𝐻′đo được từ thể tích mẫu V′=1cm3𝑉′=1cm3phải tương ứng với độ phóng xạ H𝐻trong toàn bộ thể tích V𝑉.
Ta có tỉ lệ: HV=H′V′𝐻𝑉=𝐻′𝑉′ V=H⋅V′H′=2μCi⋅1cm3502phân rã/phút𝑉=𝐻⋅𝑉′𝐻′=2√𝜇Ci⋅1cm3502phânrã/phút Để tính toán, sử dụng đơn vị Bq cho độ phóng xạ: V=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3𝑉=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3 Hoặc sử dụng đơn vị μCi𝜇Cicho độ phóng xạ: H′=502phân rã/phút=50260⋅3,7⋅104μCi≈0,000226μCi𝐻′=502phânrã/phút=50260⋅3,7⋅104𝜇Ci≈0,000226𝜇Ci
H0=7,4×104×60=4,44×106𝐻0=7,4×104×60=4,44×106phân rã/phút. Step 2: Tính độ phóng xạ còn lại của toàn bộ lượng máu sau 7,5 giờ Sử dụng công thức độ phóng xạ: H=H0×2−tT𝐻=𝐻0×2−𝑡𝑇.
Với H0=4,44×106𝐻0=4,44×106phân rã/phút, t=7,5𝑡=7,5giờ, T=15𝑇=15giờ:
H=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2-0,5=4,44×1062≈3,1397×106𝐻=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2−0,5=4,44×1062√≈3,1397×106phân rã/phút. Step 3: Tính thể tích máu của người đó Độ phóng xạ của 1cm31cm3máu sau 7,5 giờ là h=502ℎ=502phân rã/phút.
Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu V𝑉.
Ta có tỉ lệ: HV=h1cm3𝐻𝑉=ℎ1cm3 V=Hh×1cm3𝑉=𝐻ℎ×1cm3 V=3,1397×106502≈6254,4cm3𝑉=3,1397×106502≈6254,4cm3 V≈6,25L𝑉≈6,25L
Thể tích máu ≈ 6,25 lít.
H0 = 2uCi =2*10^(-6 )*3,7*10^(10) =7,4*10^4 phân rã/giây
=4440000phân rã/phút
Ht = H0*2^(- t/T)
=4,44*10^(6)*2 ^ (- 7.5/15)
=3139554 phân rã/phút
Ht/V= h/⛰️V
=> V=Ht*⛰️V/ h
=3139554*1/502= 6254 cm³ = 6,254 lít
6,25 lít
6,25 lít
Hải Hí xinh dep
haihi
Hai hi deth
tôi yêu vật lí 12
Hải Hí xinh đẹp
Hai Hi cute
Thể tích máu người đó là 6,25 lít
Hải Hí Xinh Đẹp
Hai hi xinh dep
2H số 1
2H cute
6254cm³
6,25 lít
6,25
6254cm3 tương đương 6,25 lit
H0=2μCi=2⋅10-6⋅3,7⋅1010⋅60=4.440.000phân rã/phút𝐻0=2𝜇Ci=2⋅10−6⋅3,7⋅1010⋅60=4.440.000phânrã/phút 2. Tính tổng độ phóng xạ của toàn bộ máu tại thời điểm 𝑡 =7 , 5 gi:
Áp dụng công thức định luật phóng xạ: 𝐻 =𝐻0 ⋅2−𝑡𝑇
H=4.440.000⋅2−7,515=4.440.000⋅2-0,5≈3.139.554phân rã/phút𝐻=4.440.000⋅2−7,515=4.440.000⋅2−0,5≈3.139.554phânrã/phút 3. Tính thể tích máu của bệnh nhân:
Vì 1 cm3 máu có độ phóng xạ ℎ =502 phânrã/phút, nên tổng thể tích máu V𝑉 là:
V=Hh=3.139.554502≈6254cm3𝑉=𝐻ℎ=3.139.554502≈6254cm3 Kết quả: Thể tích máu của người đó khoảng 6 , 25 lít.
- Độ phóng xạ ban đầu tiêm vào: \(H_0 = 2\ \mu\text{Ci}\).
- Chu kì bán rã của \(^{24}\text{Na}\): \(T = 15\) giờ.
- Thời gian sau khi tiêm: \(t = 7,5\) giờ.
- Độ phóng xạ của \(1\text{ cm}^3\) máu lấy ra: \(h = 502\) phân rã/phút.
2. Các bước tính toán Bước 1: Tính độ phóng xạ của toàn bộ lượng Na đã tiêm sau 7,5 giờ (\(H_{t}\)):Dùng công thức: \(H_t = H_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T}}\)
\(H_{t}=2\cdot 2^{-\frac{7,5}{15}}=2\cdot 2^{-0,5}\approx 1,4142\ \mu \text{Ci}\)
...
Độ phóng xạ ban đầu của dung dịch tiêm: \(H_0 = 2 \mu\text{Ci} = 2 \times 3,7 \times 10^4\) phân rã/giây (vì \(1 \mu\text{Ci} = 3,7 \times 10^4 \text{ Bq}\)).
Chu kì bán rã: \(T = 15\) giờ.
Thời gian sau khi tiêm: \(t = 7,5\) giờ.
Thể tích mẫu máu lấy ra: \(V_m = 1 \text{ cm}^3\).
Độ phóng xạ của mẫu máu tại thời điểm \(t\): \(H_m = 502\) phân rã/phút \(=\frac{502}{60}\) phân rã/giây.
Bài giải:
Đề: Tiêm $^{24}Na$ có $H0 = 2 \, \mu Ci$, $T = 15$ giờ. Sau $t = 7,5$ giờ lấy $V1 = 1 \, cm^3$ máu có độ phóng xạ $H_1 = 502$ phân rã/phút. Tính thể tích máu $V$.
Bước 1: Tính độ phóng xạ còn lại sau 7,5h
H = H_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T}} = 2 \cdot 2^{-\frac{7,5}{15}} = 2 \cdot 2^{-0,5} = \frac{2}{\sqrt{2}} = \sqrt{2} \approx 1,414 \, \mu Ci
Đổi ra phân rã/phút: $1 \, Ci = 3,7 \times 10^{10}$ phân rã/s
1 \, \mu Ci = 3,7 \times 10^4 \text{ phân rã/s} = 3,7 \times 10^4 \times 60 = 2,22 \times 10^6 \text{ phân rã/phút}
H = 1,414 \times 2,22 \times 10^6 \approx 3,14 \times 10^6 \text{ phân rã/phút}
Đây là độ phóng xạ trong toàn bộ thể tích máu $V$.
Bước 2: Dùng tỉ lệ
Độ phóng xạ tỉ lệ với thể tích:
\frac{H}{V} = \frac{H_1}{V_1}
V = \frac{H \cdot V_1}{H_1} = \frac{3,14 \times 10^6 \times 1}{502} \approx 6255 \, cm^3
V \approx 6255 \, cm^3 = 6,255 \, \text{lít}
Đáp án: $V \approx 6,26$ lít hay 6255 $cm^3$
Thể tích máu người trưởng thành thường 4-6 lít, kết quả này hợp lý.
\(H_0 = 2 \mu\text{Ci} = 2 \times 3,7 \times 10^4 \text{ phân rã/s} = 74000 \text{ phân rã/s}\).Đổi ra phân rã/phút: \(H_0 = 74000 \times 60 = 4.440.000 \text{ phân rã/phút}\).Tính độ phóng xạ còn lại sau \(t = 7,5\) giờ:Chu kỳ bán rã \(T = 15\) giờ. Số lần phân rã: \(\frac{t}{T} = \frac{7,5}{15} = 0,5\).Độ phóng xạ sau 7,5 giờ: \(H = H_0 \times 2^{-\frac{t}{T}} = 4.440.000 \times 2^{-0,5} \approx 3.139.544 \text{ phân rã/phút}\).Tính thể tích máu:Độ phóng xạ của \(1 \text{ cm}^3\) máu là \(H_1 = 502 \text{ phân rã/phút}\).Thể tích máu \(V = \frac{H}{H_1} = \frac{3.139.544}{502} \approx 6254 \text{ cm}^3\).
- Độ phóng xạ ban đầu của \(^{24}\text{Na}\): \(H_0 = 2 \mu\text{Ci}\)
- Chu kì bán rã: \(T = 15 \text{ giờ}\)
- Thời gian sau khi tiêm: \(t = 7,5 \text{ giờ}\)
- Độ phóng xạ của \(1 \text{ cm}^3\) máu tại thời điểm \(t\): \(h = 502 \text{ phân rã/phút}\)
2. Các bước giải: Bước 1: Tính độ phóng xạ tổng cộng (\(H\)) của lượng Na sau 7,5 giờCông thức tính độ phóng xạ tại thời điểm \(t\):
\(H=H_{0}\cdot 2^{-\frac{t}{T}}\)Thay số:
\(H=2\cdot 2^{-\frac{7,5}{15}}=2\cdot 2^{-0,5}=\frac{2}{\sqrt{2}}=\sqrt{2}\approx 1,414\mu \text{Ci}\) Bước 2: Đổi đơn vị \(H\) sang phân rã/phút
Biết \(1 \text{ Ci} = 3,7 \cdot 10^{10} \text{ phân rã/giây}\).
\(1\mu \text{Ci}=10^{-6}\cdot 3,7\cdot 10^{10}=3,7\cdot 10^{4}\text{\ phân\ rã/giây}\)Đổi sang phút:
\(1\mu \text{Ci}=3,7\cdot 10^{4}\cdot 60=2,22\cdot 10^{6}\text{\ phân\ rã/phút}\)Vậy tổng độ phóng xạ \(H\) là:
\(H\approx 1,414\cdot 2,22\cdot 10^{6}\approx 3.139.080\text{\ phân\ rã/phút}\) Bước 3: Tính thể tích máu (\(V\))
Vì chất phóng xạ đã hòa tan đều vào máu, thể tích máu được tính bằng tỉ số giữa tổng độ phóng xạ và độ phóng xạ trên mỗi đơn vị thể tích:
\(V=\frac{H}{h}=\frac{3.139.080}{502}\approx 6.253\text{\ cm}^{3}\)
H0= 2 . 3,7 . 10mũ4 = 7,4 . 10mũ4 Bq
T=15 gi
t=7,5 gi
ht= 502/69=8,367 Bq/cm3
Ht= H0 . 2 mũ -t/T = 7,4 . 10mũ4 . 2mũ -7,5/15= 52325,9 Bq
Biết \(1\ \text{Ci} = 3,7 \cdot 10^{10}\ \text{phân rã/giây}\).
\(H_{0}=2\cdot 10^{-6}\cdot 3,7\cdot 10^{10}\cdot 60=4.440.000\ \text{phân\ rã/phút}\) Bước 2: Tính tổng độ phóng xạ của toàn bộ lượng máu sau 7,5 giờ
Độ phóng xạ của lượng thuốc đã tiêm sau thời gian \(t\) là:
\(H=H_{0}\cdot 2^{-\frac{t}{T}}=4.440.000\cdot 2^{-\frac{7,5}{15}}=4.440.000\cdot 2^{-0,5}\approx 3.139.554\ \text{phân\ rã/phút}\) Bước 3: Tính thể tích máu của bệnh nhân
Gọi \(V\) là thể tích máu cần tìm. Vì lượng phóng xạ này đã hòa tan đều trong toàn bộ máu, ta có tỉ lệ:
\(V=\frac{H}{h}=\frac{3.139.554}{502}\approx 6.254\ \text{cm}^{3}\)
A0 = 2uCi =7,4x104 Bq
Sau 7,5h = T/2
A = A0/căn2 = 5,23x10mũ4 Bq
Mẫu 1cm3
520 phnr/pht = 8,37 Bq
V = 5,23x10mũ4/8,37= 6,25x10mũ3 cm3 =6,26 L