Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong truyện ngụ ngôn "Rùa và Thỏ", em ấn tượng với nhân vật Rùa.
Phân tích nhân vật rùa:
- Là một con vật chậm chạp và không nhanh nhẹn như Thỏ
- Việc làm: đã thể hiện sự kiên trì và bền bỉ trong cuộc đua với Thỏ.
- Điểm đáng chú ý đầu tiên của Rùa là sự kiên trì.
+ Dù biết rằng mình không thể chạy nhanh bằng Thỏ, Rùa vẫn quyết tâm tham gia cuộc đua và không bao giờ từ bỏ. Luôn miệt mài,kiên trì, và cuối cùng đã về đích trước Thỏ.
- Mở rộng:
+ Ngoài ra, Rùa còn thể hiện sự bền bỉ. Trong suốt cuộc đua, Rùa đã không ngừng nghỉ, không bị mệt mỏi hay nản lòng. Luôn giữ tinh thần lạc quan và tiếp tục đi đến phía trước, cho đến khi về đích.
- Bài học từ nhân vật Rùa:
+ Cúng ta có thể rút ra được bài học quý giá về sự kiên trì và bền bỉ.
+ Dù có khó khăn đến đâu, chúng ta cũng nên giữ vững tinh thần và không bao giờ từ bỏ mục tiêu của mình. Chỉ cần kiên trì và bền bỉ, chúng ta sẽ đạt được những thành công mà mình mong muốn.
Câu 1: Nguyễn Du là nhà thơ tiêu biểu của nền Văn học trung đại Việt Nam. Tên là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du đã được sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về Văn học. Cuộc đời ông gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sự của giai thoại cuối thế kỉ XVIII - XIX. Chính yếu tố này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngòi bút của Nguyễn Du về hiện thực đời sống. Sự ngiệp văn học của ông gồm những tác phẩm rất có giá trị cả về chữ Hán và chữ Nôm. Tiêu biểu như '' Thanh Hiên thi tập '', '' Đoạn trường tâm thanh '', ....
- Việc tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp, của Đại thi hào Nguyễn Du có ý nói nghĩa quan trọng cho việc đọc hiểu các sáng tác của Nguyễn Du nói chung và Truyện Kiều nói riêng:
+) Giúp chúng ta hình dung rõ nét được về đặc điểm sáng tác của Nguyễn Du đó là: thể hiện tư tưởng, tình cảm, tính cách của tác giả.
+) Hơn thế nữa, các tác phẩm đặc biệt nhất là Truyện Kiều đều đã thể hiện được tất cả những tư tưởng nhân đạo rõ nét.
+) Qua đó, chúng ta hiểu được nguyên nhân sâu sắc tại sao các tác phẩm mà ông đưa đến cho những độc giả đều thu hút và thành công đến thế.
Câu 3: Đối với bản thân tôi, sức sống của Truyện Kiều trong dòng chảy văn hóa, văn học dân tộc là vô cùng mãnh liệt. Bởi lẽ mặc dù Truyện Kiều đã được ra đời từ cách đây rất lâu rồi nhưng hiện giờ, trong cuộc sống nhộn nhịp cùng thời kì hội nhập quốc tế khiến cho con người ta vô tình quên đi mất những giá trị tinh hoa của các tác phẩm Văn học, thơ ca thì '' Truyện Kiều '' vẫn còn ở đó, còn lại và đọng lại mãi trong người dân đất Việt. Hơn thế nữa, sức sống của nó không chỉ ở biên giới của một quốc gia mà còn có ở khắp tất cả mọi nơi trên các đất nước thế giới.
- Theo tôi, chúng ta cần phải làm những việc sau đây để giữ gìn và phát huy những giá trị của Truyện Kiều - Nguyễn Du trong tình hình/ hoàn cảnh hiện nay: Phát huy giá trị của Truyện Kiều ra khắp các nước ở trên thế giới bằng cách dịch nó ra nhiều thứ tiếng khác nhau.
+) Tuyên truyền những ý nghĩa to lớn mà tác phẩm này mang lại cho chúng ta.
+) Gìn giữ nó, tuyệt đối không thể để nó bị đánh cắp, sao chép bản quyền và bị vùi lấp bởi những hạt bụi của thời gian.
Câu 4: Theo tôi nghĩ, nó có ý nghĩa rất to lớn đối với các thế hệ sau. Nó nhắc nhở học sinh chúng ta về nét đẹp văn hóa của cả dân tộc Việt Nam, đó là một điều rất đáng để tự hào. Nó còn nhắc nhở ta về công lao của đại thi hào Nguyễn Du, dã có công đưa tác phẩm Truyện Kiều trở thành một kiệt tác lớn. Truyện Kiều là thể hiện của Nguyễn Du về một ước mơ - cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người. Qủa thật, tác phẩm là tiếng lòng, nỗi niềm của tác giả đã hi vọng đến mai sau để lại cho hậu thế nhiều niềm xúc động đồng cảm thật tha thiết làm sao! Cuộc thi này thật sự có rất nhiều ý nghĩa lớn trong việc nhắc nhở thế hệ mai sau về một kiệt tác, đỉnh cao tinh hoa của Văn học dân tộc.
Bạn Tham Khảo Nha!
Tôi là một chú ếch nhỏ sống ở ven đầm. Bài học đầu tiên của tôi là câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác liên quan đến một kẻ trong họ ếch. Ngày xưa, rất xưa rồi, có lẽ từ hồi cụ, kị của tôi còn sống, loài ếch thường sống trong những cái giếng khơi cùng các loài động vật bé nhỏ khác chứ chưa ở ao hồ như ngày nay. Có một lão ếch vì sống ở đó lâu ngày trong giếng nên nó không biết thế giới ở ngoài kia ra sao. Xung quanh lão chỉ có vài con cua, ốc, nhái bé nhỏ... nên lão tưởng rằng mình là to, là mạnh nhất. Ếch ta tự hào lắm về tiếng kêu ồm ộp của mình, mỗi khi lão kêu làm vang động cả cái giếng nhỏ, khiến những con vật kia rất hoảng sợ. Ngẩng mặt lên nhìn trời, lão thấy bầu trời chỉ bằng chiếc vung chứ không cao và rộng lớn như người ta thường đồn đại. Ếch ta kiêu hãnh lắm và cho rằng trời quá bé nhỏ còn nó mới xứng là một vị chúa tể, chẳng có ai bằng lão cả. Thế nên, một năm trời mưa to, nước trong giếng dâng cao, đưa ếch ta ra ngoài. Theo thói quen, lão cất tiếng kêu ồm ộp và tưởng rằng ai cũng sợ như dưới đáy giếng kia. Lão đưa cặp mắt lên nhìn và vẫn cho rằng bầu trời bé tẹo như cái vung nên chẳng để ý gì đến xung quanh. Bỗng ếch thấy tối sầm lại, không nhìn rõ gì nữa, một vật gì rất lớn che mất tầm nhìn của lão. Ếch đâu biết rằng đó là chân của một con trâu nên đà bị giẫm bẹp. Thế là hết đời một con ếch ngông nghênh.
Lạc đề rồi, bài này văn 6, văn 7 là Ếch ngồi đáy giếng của Trang Tử
“Con người càng tiên tiến hiện đại thì lại càng cô đơn” - một nhận định ngắn gọn nhưng chứa đựng một nghịch lý sâu sắc về hành trình phát triển của nhân loại. Đó là tiếng thở dài của linh hồn con người giữa một thế giới ngày càng được kết nối bằng công nghệ nhưng lại dường như đánh mất đi những kết nối tinh thần chân thật nhất. Liệu rằng sự tiến bộ có phải là nguyên nhân dẫn đến sự cô đơn, hay nó chỉ là một hệ quả tất yếu trong quá trình con người vươn tới những đỉnh cao mới?
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, sự tiên tiến và hiện đại hóa đã mang lại cho con người một cuộc sống vật chất đầy đủ chưa từng có. Từ những tiện nghi trong sinh hoạt, những phương tiện di chuyển tốc độ cao, cho đến mạng lưới internet toàn cầu - tất cả đều được tạo ra để phục vụ và kết nối con người. Chúng ta có thể trò chuyện với một người bạn ở cách nửa vòng trái đất chỉ bằng một cú chạm màn hình, hay cập nhật tin tức của cả thế giới trong nháy mắt. Thế nhưng, nghịch lý thay, chính trong thời đại kết nối ấy, sự cô đơn lại trở thành một “căn bệnh” phổ biến của xã hội hiện đại.
Sự cô đơn ấy, trước hết, bắt nguồn từ nhịp sống hối hả và sự thống trị của các mối quan hệ ảo. Con người bị cuốn vào vòng xoáy của công việc, của những mục tiêu cá nhân và những lo toan cơm áo gạo tiền. Họ có quá ít thời gian để dừng lại, lắng nghe và thấu hiểu những người xung quanh. Các mối quan hệ thân tình, sâu sắc dần được thay thế bằng những tương tác nhanh, gọn, tiện lợi trên mạng xã hội. Chúng ta có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn “bạn bè” ảo, nhưng lại khó lòng tìm được một người có thể sẻ chia những nỗi niềm sâu kín nhất giữa đêm khuya. Sự hiện diện của những “like”, “comment” tạo ra một ảo giác về sự kết nối, nhưng thực chất, nó chỉ là một thứ hào nhoáng bề ngoài, che giấu đi một tâm hồn đang khao khát được lắng nghe và thấu hiểu một cách chân thành.
Hơn thế, sự tiên tiến cũng khiến con người trở nên cá nhân hóa hơn bao giờ hết. Xã hội hiện đại tôn vinh chủ nghĩa cá nhân, khuyến khích mỗi người trở nên độc lập và tự chủ. Điều đó là tích cực, nhưng nó cũng vô tình khoét sâu thêm hố ngăn cách giữa người với người. Mỗi cá nhân trở thành một “ốc đảo” biệt lập, với những suy nghĩ, lo âu và áp lực riêng mà họ cho rằng chỉ mình mình phải gánh chịu. Họ ngại chia sẻ, ngại bộc lộ điểm yếu vì sợ bị đánh giá, sợ làm phiền người khác. Sự cô đơn trong xã hội hiện đại không phải là không có người bên cạnh, mà là đứng giữa một đám đông nhưng không thể nào tìm được sự đồng điệu, là có cả một thế giới trong lòng bàn tay nhưng không biết gửi gắm nỗi lòng vào đâu.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận một chiều, chúng ta sẽ rơi vào sự bi quan. Bản thân sự tiên tiến không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra cô đơn. Nó là một công cụ, và cách chúng ta sử dụng công cụ ấy mới quyết định chúng ta cô đơn hay hạnh phúc. Chính sự lệ thuộc thái quá vào công nghệ, sự đánh đổi các giá trị tinh thần để đổi lấy lợi ích vật chất mới là cội rễ của vấn đề. Sự tiên tiến đáng lẽ phải giải phóng con người khỏi những lao động chân tay nặng nhọc để họ có nhiều thời gian hơn cho đời sống tinh thần, cho gia đình và bạn bè. Nhưng thay vào đó, nhiều người lại để mình bị cuốn vào những mục tiêu không điểm dừng, những cuộc chạy đua không hồi kết.
Vậy đâu là lối thoát? Có lẽ, chìa khóa nằm ở chính nhận thức và sự lựa chọn của mỗi chúng ta. Sự tiên tiến là không thể đảo ngược, và chúng ta không nên từ chối nó. Thay vào đó, hãy học cách làm chủ công nghệ, sử dụng nó như một phương tiện để củng cố, chứ không phải thay thế, những mối quan hệ thực. Hãy dành thời gian chất lượng cho những người thân yêu, học cách lắng nghe và chia sẻ một cách chân thành. Hãy can đảm bước ra khỏi vỏ bọc của chính mình, tham gia vào các cộng đồng có cùng sở thích và đam mê. Quan trọng hơn, hãy học cách sống chậm lại, lắng nghe tiếng nói nội tâm và tìm thấy sự bình yên trong chính mình. Bởi lẽ, khi ta hòa hợp được với bản thân, thì dù thế giới bên ngoài có ồn ào, xô bồ đến đâu, ta vẫn có thể tìm thấy một chốn bình yên để không cảm thấy cô đơn.
Tóm lại, câu nói “Con người càng tiên tiến hiện đại thì lại càng cô đơn” là một lời cảnh tỉnh sâu sắc. Nó phơi bày một nghịch lý của thời đại: càng kết nối ảo, càng đánh mất kết nối thật. Sự tiến bộ về mặt vật chất và công nghệ dường như đang vượt xa sự phát triển của đời sống tình cảm và tinh thần. Nhưng cuối cùng, hạnh phúc và sự kết nối đích thực không nằm ở những cỗ máy hay thuật toán, mà nằm ở trái tim biết yêu thương và sẻ chia. Hãy để sự tiên tiến là đôi cánh nâng đỡ chúng ta bay cao, chứ đừng để nó trở thành những bức tường vô hình khiến chúng ta xa cách và cô đơn.
Ca dao, dân ca là tấm gương phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của nhân dân lao động. Nó không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó thiết tha đối với quê hương, đất nước… mà còn là tiếng thở than về số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ cực, đắng cay.
Những câu hát than thân ngoài ý nghĩa than thân trách phận còn có ý nghĩa, phản kháng, tố cáo sự thối nát, bất công của xã hội phong kiến đương thời. Điều đó được thể hiện chân thực và sinh động qua hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ đa dạng, phong phú. Ba câu hát sau đây là những ví dụ tiêu biểu:
1. Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con ?
2. Thương thay thân phận con tằm,
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.
Thương thay lũ kiến li ti,
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.
Thương thay hạc lánh đường mây,
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.
Thương thay con cuốc giữa trời,
Dầu kêu ra máu có người nào nghe.
3. Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi, biết tấp vào đâu?
Cả ba câu hát đều sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền với âm hưởng ngậm ngùi, thương cảm, cùng với những hình ảnh so sánh hoặc ẩn dụ thường thấy trong ca dao để diễn tả thân phận bé mọn của lớp người nghèo khổ trong xã hội cũ (con cò, con tằm, con kiến, trái bần…). Mở đầu mỗi câu thường là những cụm từ như Thương thay… Thân em như… và nội dung ý nghĩa được thể hiện dưới hình thức câu hỏi tu từ.
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Cho ao kia cạn cho gầy cò con ?
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.
Thương thay lũ kiến li ti,
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.
Thương thay hạc lánh đường mây,
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.
Thương thay con cuốc giữa trời,
Dầu kều ra máu có người nào nghe.
CN là có 1 chú rùa đang chạy bộ
VN là để rèn luyện sức khỏe....chế nhạo chú rùa
Hoặc
CN là thoáng một cái......quyết định dừng lại
VN là để nghỉ ngơi ......chìm vào giấc ngủ
hay
CN là thỏ mới tỉnh dậy và thấy rùa
VN là đã chạy về đích
câu 1:
Cùng viết về ánh trăng nhưng trong hai bài thơ “Cảnh khuya” và bài thơ “Rằm tháng Giêng”, Hồ Chí Minh lại thể hiện một sắc thái, một cảm xúc đặc biệt. Cùng là ánh trăng đấy nhưng hình ảnh trong mỗi bài thơ lại mang một nét đẹp, lại chứa đựng những cảm xúc riêng của nhân vật trữ tình. Nếu trong bài thơ Cảnh khuya, Hồ Chí Minh vẽ ra khung cảnh đêm khuya ánh trăng được đặt trong mối quan hệ với vạn vật nơi rừng sâu và phản chiếu hình ảnh con người đang ôm mối suy tư khi liên quan đến vận nước, thì bài thơ Rằm tháng Giêng lại là bức tranh mùa xuân dưới ánh trăng Rằm, hình ảnh của nhân vật trữ tình đang trong tư thế lạc quan tự tại và niềm tin vào sự chiến thắng của Cách mạng, vào sự trường tồn của vận nước. Trong bài thơ Cảnh khuya, Hồ Chí Minh đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, nó dường như trở lên sinh động hơn trong đêm trăng nhưng nổi bật lên trong bức tranh ấy là vẻ đẹp của một con người cách mạng đang trăn trở, suy tư về công việc của dân tộc, của đất nước
câu 2:
Mở bài:
- Dẫn dắt, trích dẫn được nhận định và giới thiệu khái quát hình ảnh người lính trong hai bài thơ.
Thân bài:
- Nhấn mạnh khẳng định tính đúng đắn của nhận định. Người lính hiện lên đẹp đẽ và chân thực bởi hai nhà thơ đều là người lính trực tiếp tham gia chiến đấu.
* Vẻ đẹp chung của những người lính
- Họ đều thấm nhuần tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập tự do để đi vào cuộc chiến đấu với tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
- Họ bất chấp những gian khổ, thiếu thốn đến tột cùng của cuộc kháng chiến để hoàn thành nhiệm vụ.
- Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó, yêu thương bền chặt, chan hoà.
- Tinh thần lạc quan yêu đời, tâm hồn lãng mạn.
* Vẻ đẹp riêng.
Đồng chí
- Người lính chống Pháp xuất thân từ nông dân nghèo khổ. Họ chân đất đầu trần bước vào đời lính. Họ là những anh lính hiền lành chất phác giản dị, chân thật.
- Cuộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ, đói rét, bệnh tật thiếu thốn tư trang, thuốc men. Bởi đây là những năm đầu kháng chiến cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ.
“Bài thơ về tiểu đội xe không kinh”
- Hình tượng người lính đi vào cuộc chiến đấu đã có bước phát triển vượt bậc về đời sống cơ sở vật chất và tinh thần so với người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nếu bài Đồng chí nói về người lính bộ binh ở núi rừng Việt Bắc thì “Bài thơ về tiểu đội xe không kinh” lại nói về người lính thuộc binh chủng lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời đánh Mĩ . Họ không còn ‘ Áo anh rách vai…” nhưng họ lại gặp những khó khăn khác đó là bom giặc đã hủy diệt sự sống và phá hoại những chiếc xe. Song bất chấp hiểm nguy họ vẫn ung dung hiên ngang ngày đêm lao ra chiến trường đánh Mĩ.
- Ở họ luôn phơi phới một tinh thần lạc quan cách mạng, trẻ trung yêu đời dũng cảm , ý chí kiên định rất phù hợ với chất lính lái xe Trường Sơn.
- Họ là thế hệ trẻ Việt nam thời điểm lịc sử quyết liệt nhất đối mặt với kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới. Họ chính là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là hình đẹp của anh bộ đội cụ Hồ.
* Đánh giá nâng cao mở rộng vấn đề:
.- Qua hình ảnh anh chiến sĩ Trường Sơn, chúng ta nhận ra sự gần gũi, thân quen giữa những người lính qua các thời kì. Từ anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp trong thơ Chính Hữu đến anh chiến sĩ Trường Sơn thời chống Mĩ trong thơ Phạm Tiến Duật đều có chung một nét đẹp truyền thống kiên cường, bất khuất, dũng cảm và đầy tinh thần lạc quan yêu đời. Với điều kiện thuận lợi hơn, người lính thời chống Mĩ đã được trau rèn, huấn luyện. Các anh đã kế thừa và phát huy được tinh thần cách mạng vốn đã vững vàng nay lại vững vàng hơn.
- Tuy cùng khai thác chất liệu thơ từ đời sống thực với những chi tiết thật đến trần trụi của cuộc sống người lính nhưng hai bài thơ còn khác nhau bởi bút pháp và giọng điệu riêng của mỗi tác giả và cảm hứng nổi bật ở mỗi bài.
Đồng chí.
- Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện câu thơ mộc mạc, tự nhiên.
- Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm.
Cảm hứng của Chính Hữu hướng vào vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội của người lính. Còn Phạm Tiến Duật thì lại tập trung làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng, tinh thần dũng cảm, bất chấp mọi khó khăn và bom đạn kẻ thù của những người lính lái xe.
“Bài thơ về tiểu đội xe không kinh”.
- Tác giả đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường, cùng với ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ tự nhiên, khoẻ khoắn, có nét khá đặc biệt gần với văn xuôi, gần với lời nói hàng ngày. Nét nổi bật là giọng điệu vui, tinh nghịch, lạc quan. Nó làm nên chất trẻ trong thơ Phạm Tiến Duật nói riêng và thơ chống Mĩ nói chung.
- Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm nhưng có sự gia tăng đáng kể của các yếu tố tự sự. Điều đó tạo nhiều cơ sở để biểu cảm đồng thời tăng sức phản ánh hiện thực cho thơ.
Kết bài :
- Khẳng định sự đúng đắn của nhận định .
- Liên hệ, suy nghĩ trách nhiệm của bản thân.
Em không đồng ý với ý kiến trên bởi người ta hay nói "nét chữ nết người". Luyện chữ đẹp còn là một cách rèn tư duy về sự cẩn thận, chỉnh chu. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chia sẻ: “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô giáo và bạn đọc của mình”. Dù có trong thời đại nào, chữ viết vẫn luôn có một vị trí không thể thay thế được. Nó mang cá tính sáng tạo của mỗi cá nhân và cả hồn cốt dân tộc trong từng nét chữ...
Câu chuyện rùa và đại bàng là một câu chuyện ngụ ngôn mang ý nghĩa sâu sắc về sự tự nhận thức và giới hạn của bản thân. Trong truyện rùa tuy chậm chạp và sống an toàn dưới mặt đất nhưng lại không bằng lòng với cuộc sống của mình nên đã nhờ đại bàng đưa lên cao để được bay lượn như loài chim. Khi ở trên cao rùa không chịu được hoàn cảnh mới và cuối cùng đã rơi xuống đất dẫn đến cái chết. Qua câu chuyện tác giả muốn nhắn nhủ rằng mỗi loài mỗi người đều có khả năng và vị trí riêng nếu không hiểu rõ bản thân mà chạy theo ước muốn không phù hợp thì sẽ phải gánh chịu hậu quả đáng tiếc.