Trong bài Đại cáo bình Ngô, “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi là?...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

1. Mở đầuTrong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.2. Nội dunga. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh –...
Đọc tiếp

1. Mở đầu
Trong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.
2. Nội dung
a. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương
-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh – người chồng hay ghen, thô bạo.
-Khi chồng đi lính, một mình lo toan chăm sóc mẹ chồng già yếu và con nhỏ.
-Vì lời nói ngây thơ của con, bị Trương Sinh nghi oan thất tiết.
-Quá uất ức, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang.
b. Phẩm chất của Vũ Nương
-Hiền thục, thủy chung: luôn giữ đạo vợ chồng, mong chồng bình yên trở về.
-Hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng tận tình, lo tang ma chu đáo.
-Yêu thương con: hết lòng nuôi nấng, dỗ dành con nhỏ.
-Trong sạch, giữ phẩm hạnh: dù chịu oan khuất vẫn giữ trọn lòng thủy chung.
c. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm
-Hiện thực: phản ánh xã hội phong kiến bất công, số phận phụ nữ phụ thuộc vào chồng.
-Nhân đạo: xót thương cho thân phận Vũ Nương, khẳng định phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, đồng thời ước mơ công lý – bằng chứng là việc Linh Phi cứu giúp, trả lại danh dự cho nàng.
3. Kết luận
-Hình tượng Vũ Nương vừa đẹp đẽ vừa bi kịch. Nàng là đại diện cho người phụ nữ Việt Nam xưa: dịu dàng, thủy chung, hiếu thảo nhưng lại chịu nhiều oan nghiệt. Tác phẩm vừa tố cáo xã hội bất công, vừa ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn phụ nữ, để lại bài học về sự trân trọng và thấu hiểu trong hạnh phúc gia đình.

 

1
29 tháng 9 2025

1. Tên báo cáo nghiên cứu:

Bi kịch tình yêu và bài học mất nước trong truyền thuyết An Dương Vương- Mị Châu- Trọng Thuỷ

2. Lý do:

- Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tuyền thuyết là một bộ phận quan trọng, phản ánh những sự kiện lịch sự xa xưa qua lăng kính nghệ thuật dân gian. Trong số đó truyện An Dương Vương- Mị Châu- Trọng Thuỷ là một trong những truyền thuyết tiêu biểu và giàu giá trị nhất.

- Câu truyện không chỉ tái hiện công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc thời Âu Lạc mà còn chứa đựng những bài học sâu sắc. Đặc biệt, truyện khắc hoạ một bi kịch kép: bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu. Sự nhẹ dạ của Mị Châu, sự lợi dụng rồi hối hận của Trọng Thuỷ, sự chủ quan của An Dương Vương đều trở thành những chi tiết nghệ thuật để nhân dân rút ra thông điệp: cảnh giác trước kẻ thù, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với quốc gia.

- Ngoài ra, tác phẩm còn đặc sắc ở chỗ kết hợp giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo, vừa phản ánh hiện thực vừa gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân. Chính sự hoà quyện này tạo nên sức sống lâu bền cho truyền thuyết trong tâm thức người Việt.

- Chính vì vậy, em chọn nghiên cứu vấn đề " Bi kịch tình yêu và bài học mất nước trong truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ" để có thể hiểu sâu hơn giá trị văn hoá, nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh mà tác phẩm đem lại.

3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu

a) Mục đích nghiên cứu:

- Giải thích được vì sao truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ vừa mang tính lịch sử vừa mang tính nghệ thuật dân gian.

- Phân tích bi kịch tình yêu của Mị Châu và Trọng Thuỷ như một minh chứng cho sự gắn bó giữa tình cảm cá nhân và vậ mệnh dân tộc.

- Khẳng định giá trị tư tưởng lớn của truyện: đề cao cảnh giác trách nhiệm trong việc giữ nước đồng thòi bộc lộ tấm lòng bao dung của nhân dân đối với những số phận bi kịch.

➞ Qua đó, nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn văn học dân gian mà còn rút ra được những bài học ý nghĩa trong bối cảnh hiện đại.

b) Đối tượng nghiên cứu

- Tác phẩm chính: truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và Truyền thuyết Việt Nam.

- Nguồn tham khảo: một số công trình nghiên cứu về văn học dân gian, truyền thuyết lịch sử, cũng như bác bài phân tích, bình giảng về tác phẩm.

- Khía cạnh tập trung: hình tượng nhân vật ( An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thuỷ ), các chi tiết kì ảo ( Rùa vàng, nỏ thần, lông ngỗng, ngọc trai - giếng nước ) và thông điệp lịch sử - nhân sinh mà người dân gửi gắm qua truyện.

c) Phương pháp nghiên cứu

1. Phân tích - tổng hợp:

- Phân tích chi tiết cốt truyện, tính cách nhân vật, yếu tố kì ảo.

- Từ đó tổng hợp thành các luận điểm khái quát về nội dung và nghệ thuật

2. So sánh - đối chiếu:

- So sánh với các truyền thuyết khác về chủ đề mất nước ( vd: Thánh Gióng, Truyện Hai Bà Trưng,...) để thấy nét riêng của bi kịch Mị Châu - Trọng Thuỷ.

3. Lịch sử - văn hoá:

- Đặt truyện trong bối cảnh lịch sử dựng nước và chống giặc ngoại xâm thời Âu Lạc, kết hợp với hoàn cảnh xã hội để lý giải nguyên nhân và ý nghĩa của các chi tiết truyện.

4. Tiếp cận văn hoá dân gian:

- Chú trọng khai thác các biểu tượng dân gian: nỏ thần ( sức mạnh quốc gia ), lông ngỗng ( sự nhẹ dạ ,cả tin), ngọc trai - giếng nước ( sự hoá giải và lòng bao dung ).

- Qua đó lý giải cách nhân dân vừa phán xét vừa cảm thông với số phận nhân vật.


mọi người hãy xem bài em có đúng k ạNghị luận xã hội - Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Trong bài thơ “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu có viết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”“Cái quý giá nhất của con người là đời sống. Vì đời người chỉ sống có một lần”. Vậy phải sống sao cho “khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ...
Đọc tiếp

mọi người hãy xem bài em có đúng k ạ

Nghị luận xã hội - Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Trong bài thơ “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu có viết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”

“Cái quý giá nhất của con người là đời sống. Vì đời người chỉ sống có một lần”. Vậy phải sống sao cho “khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn?”. Để trả lời với tất cả chúng ta câu hỏi đó, trong bài “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu đã tâm sự bằng những câu thơ giản dị mà rất sâu sắc: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”

Tố Hữu muốn khẳng định trước hết sống phải có ích cho đời. Là con chim không chỉ biết kêu mà cao hơn nữa phải biết cất tiếng hót ca lanh lảnh hót cho đời, tạo nên những bản nhạc rộn rã tươi vui cho đất trời. Cũng như vậy, đã là chiếc lá thì chiếc lá phải xanh tươi đưa lại sức sống cho cây cối, làm mát mắt cho đời và hút nhiều thán khí, nhả ra nhiều ô-xy đem lại sự sống cho con người và muôn loài vật trên trái đất này. Ngay cả những sinh vật hết sức nhỏ bé như thế, mà chúng còn biết hiến dâng những gì tốt đẹp nhất, có ý nghĩa nhất giúp ích cho đời. Vậy, chúng ta là những con người “Chúa tể của trần gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Sêch-xpia), là “Hoa của đất” (tục ngữ), là động vật duy nhất có trí tuệ và tâm hồn, chúng ta phải làm gì và sống ra sao đây để cùng muôn loài tô điểm cho quê hương, đất nước, cho “Trái đất này là ngôi nhà của chúng mình” ngày một tươi đẹp hơn.

Muốn sống cho xứng đáng tên gọi thiêng liêng cao quý của mình “Con người! Ôi hai tiếng ấy vang lên mới tự hào và kiêu hãnh làm sao!” (Gor –ki), mỗi chúng ta phải có lẽ sống đẹp. Nghĩa là phải biết ứng xử một cách đẹp đẽ giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, với quê hương đất nước. Nói như Tố Hữu, lẽ sống đẹp là lẽ sống có “vay” thì có “trả”, có “nhận”, thì phải có “cho”, phải cống hiến hy sinh sức lực, tâm trí, thậm chí là cả sự sống của mình cho đời, để đời ngày một “đàng hoàng”, “tươi đẹp hơn”.
Mỗi chúng ta giờ đây được sống trên đời, hít thở khí trời, đứng thẳng hai chân kiêu hãnh làm người, chúng ta đã được nhận quá nhiều từ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà tổ tiên, từ tình yêu thương đùm bọc của bà con, đồng bào, từ sự hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ đã đổ máu xương để xây dựng quê hương và giữ gìn đất nước thanh bình tươi đẹp như hôm nay… Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã được thừa hưởng biết bao thành quả của người đi trước để lại và người khác đem cho. Như thế là chúng ta đã “vay”, đã “mắc nợ” người thân, nhân dân, đất nước nhiều rồi! Là con người vốn giàu nhân cách và lòng tự trọng, lẽ nào chúng ta nhắm mắt ăn quỵt được sao? Không! Chúng ta phải “trả”, hơn nữa phải “cho” nhiều hơn những gì mà chúng ta đã “vay”, đã “nhận”. Đó là hành động vừa đúng với nhân tâm, vừa hợp với Đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn”. Cách đây hơn nửa thiên niên kỷ, thi hào dân tộc Nguyễn Trãi, một người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam nhất trong lịch sử quá khứ cũng từng đã viết “Ăn lộc phải đền ơn kẻ cấy cày”, đó sao?

Trong sự nghiệp xây dựng chính quyền và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, ở Việt Nam ta đã có biết bao con người sống rất đẹp cho đạo lý, lẽ sống “trả”, “vay” đó, như Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Viết Xuân, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Nguyễn Văn Trỗi, Lý Tử Trọng, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc,…Họ sẵn sàng “cho” cả cuộc đời, sẵn sàng đổ máu mình cho Tổ quốc đơm hoa Độc lập, kết trái tự do. “Và em nữa. Lưng đèo Mụ Gia, ai biết tên em? Chỉ biết cô gái nhỏ anh hùng. Sống chết từng đêm; Mà lòng thanh thản lạ: Đâu phải hy sinh, em vinh dự vô cùng”. (Tố Hữu – gửi TNXP).

Noi theo những tấm gương cao đẹp đó, giờ đây, những người đang sống lại tiếp tục hy sinh, cống hiến tâm trí và sức lực của mình để làm giàu cho Tổ quốc:

“Ta lại hành quân như năm nào đánh Mĩ

Những sư đoàn không súng, lại xung phong

Ta lại thắng như những chàng dũng sĩ

Biến và hoang vu, thành cơm áo hoa hồng.”

(Tố Hữu).

Hàng ngày, hàng giờ trên đất nước ta có biết bao con người đã “cho” đi những giọt mồ hôi thấm đẫm tâm não để “nhận” lại những công trình khoa học, những sản phẩm lao động; hoặc “cho” đi những giọt máu đào nhân đạo để cho người bệnh có nụ cười ngọt ngào, vì sự sống được hồi sinh; hoặc “cho” đi những đồng tiền mà mình tiết kiệm được để cho những người nghèo, cơ nhỡ có những điều kiện vật chất tối thiểu để hướng cuộc đời về phía tương lai.

Bên cạnh biết bao con người ngày đêm miệt mài học tập, lao động, cống hiến tài năng sức lực cho xã hội, đất nước, thì có một bộ phận không nhỏ của thanh niên lại chỉ biết “vay” và “nhận”, thậm chí còn “nhận” quá nhiều mà không chịu “trả”. Họ đua đòi theo con đường ăn chơi hưởng lạc: đến với vũ trường, tìm đến “nàng tiên nâu”. “cái chết trắng”, để tiêu vèo hết cuộc đời trong chốc lát, vi những thú vui vô nghĩa, mà không hề biết hổ thẹn. Những người có lối sống ích kỷ và bất nhân, vô ơn bạc nghĩa ấy thật đáng phê phán, lên án, phỉ nhổ.

Như vậy, mấy câu thơ giản dị của Tố Hữu đã thể hiện một lẽ sống biết “vay”-“trả”; “cho”-“nhận” đúng lương tâm và đạo lí rất đẹp của người Việt Nam xưa nay. Hiểu được lẽ sống đó, mỗi chúng ta, ở từng cương vị cuộc sống khác nhau, hãy cống hiến hết sức mình, hãy “cho” thật nhiều và gắng làm “Một mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời” như nhà thơ Thanh Hải đã viết:

“Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến”

5
29 tháng 10 2016

Bài làm hay

1 tháng 11 2016

cam on

1. Mở đầuTrong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.2. Nội dunga. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh –...
Đọc tiếp

1. Mở đầu

Trong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.

2. Nội dung

a. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương

-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh – người chồng hay ghen, thô bạo.

-Khi chồng đi lính, một mình lo toan chăm sóc mẹ chồng già yếu và con nhỏ.

-Vì lời nói ngây thơ của con, bị Trương Sinh nghi oan thất tiết.

-Quá uất ức, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang.

b. Phẩm chất của Vũ Nương

-Hiền thục, thủy chung: luôn giữ đạo vợ chồng, mong chồng bình yên trở về.

-Hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng tận tình, lo tang ma chu đáo.

-Yêu thương con: hết lòng nuôi nấng, dỗ dành con nhỏ.

-Trong sạch, giữ phẩm hạnh: dù chịu oan khuất vẫn giữ trọn lòng thủy chung.

c. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

-Hiện thực: phản ánh xã hội phong kiến bất công, số phận phụ nữ phụ thuộc vào chồng.

-Nhân đạo: xót thương cho thân phận Vũ Nương, khẳng định phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, đồng thời ước mơ công lý – bằng chứng là việc Linh Phi cứu giúp, trả lại danh dự cho nàng.

3. Kết luận

-Hình tượng Vũ Nương vừa đẹp đẽ vừa bi kịch. Nàng là đại diện cho người phụ nữ Việt Nam xưa: dịu dàng, thủy chung, hiếu thảo nhưng lại chịu nhiều oan nghiệt. Tác phẩm vừa tố cáo xã hội bất công, vừa ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn phụ nữ, để lại bài học về sự trân trọng và thấu hiểu trong hạnh phúc gia đình.

0
29 tháng 6 2018

Chọn đáp án: C

9 tháng 8 2016

Mỗi khi nhắc đến Nguyễn Trãi, chúng ta lại nhớ đến Bình Ngô đại cáo. Đó là áng thiên cổ hùng văn đời đời bất diệt. Qua tác phẩm bất hủ ấy, độc giả ta đã tìm ra được ở vị quân sư tài ba Nguyễn Trãi một tư tưởng nhân nghĩa cao cả. Điều đó thể hiện rõ nét qua phần mở đầu của bài cáo:

Việc nhân nghĩa cốt ờ yên dân 
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"

Chỉ vỏn vẹn là hai câu thơ, nhưng lời nói của Nguyễn Trãi có ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Là một người quân tử, là đấng trượng phu trong xã hội phải biết thương người, trọng người, lo việc yên dân.

Con người ấy phải làm tất cả để người dân được sống yên ổn, ấm no và hạnh phúc. Đó là lòng nhân nghĩa từ xưa đến nay. Vì thương xót dân mà Nguyễn Trãi hết lòng giúp thống soái của mình diệt trừ kẻ bạo tàn, quân xâm lược, những kẻ đã gây đau thương lầm than cho nhân dân ta. Đó chính là điếu phạt, trừ bạo.

Hai câu thơ đã thể hiện một tư tưởng tiến bộ, tích cực, phù hợp với đạo lí chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Bởi vì xưa kia sách thánh hiền có dạy năm điều: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín để người quân tử học tập và rèn luyện. Trong đó nhân, nghĩa là hai việc đứng đầu làm gốc, làm nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp. Nhưng ở đây, Nguyễn Trãi không phải chỉ ảnh hưởng của Nho giáo mà ông còn biết tiếp thu truyền thống của dân tộc và cải tiến theo yêu cầu của xã hội.

9 tháng 8 2016

ai biết giúp cái

 

21 tháng 11 2016

a) Trong cuộc sống của chúng ta không phải ''Ai muốn mua gì cũng có''. Dòng nước nào cũng bắt nguồn từ khe, từ lạch, rồi nước từ lạch đổ vẻ mới thành sông, sông nhỏ đổ vào sông lớn, sông lớn tiến ra biển cả mênh mông. Hành trình nào cũng đều bắt đầu từ góc sân, đầu ngõ, đường làng rồi mới tiến ra đường quốc lộ xa tít tắp. Chúng ta cũng không phải bỗng dưng mà lớn, ai cũng phải trải qua ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi. Cuộc sống không dễ dàng đem hạnh phúc, tình yêu đến cho bất cứ ai, bất cứ người nào, để cố được chúng, người ta phải thường tự tay tìm kiếm.

b) Nếu được lựa chọn một món hàng trong tình yêu, sự bình yên, tình bạn. Ta sẽ lựa chọn hạnh phúc. ​Và cần gieo hạt giống là: Phải biết trân trọng, yêu thương những người xung quanh ta để có được điều đó. Bởi vì họ sẽ đáp trả lại tình yêu thương chân thành ấy của ta. Khi đó, ta sẽ cảm thấy hạnh phúc.

P/s: Câu b chọn cái nào cũng được, tùy you!

18 tháng 11 2016

Giúp mình đi mà, mình đang rất cần....

Mình vừa phát hiện 1 bài văn tả bố rất hay đạt 9,5 điểm của chị Nguyễn Thị Hậu,mời mọi người tham khảo:Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa?Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè...
Đọc tiếp

Mình vừa phát hiện 1 bài văn tả bố rất hay đạt 9,5 điểm của chị Nguyễn Thị Hậu,mời mọi người tham khảo:


Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa?

Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.
Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ.
Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.

Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió.
Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình. Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày.
Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.

Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.

Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường.
Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.

Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?

Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.

Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng...
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.
Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố.

Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi. Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào?
Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật. Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa.

Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia.

Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại.

Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa. Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố?
Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.

Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi.

Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.
 

2
22 tháng 12 2016

bài này mình cũng đã từng đọc qua.thật hay và thấm thía biết bao

 

1 tháng 5 2025

Cảm ơn bạn đã chia sẻ bài văn rất xúc động và sâu sắc này. Bài viết của chị Nguyễn Thị Hậu không chỉ là một bài tả người – tả bố – mà còn là một bản ghi chép chân thật, đầy cảm xúc về tình phụ tử, về nghị lực sống và những hy sinh thầm lặng mà người cha dành cho gia đình.


Bài văn khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào, bởi lối kể chuyện gần gũi nhưng chân thành, giàu hình ảnh và cảm xúc. Tác giả không chỉ miêu tả hình ảnh bên ngoài của bố mà còn đi sâu vào nội tâm, vào những chi tiết rất thật – từ cơn đau bệnh tật, công việc cực nhọc, đến những kỷ niệm nhỏ như chăm sóc giỏ lan, dạy con học mỗi tối… Những chi tiết ấy không chỉ khắc họa một người bố mà còn thể hiện rõ tình cảm sâu sắc, lòng biết ơn và cả nỗi đau mất mát khôn nguôi.


Đặc biệt, bài văn còn chứa đựng một thông điệp mạnh mẽ: **Hãy yêu thương và trân trọng cha mẹ khi còn có thể**. Có lẽ chính điều đó đã khiến người chấm điểm không chỉ nhìn thấy kỹ năng viết mà còn cảm nhận được cả tâm hồn và trái tim của người viết.


Nếu bạn thích bài này và muốn mình giúp bạn viết một bài tương tự (ví dụ: viết về mẹ, ông bà hay một người thân yêu), mình sẵn sàng giúp nhé. Bạn muốn thử không?

1. Giới thiệu tác phẩm:“Tấm Cám” là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu và quen thuộc nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Truyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người lương thiện và kẻ độc ác, qua số phận nhân vật Tấm.2. Nội dung chính:Tấm là cô gái mồ côi hiền lành, bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn. Trải qua nhiều kiếp hóa thân, Tấm cuối...
Đọc tiếp

1. Giới thiệu tác phẩm:
“Tấm Cám” là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu và quen thuộc nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Truyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người lương thiện và kẻ độc ác, qua số phận nhân vật Tấm.

2. Nội dung chính:
Tấm là cô gái mồ côi hiền lành, bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn. Trải qua nhiều kiếp hóa thân, Tấm cuối cùng được trở lại làm người và giành lại hạnh phúc xứng đáng. Câu chuyện mang màu sắc kỳ ảo, đậm chất nhân văn và gắn liền với tín ngưỡng dân gian.

3. Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Giá trị đạo đức: Tấm là biểu tượng cho lòng thiện lương, sự kiên cường vượt qua nghịch cảnh. Truyện gửi gắm niềm tin rằng: “Ở hiền gặp lành, cái ác rồi cũng bị trừng trị.

Giá trị nghệ thuật: Tác phẩm sử dụng yếu tố kỳ ảo (Bụt hiện ra, hóa thân thành chim vàng anh, cây thị…) để thể hiện khát vọng sống, ước mơ công lý và hạnh phúc của nhân dân.

4. Cảm nhận cá nhân:
Em yêu truyện “Tấm Cám” không chỉ vì cốt truyện hấp dẫn mà còn bởi sức sống mãnh liệt của nhân vật Tấm – từ cam chịu đến vùng lên mạnh mẽ. Truyện dạy em rằng: trong cuộc sống, dù gặp bất công đến đâu, chỉ cần giữ vững lòng tin và sự lương thiện, cuối cùng ta vẫn có thể chiến thắng.

0
7 tháng 5 2023

− “Nhân nghĩa” là tư tưởng trọng yếu xuyên suốt bài cáo và được thể hiện nhất quán trong các phần của bài cáo:

+ Ở phần 1, tư tưởng nhân nghĩa thể hiện qua quan điểm “nhân nghĩa” là trừ bạo để yên dân, gìn giữ chủ quyền chống lại bọn cướp nước. Đây chính là lí do có công cuộc “bình Ngô”.

+ Ở phần 2, tư tưởng nhân nghĩa là sự phơi bày những tội ác của giặc Minh trong niềm thương xót sâu sắc đối với dân lành và căm phẫn vô biên đối với quân giặc bạo ngược.

+ Ở phần 3, tư tưởng nhân nghĩa thể hiện ở tuyên ngôn của quân ta, đội quân chính nghĩa: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn|Lấy chí nhân để thay cường bạo, ở cảm xúc bất nhẫn trước cảnh máu chảy đầu roi của binh sĩ giặc do sự ngoan cố ngu xuẩn của bọn tướng lĩnh cầm đầu, ở“lòng hiếu sinh” tha bổng hàng binh giặc và cấp phương tiện cho về nước.

+ Ở phần 4, tư tưởng nhân nghĩa thể hiện ở niềm tự hào của một dân tộc đã chiến thắng trong tư thế chính nghĩa.

- Phần 1 và các phần tiếp theo của bài cáo được nối kết theo quan hệ nhân quả.

31 tháng 8 2023

Phương pháp giải:

- Chú ý hai câu mở đầu.

- Hiểu được khái niệm nhân nghĩa và quan điểm “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi.

Lời giải chi tiết:

     “Nhân nghĩa” trong câu mở đầu: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Quân điếu phạt trước lo trừ bạo là một tư tưởng quan trọng xuyên suốt cả bài cáo. Lời mở đầu này cùng với những câu văn tiếp theo ở phần 1 có quan hệ kết nối với các phần 2, 3a, 3b, 4 trong bài.

+ Nguyễn Trãi vừa tiếp thu, vừa kế thừa quan niệm “nhân nghĩa” theo nghĩa gốc của Nho gia. Đối với tác giả, “nhân nghĩa” cốt yếu là lấy dân làm gốc, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân bằng cách diệt trừ bạo ngược, đánh bại những kẻ đi ngược lại với nguyên lí “nhân nghĩa” mà Nguyễn Trãi đã đưa ra.

+ Sau khi nêu ra tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã cho thấy những hành động của quân Minh hoàn toàn trái ngược với điều này trong phần 2 (Vì tư tưởng Nho giáo mà nhà Minh sử dụng trong hệ thống chính trị).

+ Sang phần 3a và 3b, Nguyễn Trãi cho thấy sự chính nghĩa đã giúp cho nghĩa quân Lam Sơn giành được chiến thắng.

+ Phần 4, Nguyễn Trãi có thể khẳng định Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới chính là nhờ vào sự nhân nghĩa mà ông và nghĩa quân Lam Sơn theo đuổi.