K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau:

         Có một miền quê

(Vũ Tuấn)     

Có một miền mọc trắng cỏ Lau

Là quê tôi, đi xa rồi luôn nhớ

Khắc khoải trong tim, bồi hồi nhịp thở

Mong trở về nghe khúc hát mẹ ru.

 

Có một miền, Lau mọc trắng vần thơ

Là quê hương, cha ngày đêm mong đợi

Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi

Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng.

 

Có một miền cho ngô lúa đơm bông

Hạt gạo thảo thơm, vai gầy của mẹ

Như cánh cò thân thương nhỏ bé

Vất vả tảo tần, trong nắng, trong mưa…

 

Có một miền mà khi tôi đi xa

Luôn muốn về, những trưa hè yên ả

Bát chè xanh, thắm tình quê vất vả

Mẹ gánh cuộc đời, xộc xệch thời gian...

 

Có một miền tôi chẳng thể nào quên

Quê nội thân thương như bàn tay chai sạn

Khóe mắt nồng cay, trong chiều chạng vạng

Ơi quê nhà! Tôi gọi mãi trong tim...

(In trong tập Quê hương trong tôi, Vũ Tuấn, NXB Văn Học, 2021, trang 48)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Chủ đề của bài thơ là gì?

Câu 2 (0,5 điểm). Trong bài thơ, hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền” được sử dụng trong bài thơ.

Câu 4 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau?

Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi

Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng.

Câu 5 (1,0 điểm). Từ thông điệp của bài thơ, em hãy viết một đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng trả lời câu hỏi: Người trẻ cần có trách nhiệm gì với quê hương, đất nước?

7
29 tháng 4 2025

Câu 1 (0,5 điểm).
Chủ đề của bài thơ:
Bài thơ thể hiện tình yêu sâu nặng, nỗi nhớ da diết và niềm tự hào của tác giả đối với quê hương – nơi gắn bó với tuổi thơ, cha mẹ, những ký ức bình dị và thiêng liêng.


Câu 2 (0,5 điểm).
Hình ảnh quê hương trong bài thơ được gợi lên qua những từ ngữ, hình ảnh:

  • Cỏ lau trắng, khúc hát mẹ ru, áo bạc sờn, mồ hôi cha, hạt gạo thảo thơm, vai gầy của mẹ, cánh cò, bát chè xanh, bàn tay chai sạn, khóe mắt nồng cay,…
    → Những hình ảnh giản dị, gần gũi mà đậm chất quê hương.

Câu 3 (1,0 điểm).
Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền”:

  • Gợi mở không gian thơ đầy cảm xúc, nhấn mạnh vẻ đẹp và sự thiêng liêng của quê hương trong tâm trí người con xa xứ.
  • Tạo âm điệu trầm lắng, da diết, thể hiện nỗi nhớ khắc khoải.
  • Làm nổi bật các khía cạnh khác nhau của quê hương: thiên nhiên, con người, ký ức, tình cảm gia đình.

Câu 4 (1,0 điểm).
Hiểu về hai dòng thơ:

Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi
Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng.

  • Hai câu thơ khắc họa hình ảnh người cha cần mẫn, vất vả lao động trên ruộng đồng.
  • “Áo bạc sờn” và “mồ hôi cha mặn” là biểu tượng của sự hi sinh, tảo tần vì gia đình, gợi lòng biết ơn sâu sắc của người con dành cho cha và những người nông dân quê hương.
  • Đồng thời, thể hiện sự gắn bó giữa con người và mảnh đất quê hương qua lao động.

Câu 5 (1,0 điểm).
Đoạn văn:

Người trẻ hôm nay cần có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của quê hương, đất nước. Đó là tình yêu, sự biết ơn đối với nguồn cội, những người đã vất vả dựng xây quê hương. Người trẻ cần học tập tốt, sống có lý tưởng, đóng góp bằng hành động thiết thực như bảo vệ môi trường, giữ gìn truyền thống văn hóa và tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng. Chỉ khi hiểu rõ quê hương mình, chúng ta mới có thể góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh và nhân văn hơn.

2 tháng 3

Câu 1 (0.5 điểm): Đề tài của bài thơ là gì? Đề tài của bài thơ là quê hương (miền quê Lau mọc trắng, hình ảnh làng quê Việt Nam với đồng lúa, cha mẹ, cánh đồng, lao động vất vả). Câu 2 (0.5 điểm): Chủ đề của bài thơ là gì? Chủ đề của bài thơ là nỗi nhớ da diết, tình yêu thương sâu sắc dành cho quê hương, cha mẹ và những hình ảnh lao động bình dị, gắn bó của người con xa xứ. Câu 3 (1.0 điểm): Trong bài thơ, hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh nào? Hình ảnh quê hương được nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi: “miền Lau mọc trắng cỏ Lau”, “quê tôi”, “quê hương” “áo bạc sờn trong nắng chiều vơi vơi”, “mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng” “ngô lúa đơm bông”, “hạt gạo thảo thơm”, “vai gầy của mẹ”, “cánh cò thân thương” “bát chè xanh”, “thảm tình quê vất vả”, “mẹ gánh cuộc đời, xộc xệch thời gian”. Những hình ảnh này vừa gần gũi, dân dã vừa khắc họa sự vất vả, hy sinh của cha mẹ và vẻ đẹp bình dị, thân thương của làng quê. Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền” được sử dụng trong bài thơ. Biện pháp điệp ngữ “Có một miền” được lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ tạo nhịp điệu đều đặn, nhấn mạnh sự tồn tại bền vững, thiêng liêng của quê hương trong tâm hồn người con. Tác dụng: Gợi cảm giác da diết, khắc khoải, như một lời khẳng định rằng dù đi xa, quê hương vẫn luôn hiện hữu, không phai mờ. Tạo cấu trúc mạch lạc, giúp bài thơ như một dòng hồi ức liên tục, dẫn dắt người đọc từ hình ảnh thiên nhiên → lao động cha mẹ → nỗi nhớ tuổi thơ → khát khao trở về. Tăng sức biểu cảm, làm nổi bật tình yêu quê hương sâu đậm, bất diệt, khơi gợi sự đồng cảm mạnh mẽ ở người đọc về giá trị cội nguồn. Câu 5 (1.0 điểm): Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau: “Áo bạc sờn trong nắng chiều vơi vơi Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng.” Hai dòng thơ khắc họa hình ảnh người cha lao động vất vả trên đồng ruộng. “Áo bạc sờn” gợi sự lam lũ, nghèo khó, cũ kỹ qua năm tháng; “nắng chiều vơi vơi” tạo cảm giác cô đơn, buồn man mác của buổi chiều tà. “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng” là hình ảnh ẩn dụ đầy ấn tượng: mồ hôi cha không chỉ thấm vào áo mà còn “mặn” cả cánh đồng – biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng, đổ mồ hôi nước mắt để nuôi dưỡng mùa màng, nuôi con khôn lớn. Em hiểu đây là lời tri ân sâu sắc của người con đối với công lao của cha, đồng thời nhấn mạnh giá trị lao động cần cù, chịu thương chịu khó của người nông dân Việt Nam.

4 tháng 3

I. PHẦN ĐỌC HIỂU


Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2.

Đề tài: Cảnh bến đò trong một ngày mưa.


Câu 3.

Biện pháp tu từ điệp từ “mưa” được lặp lại nhiều lần tạo âm hưởng trầm buồn, nhấn mạnh không gian ướt át, lạnh lẽo, góp phần làm nổi bật vẻ vắng vẻ, hiu quạnh của bến đò ngày mưa.


Câu 4.

Bức tranh bến đò ngày mưa được miêu tả qua các hình ảnh: tre rũ rượi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, bến vắng, quán hàng không khách, bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng ho sặc sụa, người đi chợ đội mưa… Những hình ảnh ấy gợi cảm giác ảm đạm, lạnh lẽo, buồn vắng nhưng rất chân thực và gần gũi.


Câu 5.

Qua bức tranh bến đò ngày mưa, bài thơ gợi lên tâm trạng buồn man mác, trầm lắng, một nỗi cô đơn, hiu quạnh trước cảnh vật thấm đẫm mưa.



II. PHẦN VIẾT


Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Bài thơ “Bến đò ngày mưa” gợi lên một cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn man mác trước cảnh vắng lặng của thiên nhiên và con người. Xuyên suốt bài thơ là không gian mưa bao phủ mọi cảnh vật: tre rũ rượi, chuối bơ phờ, dòng sông rào rạt, con thuyền trơ vơ. Những hình ảnh ấy không chỉ tả thực mà còn gợi cảm giác lạnh lẽo, hiu quạnh. Con người xuất hiện trong mưa với dáng vẻ lặng lẽ: bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng ho sặc sụa, người đi chợ đội mưa cúi đầu. Nhịp thơ chậm, đều càng làm nổi bật sự tĩnh lặng, trầm buồn của bến đò. Qua đó, bài thơ thể hiện sự đồng điệu giữa cảnh và tình: cảnh mưa buồn thấm vào lòng người, gợi nên nỗi cô đơn, suy tư. Chủ đề của bài thơ là khắc họa vẻ đẹp trầm lắng của một bến đò quê trong ngày mưa, qua đó bộc lộ tâm trạng buồn thương, da diết của tác giả trước cảnh đời giản dị.



Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Đó không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và nâng đỡ ta trên suốt hành trình trưởng thành.


Trước hết, quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm ấu thơ trong trẻo nhất. Những con đường làng, bến nước, cánh đồng hay tiếng ru của mẹ đều trở thành hành trang tinh thần quý giá. Chính từ môi trường sống đầu tiên ấy, mỗi người học được cách yêu thương, sẻ chia và biết trân trọng những điều giản dị. Quê hương vì thế góp phần hình thành bản sắc riêng của mỗi cá nhân.


Không chỉ vậy, quê hương còn là điểm tựa tinh thần vững chắc. Khi thành công, ta muốn trở về để chia sẻ niềm vui; khi thất bại, ta cũng tìm về nơi ấy để được chở che, an ủi. Tình yêu quê hương tiếp thêm động lực để con người nỗ lực học tập, lao động, mong muốn đóng góp cho nơi mình sinh ra ngày càng giàu đẹp hơn.


Tuy nhiên, trong nhịp sống hiện đại, có người dần thờ ơ với cội nguồn, chạy theo những giá trị vật chất mà quên đi nơi chôn rau cắt rốn. Điều đó khiến con người dễ đánh mất bản sắc và trở nên lạc lõng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống quê hương bằng những hành động thiết thực như học tập tốt, sống có trách nhiệm và góp phần xây dựng cộng đồng.


Quê hương là gốc rễ của mỗi đời người. Dù đi đâu, về đâu, tình yêu quê hương vẫn luôn âm thầm chảy trong tim, trở thành nguồn sức mạnh bền bỉ nâng đỡ ta suốt cuộc đời.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU


Câu 1 (0,5 điểm):

Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2 (0,5 điểm):

Những vần được gieo trong bài: sóng – đồng – rong; học – nhọc; người – ngôi (vần gần); nhỏ – ngõ…


Câu 3 (1,0 điểm):

Hai dòng thơ:

“Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc

Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi”

sử dụng biện pháp nhân hóa (“lúa ngô thèm”) và ẩn dụ. Cách diễn đạt ấy làm cho cảnh vật trở nên có hồn, gợi sự khắc nghiệt của vùng đất mặn nhưng cũng thể hiện khát vọng sống, khát vọng vươn lên mãnh liệt. Qua đó nhấn mạnh sự lam lũ, vất vả của quê hương và ước mơ xanh tươi, no đủ của con người nơi đây.


Câu 4 (1,0 điểm):

Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương:

“Biển hát ru…”, “Vị muối mặn…”, “Cát thường cuốn…”, “Sóng vỗ…”, “Đất quê mặn…”, “Sông mùa lũ…”, “Chim hải âu…”.

Qua đó, quê hương của nhân vật trữ tình hiện lên là một vùng ven biển nhiều gió, cát và vị mặn của biển; có sông nước, mùa lũ, thiên nhiên khắc nghiệt nhưng giàu sức sống, gắn bó sâu nặng với tuổi thơ tác giả.


Câu 5 (1,0 điểm):

Quê hương là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và hình thành nhân cách mỗi con người. Dù giàu hay nghèo, mỗi miền quê đều chứa đựng những kỉ niệm tuổi thơ thiêng liêng. Quê hương dạy ta biết yêu thương, chịu đựng và ước mơ. Khi đi xa, ta càng thấm thía giá trị của nơi chôn rau cắt rốn. Vì vậy, mỗi người cần trân trọng, gìn giữ và góp phần xây dựng quê hương ngày càng tốt đẹp hơn.



II. PHẦN LÀM VĂN


Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Đoạn thơ “Gửi quê” khắc họa hình ảnh quê hương ven biển giàu kỉ niệm và chan chứa nghĩa tình. Nội dung đoạn thơ thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của tác giả với nơi mình sinh ra. Những hình ảnh như biển, sóng, cát, vị muối mặn, sông mùa lũ, chim hải âu… gợi lên một miền quê đầy nắng gió và vị mặn đặc trưng. Dù thiên nhiên khắc nghiệt với “đất quê mặn”, “cát thường cuốn”, cuộc sống “khó nhọc”, nhưng đó cũng là nơi nuôi dưỡng ước mơ, hun đúc ý chí con người. Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể tự do, giọng điệu tha thiết, chân thành. Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ như nhân hóa (“lúa ngô thèm”), ẩn dụ, hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu cảm xúc. Sự hòa quyện giữa cảnh và tình đã làm nổi bật tình yêu quê hương sâu sắc, bền chặt.



Câu 2 (khoảng 400 chữ):


Thực trạng điểm thi môn Lịch sử trong những năm gần đây cho thấy nhiều học sinh chưa thực sự yêu thích và đạt kết quả cao ở môn học này. Để khắc phục tình trạng đó, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà trường, giáo viên và bản thân học sinh.


Trước hết, giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy. Thay vì truyền đạt kiến thức một chiều, nên tăng cường kể chuyện lịch sử, tổ chức thảo luận nhóm, đóng vai nhân vật, sử dụng sơ đồ tư duy và ứng dụng công nghệ thông tin để bài học sinh động hơn. Khi lịch sử được tái hiện như những câu chuyện hấp dẫn, học sinh sẽ cảm thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn.


Bên cạnh đó, nhà trường nên tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tham quan di tích lịch sử, bảo tàng, tổ chức cuộc thi tìm hiểu lịch sử dân tộc. Những trải nghiệm thực tế sẽ giúp học sinh hiểu rằng lịch sử không khô khan mà rất gần gũi với cuộc sống.


Về phía học sinh, cần thay đổi nhận thức, không xem Lịch sử là môn phụ. Muốn học tốt, cần nắm chắc mốc thời gian, sự kiện chính, hiểu bản chất vấn đề thay vì học thuộc lòng máy móc. Việc lập bảng hệ thống kiến thức, sơ đồ tư duy sẽ giúp ghi nhớ lâu và logic hơn.


Lịch sử là dòng chảy của dân tộc, giúp thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn và trách nhiệm của mình với đất nước. Khi phương pháp dạy và học được đổi mới, khi học sinh có ý thức và niềm say mê, chắc chắn kết quả môn Lịch sử sẽ được nâng cao, góp phần bồi dưỡng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

15 tháng 4

câu 1:

Chủ đề của bài thơ là tình yêu thiết tha, sâu nặng

câu 2: ​Trong bài thơ, hình ảnh quê hương hiện lên qua những từ ngữ và hình ảnh rất bình dị, gần gũi: ​Cảnh vật: Miền trắng cỏ lau, ngõ lúa đơm bông, bát chè xanh, bàn tay chai sạn, khóe mắt nồng cay. ​Hình ảnh con người: Lời mẹ ru, vai gầy của mẹ, mẹ gánh cuộc đời xộc xệch thời gian, đôi bàn tay chai sạn của nội. ​Âm thanh, hương vị: Nhịp thắt lời mẹ ru, hương gạo thảo thơm.

câu 3:

Tác dụng về cấu trúc: Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, tha thiết như một lời kể lể, tâm tình, giúp bài thơ có sự kết nối chặt chẽ giữa các khổ thơ. ​Tác dụng về nội dung: ​Nhấn mạnh sự hiện hữu sâu đậm của quê hương trong tâm trí tác giả. Mỗi lần nhắc lại "Có một miền" là một lần mở ra một kỷ niệm, một hình ảnh đẹp về quê nhà. ​Khẳng định quê hương là duy nhất, là miền ký ức không thể nào quên, từ đó thể hiện tình cảm trân trọng và nỗi nhớ khôn nguôi của người con xa quê.

câu 4:

sự gian lao của người cha: ​"Áo bạc sờn": Gợi lên sự vất vả, dãi dầu nắng mưa qua năm tháng. ​"Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng": Cách nói đầy sức gợi tả, cho thấy những giọt mồ hôi rơi xuống không chỉ là sự mệt nhọc mà còn là bao tâm huyết, sức lao động bền bỉ để làm nên những mùa màng bội thu. ​Ý nghĩa: Ca ngợi sự hy sinh thầm lặng, công lao to lớn của người cha đã dành cả cuộc đời tần tảo nuôi con khôn lớn trên mảnh đất quê hương.

câu 5:

​Từ thông điệp của bài thơ, ta nhận thấy mỗi người cần có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng quê hương. Trước hết, chúng ta phải biết trân trọng những giá trị truyền thống, những kỷ niệm đẹp và công ơn của cha mẹ, tổ tiên. Là học sinh, trách nhiệm thiết thực nhất là nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức để sau này góp sức mình xây dựng quê hương thêm giàu đẹp. Bên cạnh đó, chúng ta cần có ý thức bảo vệ môi trường, yêu thương và giúp đỡ cộng đồng xung quanh. Tình yêu quê hương không cần là những điều lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ bé nhưng chân thành nhất để xứng đáng với "miền quê" đã nuôi dưỡng tâm hồn ta.

Câu 1
Chủ đề của bài thơ:
→ Ca ngợi vẻ đẹp bình dị, thân thương của quê hương và bày tỏ tình yêu, sự gắn bó sâu nặng của con người với quê hương, đất nước.

Câu 2
Hình ảnh quê hương được nhắc đến qua các từ ngữ, hình ảnh như:
→ cánh đồng, dòng sông, con đò, bờ tre, nắng chiều, người cha lao động, mồ hôi trên ruộng…
→ Đây đều là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi của làng quê Việt Nam.

Câu 3
Tác dụng của điệp ngữ “Có một miền”:
→ Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, da diết cho bài thơ.
→ Nhấn mạnh sự tồn tại của một miền quê thân thương trong ký ức, tâm hồn tác giả.
→ Gợi cảm xúc tự hào, yêu thương sâu sắc đối với quê hương.
→ Làm nổi bật hình ảnh quê hương hiện lên nhiều lần, ngày càng đậm nét.

Câu 4
Hai dòng thơ:
“Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi
Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng.”

→ Gợi hình ảnh người cha lao động vất vả, lam lũ.
→ “Áo bạc sờn” cho thấy sự nghèo khó, gian truân.
→ “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng” là cách nói giàu hình ảnh, nhấn mạnh sự hi sinh, công sức lớn lao của cha dành cho quê hương, ruộng đồng.
→ Qua đó thể hiện lòng biết ơn và trân trọng của tác giả với người lao động.

Câu 5

Người trẻ hôm nay cần ý thức rõ trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước. Trước hết, mỗi người cần chăm chỉ học tập, rèn luyện để có tri thức và kỹ năng đóng góp cho xã hội. Bên cạnh đó, cần giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Người trẻ cũng nên sống có trách nhiệm, biết yêu thương, sẻ chia và không thờ ơ trước những vấn đề chung. Ngoài ra, việc bảo vệ môi trường, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp cũng là nhiệm vụ quan trọng. Khi mỗi người trẻ sống có ý thức, đất nước sẽ phát triển bền vững hơn.


(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. BẦM ƠI! Ai về thăm mẹ quê taChiều nay có đứa con xa nhớ thầm... Bầm ơi có rét không bầm?Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm runChân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đonRuột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thânMưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

BẦM ƠI!

Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...

Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

(Trích Bầm ơi – Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. Hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào qua những dòng thơ: "Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non", "Mưa phùn ướt áo tứ thân"?

Câu 4. Qua hai dòng thơ cuối: "Con đi đánh giặc mười năm / Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi", em hiểu gì về tình cảm và sự thấu hiểu mà người con dành cho mẹ của mình?

Câu 5. Từ văn bản, em có suy nghĩ gì về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 9 2025

Câu 1.
Trả lời: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2
Trả lời: Văn bản viết về tình yêu thương và công lao vĩ đại của mẹ, thể hiện qua hình ảnh bàn tay mẹ chăm sóc, bảo vệ và ru con.

Câu 3 là gì b

29 tháng 4

chị viết chi tiết thêm tí nữa là em hiểu liền [ko có ý định gì đâu chỉ là chưa hiểu thôi ]

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: MẸCon bị thương, nằm lại một mùa mưaNhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽNhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhàTrái chín rụng suốt mùa thu lộp độpNhững dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đàoCon nhạt miệng, có...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

MẸ

Con bị thương, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.

Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhà
Trái chín rụng suốt mùa thu lộp độp
Những dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,
Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Ba con đầu đi chiến đấu nơi xa
Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,
Con nói mớ những núi rừng xa lạ
Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê!

“Ông mất lâu rồi...” – Mẹ kể con nghe
Những chuyện làm ăn, những phen luân lạc,
Mắt nhoà đục và mái đầu tóc bạc
Cả cuộc đời chèo chống bấy nhiêu năm...

Những lúc hiếm hoi, mưa tạnh, trời trăng,
Mẹ hể hả ngắm con hồng sắc mặt
Con ra ngõ, núi chập chùng xanh ngắt
Lại tần ngần nói với mẹ ngày đi.

Mẹ cười xoà, nước mắt ứa trên mi:
– “Đi đánh Mỹ, khi nào tau có giữ!
Súng đạn đó, ba lô còn treo đó,
Bộ mi chừ đeo đã vững hay chăng?”

... Ôi mẹ già trên bản vắng xa xăm
Con đã đi rồi, mấy khi trở lại?
Dằng dặc Trường Sơn những mùa gió trái
Những mùa mưa bạc trắng cả cây rừng!

Con qua đâu thấy mái lá, cây vườn,
Cũng đất nước, phơ phơ đầu tóc mẹ...
Từng giọt máu trong người con đập khẽ,
Máu bây giờ đâu có của riêng con?

                                      1972

     (Bằng Việt, in trong Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội nhà văn, 2010)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.

Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ dưới đây.

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?

4
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Không có niêm luật, vần rõ ràng cố định, độ dài các câu và khổ thơ linh hoạt, giúp tác giả tự do bộc lộ cảm xúc trữ tình.


Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Nhân vật trữ tình là người con đang trưởng thành, từng trải qua chiến tranh, nhớ về mẹ và gia đình ở quê hương.


Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?
Người mẹ được khắc họa với những phẩm chất:

  • Hiền hậu, ân cần và lặng lẽ: luôn chăm sóc con một cách tận tụy nhưng âm thầm, không phô trương.
  • Hy sinh, tận tụy: dồn hết tình máu mủ cho con, chèo chống gia đình sau khi chồng mất.
  • Kiên cường, chịu đựng gian khó: chèo chống cuộc sống, chăm sóc con giữa chiến tranh và khó khăn.
  • Tình thương vô bờ bến: mẹ luôn lo lắng cho sức khỏe, sự an toàn và tương lai của con.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

  • Biện pháp tu từ: miêu tả giàu hình ảnh, đối lập và ẩn dụ.
    • Đối lập: “Con xót lòng – mẹ hái trái bưởi đào”, “con nhạt miệng – mẹ nấu canh” thể hiện sự quan tâm âm thầm nhưng sâu sắc của mẹ.
    • Miêu tả chi tiết sinh động: các món ăn, khói bếp gợi lên hình ảnh ấm áp, bình dị nhưng chan chứa tình mẹ.
  • Tác dụng: Khắc họa tình mẫu tử chân thực, gợi cảm giác ấm áp, thương yêu và ân cần mà mẹ dành cho con, làm nổi bật hình ảnh mẹ hiền hậu, yêu thương con vô bờ.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?
Nhân vật trữ tình bộc lộ:

  • Nỗi nhớ da diết, xót xa khi nghĩ về mẹ và tuổi thơ bên gia đình.
  • Tình thương, sự biết ơn sâu sắc đối với công lao, hy sinh và tình yêu vô bờ của mẹ.
  • Nỗi lo lắng, ray rứt khi phải rời quê hương, đi chiến đấu xa nhà, sợ mẹ vất vả, tuổi già cô đơn.
  • Sự trân trọng và xúc động trước hình ảnh mẹ già, chịu đựng gian khổ nhưng vẫn quan tâm chăm sóc con.

Nếu bạn muốn, tôi có thể viết lại toàn bộ đáp án theo dạng gọn gàng, đầy đủ, trình bày sẵn sàng nộp bài thi cho lớp 9, giúp dễ học và ghi nhớ. Bạn có muốn tôi làm không?


29 tháng 4

em cũng ko biết vì tại sao bài lại dài thế

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

(Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn giữ trọn đạo làm vợ và làm dâu, chăm lo cho chồng ăn học. Học được nửa năm, Tống Trân thi đậu Trạng nguyên, được vua ban áo mão và gả công chúa cho chàng. Tống Trân lấy cớ nhà nghèo mà từ chối. Tống Trân phải trải qua nhiều thử thách hiểm nguy trong thời gian đi sứ nước Tần. Ở quê nhà, Cúc Hoa rơi vào mưu kế của trưởng giả, gả nàng đi cho một người khác. Cùng lúc ấy, Tống Trân trên đường về, biết rõ nguồn cơn và xuất hiện trong ngày rước dâu. Chàng xét xử phân minh rồi đoàn tụ với mẹ và vợ.)

TỐNG TRÂN – CÚC HOA

Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền

Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.

Khó nghèo có mẹ có con,

Ít nhiều gạn sẻ(1) vẹn tròn cho nhau

Lòng con nhường nhịn bấy lâu

Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng

Cúc Hoa nước mắt hai hàng:

"Lạy mẹ cùng chàng chớ quản(2) tôi

Gọi là cơm tấm canh lê(3)

Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng(4)

Chàng ăn cho sống mình chàng,

Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.

Kể chi phận thiếp đàn bà,

Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương".

Thương con mẹ giấu cho vàng,

Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.

Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:

"Lạy mẹ còn có chút tình thương con".

Tức thì trở lại phòng môn,

Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:

"Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,

Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một chương".

Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,

Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.

Hai bên giá cả hẳn hoi,

Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.

Cúc Hoa trở lại thư trai(5)

"Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.

Thiếp xin rước một ông thầy,

Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi".

Một ngày ba bữa chẳng rời,

Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.

Nàng thời nhiều ít cũng xong

Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.

Khấn trời lạy Phật đòi phen:

"Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.

Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,

Cố chăm việc học đua tài cho hay.

Một mai, có gặp rồng mây(6)

Bảng vàng(7) may dược tỏ bày họ tên

Trước là sạch nợ bút nghiên

Sau là thiếp cũng được yên lòng này".

(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)

Chú thích:

(1) Gạn sẻ: Gạn – chắt lọc và sẻ – chia sớt, chia nhỏ.

(2) Quản: E ngại, ngần ngại. Chớ quản: Không cần ngần ngại, quan tâm.

(3) Canh lê: Canh nấu bằng rau lê, những gia đình nghèo khó thường ăn loại rau này.

(4) Võ vàng: Gầy gò, da dẻ xanh xao, không được hồng hào vì thiếu máu.

(5) Thư trai: Phòng đọc sách, phòng học.

(6) Rồng mây: Hội rồng mây, cơ hội để mọi người thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.

(7) Bảng vàng: Danh sách ghi tên những người thi đỗ.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Có những nhân vật nào xuất hiện trong văn bản?

Câu 3. Trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên như thế nào? Hoàn cảnh sống ấy có vai trò gì trong việc thể hiện số phận nhân vật?

Câu 4. Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa có phẩm chất nào đáng quý? Những chi tiết nào giúp em nhận thấy điều đó?

Câu 5. Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng gì của nhân dân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi tin chồng

“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

1

Xhhxjhgdijd

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: BÀ MÁ HẬU GIANG (Tố Hữu) Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười... Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi! Gót giày đâu đã đạp rơi liếp...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

BÀ MÁ HẬU GIANG
(Tố Hữu)

Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi
Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
Như hổ mang chợt bắt được mồi
Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
Một mình mày ăn hết này sao?
Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
Khai mau, tao chém mất đầu!"
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!"
Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
"Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
Thân tao chết, dạ chẳng sờn!".

(Trích tập thơ Từ ấy, NXB Văn Học)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Sự việc gì đã xảy ra trong văn bản "Bà má Hậu Giang"?

Câu 3. Chỉ ra những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc. Em có nhận xét gì về nhân vật này?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!

Câu 5. Từ hình tượng bà má trong văn bản, em có suy ngẫm gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2

Câu 1

Văn bản "Bà má hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát

Câu 2

Sự việc xảy ra trong văn bản :một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích

Câu 3

-Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc

+Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạ

+Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích

+Đe dọa chém đầu khi bà má không khai

+Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp

-Nhận xét về nhân vật tên giặc

+Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo hung hãn mất nhân tính

+Hẳn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược gieo rắc đau thương và mất mát cho nhân dân ta

Câu 4

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm

-Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh

+Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến

+Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của ba má về những người lính ,người con của cách mạng

+Hình ảnh so sánh gần gũi ,bình dị, tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài thơ

Câu 5

Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc

-Nhân dân dù gian khổ ,hiểm nguy với một lòng trung thành với cách mạng sẵn sàng hi sinh để bảo vệ tổ quốc

-Tinh thần kiên cường ,bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi nguy hiểm ,áp bức sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ Lý tưởng

-Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi Bản năng để đứng vững chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần

Câu 1. Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ song thất lục bát.

Câu 2. Trong văn bản đã xảy ra sự việc: bà má Hậu Giang bị tên giặc bắt, tra tấn dã man vì che giấu, nuôi cán bộ cách mạng, nhưng bà vẫn một lòng trung kiên, không khai báo.

Câu 3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: Đánh đập, tra tấn bà má tàn nhẫn Đe dọa, ép bà khai ra cán bộ cách mạng → Nhận xét: Tên giặc là kẻ hung bạo, vô nhân tính, tàn ác, đại diện cho thế lực xâm lược tàn bạo.

Câu 4. Biện pháp tu từ: So sánh “Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm” → Tác dụng: Làm nổi bật lòng dũng cảm, khí phách anh hùng của con người miền Nam; đồng thời gợi vẻ đẹp mạnh mẽ, bền bỉ và cao quý của con người gắn với thiên nhiên quê hương.

Câu 5. (5–7 dòng) Qua hình tượng bà má Hậu Giang, em cảm nhận được tinh thần yêu nước sâu sắc của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến. Dù chỉ là người dân bình thường, bà vẫn sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ cách mạng. Bà đại diện cho những người mẹ Việt Nam anh hùng, giàu lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Chính tinh thần ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến thắng kẻ thù. Em cảm thấy rất xúc động và tự hào về truyền thống ấy.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: BÀ MÁ HẬU GIANG (Tố Hữu) Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười... Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

BÀ MÁ HẬU GIANG
(Tố Hữu)

Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi
Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
Như hổ mang chợt bắt được mồi
Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
Một mình mày ăn hết này sao?
Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
Khai mau, tao chém mất đầu!"
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!"
Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
"Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
Thân tao chết, dạ chẳng sờn!".

(Trích tập thơ Từ ấy, NXB Văn Học)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Sự việc gì đã xảy ra trong văn bản "Bà má Hậu Giang"?

Câu 3. Chỉ ra những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc. Em có nhận xét gì về nhân vật này?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!

Câu 5. Từ hình tượng bà má trong văn bản, em có suy ngẫm gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

3
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Trong văn bản, sự việc xảy ra là: tên giặc xông vào túp lều, tra hỏi, đe dọa bà má Hậu Giang để dò la chỗ ở của du kích. Dù bị uy hiếp, bà má kiên quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân.

Câu 3.
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:

  • Đạp rơi liếp mành, nghênh ngang vào nhà.
  • Hét lớn, hăm dọa “khai mau, tao chém mất đầu”.
  • Đạp lên đầu bà má, kề gươm lạnh toát vào hông.
    → Những hành động đó cho thấy bản chất tàn bạo, dã man, vô nhân tính của kẻ thù xâm lược.

Câu 4.
Hai dòng thơ:
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”

→ Biện pháp tu từ: so sánh (so sánh con của má với rừng đước, rừng chàm).
→ Tác dụng: Làm nổi bật sức mạnh, tinh thần gan dạ, anh hùng của những người con kháng chiến; đồng thời ca ngợi sức sống bền bỉ, kiên cường, giàu sức mạnh của nhân dân miền Nam.

Câu 5.
Hình tượng bà má Hậu Giang đã gợi cho em suy ngẫm sâu sắc về tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Dù là người mẹ già yếu đuối, bà má vẫn kiên cường, bất khuất trước quân thù, quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân. Qua đó, ta thấy được sức mạnh phi thường của những con người bình dị khi đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước ấy chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua gian khổ, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

câu 1 văn bản trên được viết theo thể thơ tự do

câu 2 sự việc xảy ra trong văn bản lề 1 tên giặc tây xông vào túp lều của bé Hậu Giang xe hội mẹ về nơi ở của du kích và đe dọa hành hạ mà để buộc má phải khai bí mật

câu 3 những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc

+ cầm gươm xông vào nhà nghênh ngang ,hống hách

+ rộng hét, đe dọa chém đầu má già

+ đạp lên đầu má, dùng vũ lực tra khảo

câu 4 :biện pháp tu từ so sánh(" gan dạ anh hùng như rừng nước mặn như rừng tràm thơm")

- tác dụng: làm nổi bật tinh thần dũng cảm mạnh mẽ của các con và nhân dân vùng U Minh, thể hiện niềm tin ,niềm tự hào của má vào thế hệ kháng chiến ;đồng thời tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

câu 5: hình tượng bà má Hậu Giang cho thấy tinh thần yêu nước vô cùng cao đẹp của nhân dân ta. Dù tuổi già, sức yếu, mẹ vẫn kiên cường phải không sợ hy sinh, quyết không khai bí mật cho giặc.Tình yêu nước ấy xuất phát từ lòng căm thù giặc sâu sắc về niềm tin vào thế hệ con cháu . Trong mọi hoàn cảnh , nhân dân ta luôn một lòng bảo vệ tổ quốc . Chính tinh thần bất khuất đó đã làm sức mạnh chiến thắng của dân tộc

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: QUÊ HƯƠNG (Trích) Quê hương là một tiếng veLời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơiQuê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơTôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diềuLà cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quêChợ trưa mong mẹ mang về...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

(Nguyễn Đình Huân

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "".

Câu 3. Em có nhận xét gì về ước mơ của những người lính được thể hiện trong những dòng thơ dưới đây?

"chừng nào thật hoà bình
ra lộ bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích"

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.

Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết”tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.

Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.

Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

20 tháng 11 2025

Câu 1. Thể thơ của văn bản

Thể thơ lục bát.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.


Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính

→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽtâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.


Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”

→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.

  • Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
  • Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
    Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.

Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích

→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.

Câu 1.a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong...
Đọc tiếp

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản "Bếp lửa" Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

– Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

c1. Chỉ ra các yếu tố luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong bài viết:

– Luận đề: Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh người bà và bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

– Các luận điểm:

+ Luận điểm 1: Sự sóng đôi của hình tượng bếp lửa và bà.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức của cháu về bà.

++ Lí lẽ 2: Mùi khói gắn liền với sự hi sinh, vất vả của bà trong những năm tháng đói nghèo. (Bằng chứng: Câu văn trong tác phẩm Vợ nhặt)

++ Lí lẽ 3: Hình ảnh bếp lửa và bà gắn với tiếng chim tu hú khắc khoải. (Bằng chứng: Tu hú kêu trên những cánh đồng xa, Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?)

++ Lí lẽ 4: Hình ảnh bếp lửa và bà trong những năm giặc giã. (Bằng chứng: Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,/ Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ".)

+ Luận điểm 2: Ngọn lửa tượng trưng cho vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa trong sự tả thực đã chuyển hoá thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và của sức sống con người. (Bằng chứng: kì lạ và thiêng liêng, Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

++ Lí lẽ 2: Người đàn bà dưới mái ấm gia đình trong mọi trường hợp thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. (Bằng chứng: Người mẹ dân tộc A-va trong Cha và mẹ, lửa và nước)

c2. Nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố kể trên: Các yếu tố kể trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hướng đến việc làm rõ cho luận điểm và tập trung làm sáng tỏ cho luận đề của bài viết. Sự kết hợp giữa các yếu tố kể trên góp phần làm tăng sức thuyết phục cho văn bản.

Câu 2.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách con người.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:

HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:

c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

c2. Thân bài:

* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:

– Giải thích các khái niệm:

+ Tình cảm gia đình: Là tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, trách nhiệm, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình với nhau.

+ Nhân cách: Là những phẩm chất, đặc điểm tâm lí, tính cách, đạo đức của một con người, được hình thành và thể hiện qua thái độ, hành vi trong cuộc sống.

– Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách:

+ Là cái nôi nuôi dưỡng phẩm chất con người: Gia đình là trường học đầu tiên, nơi con người học được những bài học đạo đức cơ bản nhất (lòng yêu thương, sự sẻ chia, lòng biết ơn, sự bao dung, trách nhiệm,...). Tình cảm gia đình sẽ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người có một trái tim nhân ái.

+ Là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời: Tình cảm gia đình mang đến sự an toàn, che chở, giúp con người có đủ nghị lực để đối mặt và vượt qua khó khăn, thất bại trong cuộc sống.

+ Là kim chỉ nam có tác dụng định hướng cho con người: Gia đình truyền tải những giá trị văn hoá, truyền thống, giúp con người định hình lẽ sống, mục tiêu, lý tưởng, từ đó có định hướng rõ ràng trong cuộc đời. 

– Thực trạng về tình cảm gia đình hiện nay:

+ Mặt tích cực: Nhiều gia đình vẫn giữ gìn được sự ấm áp, truyền thống tốt đẹp, là điểm tựa cho các thành viên.

+ Mặt tiêu cực: Trong xã hội hiện đại, nhịp sống hối hả, áp lực công việc, sự phát triển của công nghệ và lối sống cá nhân hoá đang khiến khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, tình cảm gia đình đôi khi bị xao nhãng (ví dụ: thiếu giao tiếp, ít thời gian bên nhau).

– Hậu quả khi thiếu vắng tình cảm gia đình: Khi thiếu vắng tình yêu thương, sự quan tâm từ gia đình, con người dễ trở nên ích kỉ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, hoặc sa ngã vào những tệ nạn xã hội,...

– Giải pháp để vun đắp tình cảm gia đình trong bối cảnh hiện nay:

+ Mỗi thành viên cần chủ động dành thời gian chất lượng cho nhau (cùng ăn cơm, trò chuyện, tham gia các hoạt động chung).

+ Thế hệ trẻ cần học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với ông bà, cha mẹ; đồng thời, người lớn cũng cần cởi mở, tôn trọng sự khác biệt của giới trẻ.

+ ...

c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề được nghị luận.

0
(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:Chuyện Lý tướng quân "Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Chuyện Lý tướng quân

"Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm chức tướng quân, sai cầm một cánh hương binh đi đánh giặc. Quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về. Người trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng tay rách, rất là khổ sở, nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút động tâm.

Bấy giờ có một ông thầy tướng số đến cửa xin ăn và có thể nói được những việc họa phúc. Lý bảo xem tướng mình, ông thầy nói:

– Lợi cho việc làm không gì bằng nói thẳng, khỏi được tật bệnh không gì bằng thuốc đắng. Nếu ngài dung nạp thì tôi sẽ nói hết lời. Đừng vì đắng miệng mà ghét quở khiến tôi phải e dè kiêng tránh mới được.

Lý nói:

– Được, không hề gì.

Ông thầy nói:

– Điều thiện ác tích lâu sẽ rõ, sự báo ứng không sai chút nào. Cho nên luận số trước phải luận lý, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay Tướng quân có dữ mà không lành, khinh người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông tham dục để thỏa ngông cuồng, đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào mà trốn khỏi tai họa!

Lý cười:

– Ta đã có binh lính, có đồn lũy, tay không lúc nào rời qua mâu, sức có thể đuổi kịp gió chớp, trời dù có giỏi cũng sẽ phải tránh ta không kịp, còn giáng hoạ cho ta sao được.

Thầy tướng nói:

– Tướng quân cậy mình mạnh giỏi chưa thể lấy lời nói để cho hiểu được, vậy tôi có chùm hạt châu nhỏ, xin đưa tướng quân xem sẽ biết rõ dữ lành, tướng quân có bằng lòng xem không?

Nhân lấy chùm hạt châu ở trong tay áo ra. Lý trông xem, thấy trong đó có lò lửa, vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ ghê gớm, hoặc cầm thừng chão, hoặc cầm dao cưa, mình thì đương bị gông xiềng, bò khúm núm ở bên vạc dầu, lấm lét sợ toát mồ hôi. Hỏi có cách gì cứu gỡ không, thì thầy tướng nói:

– Gốc ác đã sâu, mầm vạ sắp nẩy. Cái kế cần kíp ngày nay chỉ còn có đuổi hết hầu thϊếp, phá hết vườn ao, trút bỏ binh quyền, quy đầu phúc địa, tuy tội chưa thể khỏi được, nhưng cũng còn có thể giảm trong muôn một.

Lý ngẫm nghĩ lúc lâu rồi nói:

– Thôi thầy ạ, tôi không thể làm thế được. Có ai lại vì lo cái vạ sau này chưa chắc đã có, mà vứt bỏ những cái công cuộc sắp thành làm hì hục trong mấy năm bao giờ.

Sau đó hắn càng làm những sự dâm cuồng, chém giết, không kiêng dè gì cả. Người mẹ tức giận nói:

– Ưa sống ghét chết, ai ai cũng lòng, đạo trời sáng tỏ, cớ sao mày hay làm những sự giết chóc như vậy. Không ngờ ta đến lúc tuổi già, lại phải trông thấy đứa con mắc hình lục có ngày. […] Năm 40 tuổi thì Lý chết ở nhà.

Trước đây có người bản châu là Nguyễn Quỳ, khảng khái chuộng điều khí tiết, vốn cùng chơi thân với Thúc Khoản(4), nhưng chết đã ba năm nay rồi. Một hôm Thúc Khoản đi chơi sớm, chợt gặp ở đường; Nguyễn Quỳ bảo Thúc Khoản rằng:

– Phụ thân sắp bị đem ra tra hỏi. Tôi vì quen thân với anh, nên đến bảo cho anh biết trước. Anh có muốn xem, tối mai tôi cho người đến đón, anh sẽ được xem. Nhưng xem rồi cần phải giữ kín. Nếu nói hở ra một lời thì tai vạ sẽ lây sang đến tôi ngay.

[Lược một đoạn: Nửa đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn. Thúc Khoản được tận mắt chứng kiến các phán quan tâu bày tội trạng, công lao của những người ấy. Người làm việc ác bị định tội, người hành thiện tích đức thì được làm tiên hoặc được cho chuyển kiếp vào nhà có phúc, hưởng lộc ba đời,… Đến lượt Hữu Chi, vì những tội ác chồng chất mà hắn đã từng gây ra, hắn đã bị trừng trị bằng những hình phạt vô cùng đau khổ: Lấy nước sôi rửa ruột để trị cái tội ghẹo vợ người, lấy truỳ thủ moi ruột để lòng tham không nổi lên nữa, bị đày vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, bị chim cắt mổ vào ngực, bị rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp kiếp. Thúc Khoản chứng kiến hết thảy, giật mình tỉnh dậy ở cõi thực. Chàng quyết định đem tán cấp của cải cho mọi người và đốt hết văn tự nợ, vào rừng hái thuốc để tu luyện.]

Lời bình:

Than ôi! Đạo trời chí công mà vô tư, lưới trời tuy thưa mà chẳng lọt, cho nên hoặc có người lúc sống khỏi vạ mà lúc chết bị hình. Song, chịu hoạ ở lúc sống, người đã không hiểu, phải tội ở lúc chết, người lại không hay; vì thế mà đời thường có lắm loạn thần tặc tử. Ví thử họ hiểu, họ hay thì dù bảo làm ác cũng không dám làm. Song Lý Mỗ đã trông thấy và biết rõ rồi lại còn làm tệ hơn. Đó là người hư tồi bậc nhất không chuyển đổi được, không còn thể nói bàn gì nữa."

(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, theo truyenhdt.com)

Chú thích:

(1) Mộ Đô: Yên Mô, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(2) Đông Thành: Huyện Đông Thành, nay thuộc Nghệ An.

(3) Đặng Tất: (Không rõ năm sinh, mất năm 1409) Một võ tướng giỏi và chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Trần Giản Định khởi xướng. Năm 1408, Đặng Tất chỉ huy đánh trận Bô Cô, giết được hai tướng Minh; Mộc Thạnh cũng suýt bị nguy, may chạy thoát. Cũng vì chiến công đó, Giản Định nghe lời gièm pha, không theo kế hoạch của Đặng Tất lại giết oan ông. Con trai Đặng Tất là Đặng Dung đã tức giận bỏ về Nghệ An đi theo Trần Quý Khoáng.

(4) Thúc Khoản: Con trai của Lý Hữu Chi.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 3. Theo em, nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Nhân vật ấy được mô tả với những nét tính cách nào?  

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện và nêu tác dụng của chi tiết ấy.

Câu 5. Phát biểu ý nghĩa của văn bản trên và rút ra bài học cho bản thân. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (truyện tự sự trung đại), trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu 2.

Ngôi kể thứ ba.

Câu 3.

Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

Tính cách: tàn ác, dâm cuồng, tham lam, coi thường đạo lí và lời khuyên, biết luật nhân quả nhưng vẫn cố tình làm ác.

Câu 4.

Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xét tội các linh hồn và hình phạt ở cõi âm.

Tác dụng: tăng sức hấp dẫn cho truyện, khắc sâu tư tưởng nhân quả – thiện ác báo ứng, răn đe con người.

Câu 5.

Văn bản khẳng định đạo trời công bằng, gieo nhân nào gặt quả nấy; kẻ làm ác dù thoát tội lúc sống cũng không tránh khỏi trừng phạt. Truyện phê phán những kẻ cố chấp, bất nhân và đề cao lối sống hướng thiện. Bài học rút ra: mỗi người cần sống có đạo đức, biết kiềm chế dục vọng, làm việc thiện, tránh làm điều ác để không tự chuốc lấy hậu quả đau khổ cho bản thân và người khác.

18 tháng 12 2025

1.văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì

2. Ngôi thứ ba

3. NV chính : lý hữu chí

+ Đặc điểm: dữ tợn ,tham lam,độc ác, ích kỉ,bạo ngược, coi thường đạo lý

4.chi tiết : thúc khoán xuống minh ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn

Tác dụng: tăng tính hấp dẫn

5 truyện phê phán về cách sống độc ác ích kỉ gieo nhân nào gặp quả đấy, là lời răn dậy về việc sống lương thiện, sẻ chia và vì cộng đồng