Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Biện pháp tu từ :
- Điệp ngữ " ước làm " nhắc lại 4 lần
- Điệp ngữ " một " nhắc lại 3 lần
Tác dụng : nhấn mạnh thi nhân có nhiều ước muốn để cống hiến, xây dựng quê hương, đất nước
Ước làm một hạt phù sa
Ước làm một tiếng chim ca xanh trời
Ước làm tia nắng vàng tươi
Ứớc làm một hạt mưa đâm chồi
+ Điệp từ ''ước làm'' nhắc lại 4 lần
=> Tác giả có rất nhiều điều ước, nhiều điều muốn làm, muốn làm hạt phù sa; làm tiếng chim ca; làm tia nắng vàng tươi; làm hạt mưa để cho cây đâm chồi nảy lộc...
+ Điệp từ ''một'' nhắc lại 3 lần
"Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"
Câu thơ mở ra một bức tranh tuyệt đẹp về mùa xuân với hình ảnh cỏ non xanh mướt tới tận chân trời và hoa lê đang bắt đầu nở khi xuân sang. Bức tranh có sự hài hòa đến tuyệt diệu. Màu trắng tinh khôi của hoa lê hòa cùng với màu xanh non mỡ màng của cỏ. Không gian rộng lớn bạt ngàn ngút ngàn với những bãi cỏ “rợn chân trời” kết hợp với không gian thu nhỏ trên một cành hoa xuân. Tất cả gợi lên một sức sống tràn đầy, một bầu khí quyển trong trẻo, nên thơ, dịu nhẹ của tiết thanh minh. Xuân về khoác áo xanh cho cỏ, mặc áo trắng cho hoa. Cỏ và hoa bừng dậy sau giấc ngủ đông dài lạnh lẽo để rồi cỏ non nối tiếp chân trời xanh, và hoa lê bừng sắc trắng trên cành. Còn gì đẹp hơn thế, còn gì trong trẻo hơn thế! Câu thơ của Nguyễn Du làm ta chợt nhớ tới câu thơ của thi nhân Ức Trai ngay trước :
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
(Độ đầu xuân thảo lục như yên
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên)
(Bến đò xuân đầu trại – Nguyễn Trãi)
Cùng đặc tả màu xanh của cỏ nhưng mỗi thi nhân lại có cảm nhận rất khác nhau. Nếu đến với thơ Nguyễn Trãi, cỏ dưới làn mưa xuân giăng nhè nhẹ “xanh như khói” thì trong thơ của Nguyễn Du màu xanh của cỏ vẫn vẹn nguyên có cảm giác như cỏ nối liền chân trời tạo làm không gian được mở rộng tới vô cùng. Đó phải chăng chính là sức hấp dẫn của thơ ca, cùng viết một hình ảnh nhưng ở mỗi một bài thơ, qua những lăng kính nhìn khác nhau sẽ đem đến những cách cảm nhận riêng biệt, không trộn lẫn.
Câu thơ của Nguyễn Du được lấy tứ từ câu thơ cổ Trung Hoa:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ thơm liền với trời xanh
Trên cành lê có mấy bông hoa)
Câu thơ mở ra một bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp có màu sắc, có đường nét đặc biệt lại có cả hương thơm. Đó là hương thơm của cỏ non “phương thảo”. Đó là màu xanh mướt của cỏ nối liền với trời xanh “liên thiên bích”. Đó còn là đường nét của cành lê điểm nhẹ vài bông hoa mới nở “sổ điểm hoa”. Câu thơ của Nguyễn Du rất gần với tứ của câu thơ này. Nhưng chúng có nét giống nhau chứ không hề đồng nhất. Nguyễn Du đã có những sáng tạo của riêng mình để đem lại sức hấp dẫn cho câu thơ của Truyện Kiều. Nếu như câu thơ cổ Trung Hoa chỉ miêu tả một cách đơn thuần: cành lê có một vài bông hoa thì câu thơ trong Truyện Kiều lại nhấn mạnh màu sắc của hoa “trắng điểm”. Ở đây tính từ “trắng” đã được động từ hóa, câu thơ không chỉ nói lên màu sắc của hoa mà còn cho thấy được cả một sức sống mãnh liệt đang bừng dậy. Câu thơ không hề tĩnh tại mà có tính chất động. Chúng ta không chỉ cảm nhận được một màu trắng tinh khôi của hoa lê mà còn dường như thấy được cả những mạch sống đang cựa mình trỗi dậy theo bước chuyển mình của mùa xuân. Hai câu thơ cổ Trung Quốc chỉ gợi mà không tả, còn hai câu thơ của Nguyễn Du tả rõ màu sắc khiến câu thơ sinh động, có hồn. Từ câu thơ ngũ ngôn mang phong vị Đường thi, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du thành câu thơ lục bát uyển chuyển mang đậm hồn thơ dân tộc. Chỉ đôi câu thơ nhưng cũng đủ cho ta thấy sự sáng tạo, sức bút kì diệu của thiên tài Nguyễn Du. Đó phải chăng chính là một trong những yếu tố làm nên sức sống bất diệt của Truyện Kiều,Truyện Kiều của Nguyễn Du nằm ngoài sự “băng hoại” của thời gian.
- Đoạn văn tả đặc điểm của biển là:
Đoạn văn tả đặc điểm về sự thay đổi màu sắc của mặt biển theo sắc màu của mây trời.
Câu văn nói rõ điều đó: Biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời.
- Để tả đặc điểm đó, tác giả đã quan sát bầu trời và mặt biển vào những thời điểm khác nhau:
Khi trời xanh thẳm - biển cũng thẳm xanh.
Trời trải mây trắng nhạt - biển mơ màng dịu hơi sương.
Trời âm u mây mưa — biển xám xịt nặng nể.
Trời ầm ầm giông gió - biển đục ngầu, giận dữ.
- Khi quan sát biển, tác giả đã có những liên tưởng thú vị:
Khi quan sát, tác giả đã có liên tưởng đến sự thay đổi tâm trạng của con người: như con người, biển cũng biết vui, buồn, lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng...
Sự liên tưởng này khiến biển đáng yêu và gần gũi với con người.
Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.
Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.
Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.
Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.
Câu 1. Thể thơ của văn bản
→ Thể thơ lục bát.
Câu 2. Đề tài của văn bản
→ Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.
Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính
→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽ và tâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.
Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”
→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.
- Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
- Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.
Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích
→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.
Phân tích :" Tưởng người ... người ôm ." Qua khổ thơ em hiều gì về những phẩm chất tốt đẹp của Kiều .Qua đó , em hãy nhận xét về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.
- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Đi vào phân tích.
Về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du, hãy làm rõ những ý sau :
- Xót xa : Ông xót xa trước số phận bi thảm của Kiều, khắc họa sâu sắc tâm trạng của Kiều.
- Phê phán : tái hiện cuộc sống, cảnh ngộ của Kiều, từ đó phê phán xã hội phong kiến lúc bấy giờ ra sao?
- Trân trọng và cảm thông : thái độ của tác giả đối với Thúy Kiều cũng như đối với số phận những người phụ nữ thời phong kiến nói chung.
Tạm quên đi những chia xé trong lòng, Kiều nhớ về những người thân:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Trái với những quy định phong kiến, Kiều nhớ về người yêu rồi mới nhớ cha mẹ. Trong lúc này, nỗi đau dứt tình người yêu như còn rớm máu, kỉ niệm như còn mới đây thôi. Hơn thế nữa Kiều lại bị Mã Giám Sinh làm nhục, sau đó bị đưa vào chốn lầu xanh nên nỗi đau lớn nhất của nàng lúc này là:
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Chính bởi thế mà người đầu tiên nàng nghĩ tới là chàng Kim. Với cha mẹ, nàng đã hi sinh bán mình nên phần nào đã đáp đền được ơn sinh thành. Còn với Kim Trọng, nàng là kẻ phụ tình, lỗi hẹn. Trong tâm cảnh như thế, để Kiều nhớ chàng Kim trước là sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du. Nhớ tới người yêu là nhớ tới đêm trăng thề nguyền. Vừa mới hôm nào, nàng cùng chàng uống chén rượu thề nguyền son sắc, một lòng cùng nhau một đời mà nay mối tình duyên đã chia lìa đột ngột. Câu thơ như có nhịp thổn thức của trái tim rỉ máu. Kiều đau đớn hình dung Kim Trọng vẫn ngày ngày hướng về nàng để chờ tin mà uổng công vô ích. Càng nhớ chàng Kim bao nhiêu thì Kiều lại thương cho thân mình bấy nhiêu. Thương mình bơ vơ bên trời góc bể, càng nuối tiếc mối tình đầu, nàng hiểu rằng tấm son mà nàng dành cho chàng Kim chẳng bao giờ nguôi ngoai. Không chỉ vậy mà tấm son đã bị hoen ố của nàng đến khi nào mới rửa cho được. Trong nỗi nhớ còn có cả nỗi xót xa, ân hận. Đặt trong hoàn cảnh cô đơn, Kiều đã tạm để nỗi lòng mình lắng xuống và nhớ tới Kim Trọng. Đó là sự vị tha và tấm lòng chung thuỷ của một con người.
Nếu khi nhớ tới Kim Trọng, Kiều tưởng thì khi nghĩ tới cha mẹ Kiều xót:
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Nàng thương cha mẹ từ bấy đến nay vẫn sớm chiều tựa cửa ngóng chờ tin của đứa con lưu lạc. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi vì không thể quạt nồng ấp lạnh, phụng dưỡng song thân khi già yếu. Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh, điển cố Sân Lai, gốc tử đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay. Cha mẹ thì mỗi người thêm một già yếu mà nàng thì chẳng thể ở bên chăm sóc. Giờ đây khoảng cách không gian giữa nàng và cha mẹ là cách mấy nắng mưa. Thiên nhiên không chỉ tàn phá cảnh vật mà còn tàn phá cả con người. Lần nào khi nhớ tới cha mẹ, Kiều cũng nhớ ơn chín chữ cao sâu và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ. Nỗi nhớ của nàng được gửi vào chiều dài thời gian, vào chiều sâu không gian bởi vậy mà càng thêm da diết, sâu xa. Dù đau buồn bất hạnh nhưng trái tim Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng là người tình chung thuỷ, là người con rất mực hiếu thảo, là người có tấm lòng vị tha đáng trọng. Hai nỗi nhớ được biểu hiện khác nhau đó cùng là sự cảm thông lạ lùng của nhà thơ, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đối với con người.
Trong nỗi cô đơn tuyệt đối ấy, Kiều cảm thấy xa cách, hoang vắng, một mình một bóng bơ vơ, bị giam cầm cách biệt nơi đất khách quê người, xa quê hương, xa người yêu của mình:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng trước, đó là một nét bút đặc sắc, độc đáo và phù hợp với tâm lí, thể hiện tấm lòng chung thủy của Kiều. Các từ ngữ “tưởng”, “trông”, “chờ” trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều đã làm bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng. Kiều càng nhớ về lời thề đôi lứa, lời hẹn ước trăm năm ở vườn Thúy lại càng thương cho Kim Trọng. Chén rượu thề như còn đây mà nay mỗi người như mỗi ngả khiến nàng ân hận, xót xa như kẻ phụ tình. Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình, “rày trông mai chờ” uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, càng thấp thỏm lo âu. Dù cho mỗi người một phương nhưng tình cản, tấm lòng son của nàng dành cho Kim Trọng là mãi mãi, không thể phai mờ. Càng nghĩ Kiều càng lo lắng, khiến nàng bật lên câu hỏi tu từ không biết trên bước đường trôi dạt nơi “bên trời góc bể” , bao giờ nàng mới có thể gột rửa sạch những hoen ố của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng dành cho nàng.
Ở nơi lầu cao ấy, nàng cũng không nguôi nhớ thương, lo lắng cho cha mẹ của mình:
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Với ngôn ngữ độc thoại, kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng ngổn ngang của Kiều hiện lên thật rõ nét. Các từ ngữ “hôm mai”, “cách mấy nắng mưa” chỉ nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng của nàng. Kiều xót thương cha mẹ mình ngày đêm lo lắng, “tựa cửa hôm mai” mong ngóng tin nàng, sợ cha mẹ già yếu ở nhà, không ai chăm sóc, phụng dưỡng. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, cùng với điển tích “Sân Lai”, “Gốc tử” đã nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều với cha mẹ mình. Nàng lo sợ ở nơi quê hương, mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại ngày càng già yếu nên nàng vô cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của người con. Từ đó tấm lòng vị tha và hiếu thảo của Kiều đã hiện lên thật rõ nét. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích, lưu lạc nơi chân trời góc bể, Kiều là người đáng thương nhất. Thế nhưng với tâm hồn cao đẹp của mình, nàng luôn hi sinh bản thân, quên đi cảnh ngộ của bản thân để lo lắng, nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ của mình. Nỗi nhớ của Kiều rất thực và có chiều sâu, từ đó cho thấy Kiều là một đứa con hiếu thảo, một người tình thủy chung và là một con người giàu lòng vị tha.
Con người sau các cuộc cách mạng nhận thức, cách mạng nông nghiệp từ hàng vạn năm về trước, cho đến cuộc cách mạng công nghiệp mới diễn ra cách đây khoảng 500 năm đã ngày càng chứng tỏ vị trí bá chủ của mình đối với hành tinh. Từ một động vật nằm ở giữa chuỗi thức ăn, chúng ta đã có bước nhảy vọt lên đứng đầu chuỗi và có những tác động mạnh mẽ đến môi trường xung quanh. Nếu như trước đây chúng ta tác động chủ yếu đến động thực vật những thứ cung cấp nguồn thực phẩm cho chúng ta hàng ngày, thì đến ngày hôm nay việc công nghiệp hóa hiện đại hóa, cùng với sự ra đời của hàng loạt sản phẩm nhân tạo ngày càng gây những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường trên tất cả các khía cạnh nguồn đất, nước, không khí và đa dạng sinh học. Trong số đó xả rác bừa bãi là một hành động tưởng nhỏ nhưng lại có sức ảnh hưởng kinh khủng tới môi trường.
Hình như đối với cư dân của một số quốc gia trong đó có Việt Nam, việc xả rác bừa bãi nó không phải là một hành động có chủ ý mà thực tế nó đã trở thành một thói quen ăn sâu vào trong máu, bằng một nguyên do nào đó người ta cho rằng vứt một cái rác ra môi trường rộng lớn như Trái Đất thì nó chẳng đáng là bao, vài hôm sau, vài tháng sau, kiểu gì cái rác ấy nó chẳng biến mất. Nhưng biến mất bằng cách nào thì họ không cần biết, cũng chẳng thèm quan tâm! Đôi lúc tôi thấy thật khó hiểu khi người ta sẵn sàng vứt một chai nước đã uống hết ngay ra đường, trong khi trước mặt họ đã có sẵn một thùng rác xanh lè, đang há miệng mời chào bằng câu từ vừa thân thương vừa mệnh lệnh "hãy bỏ rác vào thùng" hoặc khẩn khoản hơn chút thì là "xin cho tôi rác" chẳng hạn. Nhưng thật đáng buồn dù có ngọt ngào, có khẩn khoản hơn nữa thì cũng chẳng thể lay động được trái tim sắt đá của một bộ phận con người ngày nay. Những người thích vứt rác ngay khi họ đã tận dụng triệt để nó, chứ chẳng muốn cần thêm một giây một phút nào nữa. Rác bẩn, phải không? Tôi xin khẳng định là không, bởi nó vừa mới rời khỏi miệng của quý vị vài giây trước đó thôi, có ai dám tự nói miệng tôi giống cái thùng rác, nên cần phải giục ngay cái thứ vừa chạm vào một cách nhanh chóng không? Không kể đến ngoài đường hay công viên, có thể thùng rác để hơi xa, nhưng có những chỗ như quán ăn thậm chí sọt rác đặt ngay dưới bàn ăn, chỉ đợi thực khách vứt những thứ dư thừa vào sao cho thuận tiện nhất. Nhưng không! Người ta lại chẳng thích thế, cuối buổi làm lúc nào cũng thấy những cô cậu nhân viên làm thêm cũng phải còng lưng để quét từng cái vỏ tôm, cái giấy ăn nhàu nhĩnh, cái xương gà, cái vỏ ốc được vứt tung tóe dưới mặt đất. Còn sọt rác ư? Thậm chí anh chủ còn muốn đem bán cho bà đồng nát để thu lại ít vốn liếng. Ngoài đường phố, công viên, quán ăn, thì những khu đất trống và ven sông, ven biển cũng trở thành chỗ vứt rác lý tưởng của rất nhiều người. Lần này họ không vứt vài ba cái giấy ăn hay vỏ ốc mà họ vứt hẳn cả hàng bao, hàng túi mặc cho cái biển gỗ trơ trọi ghi dòng chữ rõ ràng "cấm xả rác". Chung quy lại việc xả rác, vứt rác bừa bãi đối với người mình đã trở thành một thói quen khó bỏ, trở thành một trò tiện tay, thậm chí đôi lúc cái sự vứt rác nó còn trở thành cuộc tranh cãi nảy lửa giữa những bà hàng xóm với nhau, khi bà này lén lút nửa đêm đem rác sang để ở cổng nhà bà kia chẳng hạn. Thật không ngoa khi nói rằng xả rác bừa bãi đã trở thành một thứ "văn hóa" tệ hại của người Việt Nam.
Nguyên nhân cho thứ văn hóa ấy chủ yếu đến từ chính ý thức của mỗi con người, không phải họ không biết đọc, không phải họ không tìm thấy thùng rác, mà căn bản rằng họ không thích, hoặc không quen với việc bỏ rác vào thùng, hoặc giả sử họ thấy việc ấy văn minh quá, không hợp với người mình chẳng hạn. Một điều nữa là nước ta cơ sở vật chất đến ngày hôm nay cũng chưa thực sự hoàn thiện, thùng rác được phân bố khá ít, phải đi bộ một khoảng cách xa mới có thùng rác. Không kể đến việc lâu lâu lại có kẻ giữa đêm đi ăn trộm cả thùng rác, không biết đem về nhà đựng rác hay là đem bán sắt vụn, đó vẫn còn là một ẩn số. Cuối cùng là pháp luật nước ta vẫn còn chưa có những đạo luật nghiêm khắc để xử lý đối với hành vi xả rác bừa bãi, việc vứt rác đúng nơi quy định hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức và đạo đức của từng cá nhân. Thế nên "văn hóa" bạ đâu vứt đấy vẫn là chuyện hiển nhiên xảy ra ở Việt Nam ta.
Và cái "văn hóa" kinh khủng ấy đã đem đến cho môi trường những tác động thật ghê gớm. Người vứt rác luôn nghĩ rằng, mình chỉ tiện tay vứt một mảnh giấy nhỏ, một cái chai nhỏ, thế nhưng đâu bao giờ nghĩ rằng thế giới này nếu có 7 tỷ rưỡi con người cũng vứt như họ thì tôi dám chắc chỉ trong 1 tháng, Trái Đất sẽ không còn chỗ cho con người ở, bởi đống tháng cao như núi đang tràn lan khắp nơi, và chúng ta chính thức ngồi trên đống rác là có thật. Chưa kể bạn xả một chiếc túi ni lông ra đất, thì phải mất đến 500 năm để nó phân hủy hoàn toàn, việc túi ni lông hay bất cứ vật liệu plastic nào tồn tại trong đất cũng gây cản trở sự sinh sôi và phát triển của cây xanh. Mà cây xanh vốn cho chúng ta khí ô xi để hít thở, tiêu thụ giúp chúng ta khí các-bô-níc, chúng ta sẽ chết nếu thiếu oxy, như vậy có phải là việc xả rác cũng đồng nghĩa với việc bạn tự giết chết mình và đồng loại hay sao sao. Không chỉ vậy lượng rác thải chìm trong đất cũng gây ảnh hưởng lớn đến quá trình trồng trọt, sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản. Những rác rưởi thải ra sông, suối, hồ, biển trở thành thứ giết chết các sinh vật sống dưới nước, một là vì chúng ăn nhầm, hai là vì nguồn nước ô nhiễm và chúng không thể sống nổi khi bị nhiễm độc. Không chỉ vậy chính con người chúng ta cũng phải gánh chịu hậu quả gián tiếp khi ăn thủy hải sản được đánh bắt từ nguồn nước ô nhiễm. Việc xả rác không đúng nơi quy định, cạnh bờ sông, bên ngoài khu dân cư, lâu dần những rác thải không được xử lý đúng cách sẽ trở thành một đống phế thải bốc mùi, thu hút ruồi bọ và các loài gặm nhấm như chuột, chúng sinh sôi nảy nở và trở thành những vật chủ trung gian truyền bệnh nguy hiểm. Còn mùi hôi thối sẽ trở thành nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí, gây khó chịu khi hít phải. Các khí độc qua đường hô hấp vào phổi con người, tích tụ và gây những bệnh tiềm ẩn hoặc các chứng viêm nhiễm đường hô hấp, viêm phổi,... Rác rưởi bị vứt bừa bới vô tình lọt xuống cống thoát nước lâu ngày trở thành những đám ùn tắc lớn, gây ngập lụt đường xá mỗi khi mùa mưa đến, khiến giao thông bị trì trệ, ách tắc. Ngoài ra việc rác rưởi bị vứt bừa bãi khắp nơi cũng làm mất mỹ quan môi trường sống, gây những ấn tượng xấu với khách du lịch nước ngoài về Việt Nam, làm giảm ấn tượng tốt đẹp mà nước ta đã cất công xây dựng với quốc tế. Việc thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh cũng gây ra những khoản tổn thất vào ngân sách nhà nước, khi phải tiến hành thu gom xử lý, vệ sinh sông hồ, thông cống,... Không chỉ vậy nó còn là một thói quen xấu, biểu hiện sự kém văn minh, thiếu ý thức của con người, hành động vứt rác bừa bãi của cha mẹ trở thành tấm gương xấu cho tầng lớp thiếu nhi.
Đối với vấn nạn xả rác bừa bãi của hàng triệu con người từ thành thị đến nông thôn, thì cách duy nhất là nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của việc xả rác, bằng những bài tuyên truyền đánh trực tiếp vào lợi ích của mỗi cá nhân. Để mỗi một người đều có thể hiểu được hành vi xả rác của mình ngày hôm nay sẽ mang lại cho bản thân và con cái những nguy hại gì. Những khẩu hiệu tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên tại các khu vực công cộng, nhiều người qua lại, đặc biệt là trong nhà trường, các cơ quan tổ chức, hoặc thông qua các phương tiện truyền thông, sao cho nguồn thông tin có thể vươn tới mọi miền đất nước, ai cũng có thể tiếp cận và thấu hiểu. Bên cạnh đó việc tổ chức các chương trình tình nguyện thu gom rác cũng cần được thực hiện hiện thường xuyên hơn với các chủ đề và khẩu hiệu khác nhau, thực hiện thu gom, dọn dẹp khu vực bờ biển, bờ sông, các khu dân cư, xung quanh trường học, cơ quan,... nói chung sống ở đâu thì làm ở đó. Cuối cùng là ngoài để người dân tự ý thức thì nhà nước cũng cần quản lý và đưa ra những quy định, những hình thức phạt cảnh cáo, răn đe, thích hợp để xử lý các trường hợp xả rác bừa bãi, gây hại cho môi trường và bộ mặt xã hội.
Tóm lại, việc bảo vệ môi trường cho đến hôm nay nó không còn là nhiệm vụ của riêng một tổ chức, một cá nhân, hay một quốc gia riêng lẻ nào nữa mà là của toàn thế giới. Mỗi chúng ta cần có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường sống xung quanh, không chỉ là để bảo vệ bản thân chúng ta mà còn là bảo vệ, duy trì sức sống cho hành tinh mãi về sau. Hãy để cho con cháu chúng ta được hưởng một cuộc sống tốt đẹp, một môi trường xanh sạch, đừng để chúng phải căng mình đối mặt với hàng loạt vấn đề nguy hại đến từ hành động vô ý thức của cha anh.
Câu 2: Câu đầu về Thúy Vân, câu sau về Thúy Kiều.
Tham khảo:
Câu 3:
Giống : Đều miêu tả những nét đẹp chung của mỗi người rồi mới đến vẻ đẹp riêng của họ
Khác :
- Về hình thức : 4 câu đầu dành cho Thúy Vân, 12 câu còn lại miêu tả về Thúy Kiều
- Về cách miêu tả : qua cách miêu tả, tác giả đã đoán được số phận của họ
+ Thúy vân : Khuôn trăng đầy đặn là gương mặt ngời sáng, tròn như vầng trăng. Theo quan niệm người xưa, người con gái có gương mặt như vậy là hạnh phúc sau này. Không chỉ vậy, nhan sắc của Thúy Vân còn đến thiên nhiên phải khiêm nhường
+ Thúy kiều : Đôi mắt như làn nước mùa thu, tuy trong những nhìn vào thì nổi bật sự u buồn. Thiên nhiên không khiêm nhường nhưng lại ghen bộc lộ rõ những bản tính của con người. Nhờ vậy, ta thấy được những sự bất hạnh trong cuộc đời của nàng, khúc đàn của nàng cũng đã bộc lộ điều đấy.
Câu 4:
Khác với Thúy Vân, Thúy Kiều mang một vẻ đẹp sắc sảo mặn mà cả về cả tài lẫn sắc. Chỉ khắc họa đôi mắt nàng Kiều, Nguyễn Du đã mở ra cho bạn đọc thấy cả một thế giới tâm hồn phong phú của nàng. Đôi mắt ấy, trong trẻo, sâu thẳm như nước mùa thu "làn thu thủy”:, lông mày mượt mà, tươi tắn, thanh thanh như dáng núi mùa xuân "nét xuân sơn”. Vẻ đẹp ấy Khiến tạo hóa phải ghen hờn “hoa ghen”, “liễu hờn”. Đây là những cảm xúc tiêu cực, thể hiện tâm lí oán trách, muốn trả thù, sự ghen ghét đố kị của tao hóa. Không chỉ đẹp, Kiều còn có đủ tài cầm kì thi họa, trong đó nổi bật nhất là tài đàn. Nàng tự mình sáng tác khúc nhạc mang tên "Bạc mệnh" khiến người nghe xúc động. Vẻ đẹp của Kiều đã đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến. Tất cả biểu hiện của sự đa sầu, đa cảm, của một tâm hồn tinh tế và lãng mạn, một tâm hồn phong phú. Nguyễn Du đã rất ưu ái khi miêu tả chân dung Thúy Kiều. Nàng tiêu biểu cho số phận của người phụ nữ “hồng nhan bạc phận”. Vì vậy trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã hơn một lần thốt lên “Hồng nhan quen thói má hồng đánh ghen”; người con gái ấy, càng đẹp, càng tài lại càng truân chuyên.

@N oke tag r
:))) mom ko ngủ à
N đây =))
tí 12h50 ngủ
N gặp H, N xong rồi =)
ôg bạn sáng chế thơ đi:))