Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
2 phút trước
Câu 1(0,5 điểm): Đặc điểm khí hậu của nước ta là:
a. Nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa, mùa hạ hay có bão.
b. Nhiệt độ cao, nóng quanh năm, hay có bão.
c. Có 4 mùa rõ rệt, mùa đông có mưa phùn, mùa hạ hay có bão.
d. Có 2 mùa rõ rệt, nóng quanh năm, mưa nhiều, mùa hạ hay có bão.
Câu 1(0,5 điểm): Đặc điểm khí hậu của nước ta là:
a. Nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa, mùa hạ hay có bão.
b. Nhiệt độ cao, nóng quanh năm, hay có bão.
c. Có 4 mùa rõ rệt, mùa đông có mưa phùn, mùa hạ hay có bão.
d. Có 2 mùa rõ rệt, nóng quanh năm, mưa nhiều, mùa hạ hay có bão.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đang phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thử thách hiểm nghèo do chế độ thực dân phong kiến để lại: sản xuất đình đốn, nạn đóỉ hoành hành, gần 2 triệu người chết đói, hơn 90% dân số mụ chữ, tài chính quốc gia trống rỗng thì trung tuần tháng 9 năm 1945,20 vạn quận Tưởng Giói Thạch với danh nghĩa quân đội đồng minh đến miền Bắc nước ta, mang theo bọn Việt Nam Quôc dân Đảng tay sai, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, gây cho Chính phủ và nhân dân ta muôn vàn khó khăn. Trong Nam núp sau quân đội Anh, quân đội Pháp gây hấn ở Nam Bộ, âm mưu đặt ách cai trị các nước Đông Dương một lần nữa. Cùng thời gian đó, một trung đoàn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào Thanh Hóa uy hiếp chính quyền cách mạng còn non trẻ. Chúng chiếm đóng các vị trí quan trọng trong thị xã (nay là thành phố Thanh Hóa) như trụ sở Nông Giang, phố Cửa Tả... đòi cung cấp lương thực, thực phẩm, đặt súng máy trên các ngả đường, đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang cách mạng và tung tiền giấy quan kim mất giá vào tỉnh ta để vơ vét hàng hóa gây ra những thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế. Chúng ép chính quyền cách mạng đưa tên phản động Quốc dân Đảng Đỗ Văn giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền cấp tỉnh. Chúng nuôi dưỡng, trang bị vũ khí và vạch ra kế hoạch cho bọn Quốc dân Đảng lập ra đệ lục chiến khu ở ấp Di Linh (nay là xã Hợp Lý - Triệu Sơn). Một số tổ chức phản động ngóc đầu dậy tìm cách phá hoại. Những tên phản động đầu sỏ như: Nguyễn Trác, Trương Thê Giám, Đào Duy Hách, Khiếu Hữu Kiều tích cực hoạt động trong các vùng tôn giáo, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, xây dựng lực lượng chuẩn bị đón Pháp quay trở lại thống trị nhân dân ta.
Nằm trong hoàn cảnh chung, chính quyên cách mạng huyện Thọ Xuân trong những ngày mới thành lập cũng đứng trước những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua.
Ngày khởi nghĩa chính quyên cách mạng tiếp quản huyện đường chỉ có những gian nhà chông rỗng, mọi hoạt động của chính quyền cách mạng đều dựa vào các đoàn thể và sự đóng góp của nhân dân.
Bộ máy chính quyền từ huyện xuống xã mơi thành lập còn non yếu, bỡ ngỡ và lúng túng trong tô chúc quản lý xã hội.
Đời sống nhân dân, nhất là người lao động vô cùng khó khăn, tình trạng thiếu lương thục trầm trọng. Nạn đói xảy ra hồi đầu năm 1945 liên tiếp hoành hành đe dọa sinh mệnh của hàng ngàn người dân trong huyên, hơn 95% dân số trong huyện mù chữ. Tệ nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, mê tín, dị đoan... do xã hội cũ để lại nặng nê, dịch bệnh phát sinh ở nhiều vùng trong huyện....
Lợi dụng tình thế khó khăn, bọn phản cách mạng tìm cách liên kết vói bọn Quốc dân Đảng công khai hoặc ngấm ngầm chông phá cách mạng. Chúng cho tay chân chui vào các đoàn thể của ta, lợi dụng danh nghĩa cách mạng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đe dọa uy hiếp nhân dân, tìm cách phá cơ sở cách mạng. Chúng tự đến các làng để diễn thuyết, lập hội, viết báo tuyên truyền tư tưởng phản động.
Hoạt động của bọn phản cách mạng đã bị chính quyền và lục lượng cách mạng trong huyện ngăn chặn, triệt phá, âm mưu, thủ đoạn của chúng bị vạch trần trước đông đảo nhân dân.
Bên cạnh nhũng khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thọ Xuân có những thuận lợi cơ bản. Đó là khí thế phong trào cách mạng đang sục sôi, lòng yêu nước, khát khao với độc lập tự do và tinh thần cách mạng của nhân dân đang dâng cao. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã qua thử thách, được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng. Chính quyền nhân dân còn non trẻ nhưng được nhân dân hết lòng ủng hộ.
Để giải quyết tình hình nói trên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã vạch ra phương hướng, biện pháp bảo vệ và xây dựng chế độ mới, đối phó với các lục lượng phản động quốc tế đang bao vây, tấn công cách mạng.
Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ hi Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Chính phủ và nêu ra 6 việc cấp bách cần phải làm ngay:
Một là: Phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói, mở một cuộc lạc quyên để giúp đỡ người nghèo.
Hai là: Phát động phong trào chống nạn mù chữ.
Ba là: Tổ chức cuộc Tổng tuyển cử vói chế độ phổ thông đầu phiếu, thục hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Bốn là: Thực hiện cần kiệm, liêm chính bài trừ thói hư tật xấu do chê độ cũ để lại.
Năm là: Bỏ ngay 3 thứ thuế: thuế thân, thuê chợ và thuế đò, cấm hút thuốc phiện.
Sáu lằ: Tuyên bô tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh hai việc quan trọng nhất là cứu đói ở Bắc và đánh giặc ở Nam. Đó là hai nhiệm vụ trước mắt, nhưng cũng là hai nhiệm vụ chiến lược. Trên cơ sở phương hướng đó, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc.
Sau khi phân tích những thay đổi căn bản vê tình hình quốc tế và trong nước sau đại chiến thế giới thứ hai, Trung ương Đảng nêu rõ nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của nhân dân ta lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân.
Thực hiện lời kêu gọi Chống giặc đói của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng trong huyện và Mặt trận Việt Minh Thọ Xuân đã khẩn trương thành lập các ban cứu đói, tổ chức quyên góp thóc gạo, tiền bạc giúp đỡ những người bị đói và phát động phong trào vận động quyên góp ủng hộ nhân dân bị đói, tổ chức vay lúa của nhà giàu, phát động phong trào Hũ gạo tiết kiệm.
Chính quyền cách mạng, bộ đội địa phương huyện và các đoàn thể cứu quốc: Nông dân, Phụ nữ, Mặt trận cử cán bộ bám sát cơ sở để tuyên truyền vận động nhân dân giúp nhau trong lúc khó khăn. Với tinh thần Lá lành đùm lá rách, nhiều gia đình còn chưa đủ ăn vẫn thường xuyên tiết kiệm gạo giúp đỡ những gia đình khó khăn hơn.
Chỉ trọng thời gian ngắn, toàn huyện huy động được 20.000 kg gạo và hàng vạn đồng bạc để cứu trợ kịp thời những gia đình nghèo đói tại địa phương, chu cấp cho dân quân tự vệ trong những ngày luyện tập, góp phần ủng hộ huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hậu Lộc....
Đến cuối năm 1945, nhân dân Thọ Xuân cùng nhân dân trong tỉnh quyên góp hàng trăm tấn lương thục cứu đói cho nhân dân trong tỉnh và dành một phần giúp đỡ nhân dân các tĩnh Hưng Yên và Bắc Ninh.
Phong trào vận động tiết kiệm lương thục ủng hộ người bị đói đạt két qủa tốt, nhưng chỉ là biện pháp túc thời. Vấn đề là phải tổ chúc sản xuất làm ra nhiều của cải vật chất xã hội - Đó mới là biện pháp có ý nghĩa chiến lược.
Thục hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Tỉnh ủy Thanh Hóa về tăng gia sản xuất, chính quyền cách mạng huyện Thọ Xuân đã phát động toàn dân trong huyện đẩy mạnh phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm trong chi dùng. Phong trào thi đua diễn ra sôi nổi rộng khắp với khẩu hiệu Tấc đất, tấc vàng, nhân dân trong huyện: người người trồng rau muống, nhà nhà trồng hoa màu ngăn ngày cứu đói. Công tác khai hoang, phục hóa đã biến nhũng cánh đông, đôi, bãi hoang hóa thành nhũng bãi sắn, nương ngô xanh tốt.
Cùng với cuộc vận động tăng gia sản xuất, chính quyền cách mạng khẩn trương tiến hành chia lại ruộng công và đất vắng chủ cho nông dân nghèo sản xuất.
Cuộc vận động cứu đói và phong trào tăng gia sản xuất cứu đói đã đẩy lùi nạn đói, từng bước ổn định đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, ở một số nơi việc việc chia lại công điền, công thổ còn có biêu hiện lệch lạc vì chính quyền cách mạng chưa quan tâm đúng múc đến quyền lợi của quần chúng lao động, hoặc để bọn địa chủ phản động lũng đoạn. Có địa phương chưa nắm vững chủ trương, làm qúa đà. Những thiếu sót đã được phát hiện và kịp thời khắc phục, phong trào thi đua của quần chúng tiếp tục phát triển
Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Chống nạn thất học - Diệt giặc dốt, huyện Thọ Xuân đã thành lập Ban Bình dân học vụ từ huyện đến xã, với phương châm: người biết chữ dạy người chưa biết chữ, phong trào diệt giặc dôt được phát động rộng rãi thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Người người đi học, cả nhà đi học. Con biết chữ dạy cha mẹ, anh biết chữ dạy cho các em. Học ban ngày, học buổi trưa, buổi tói, khắp thôn xóm ở đâu cũng tập đọc, tập viết. Khẩu hiệu Đi học là yêu nước đã trở thành phong trào cách mạng sinh động ở tất cả các thôn, xóm. Nhân dân tự nguyện cho mượn nhà, bàn ghế, cánh cửa, ván gỗ làm bảng, làm bàn, làm lớp học, giúp đỡ nhau giấy bút mực, ban ngày lao động sản xuất, buổi tối, buổi trưa tranh thủ học tập.
Cùng với việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục để mọi người tự nguyện, tự giác tham gia học tập, chính quyền và Ban Bình dân học vụ các địa phương đã sáng tạo ra nhiều biện pháp huy động mọi người đi học như: đón đường hỏi chữ, dựng 2 cổng: vinh quang và cổng mù (ai biết chữ cho đi cổng vinh quang, ai chưa biết chữ đi cổng mù). Vì thê ai ai cũng chăm lo học tập.
Với sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, sự tận tụy, nhiệt tình của chính quyền và Ban Bình dân học vụ các cấp chỉ trong thời gian ngan nhiều người trong huyện đã biết đọc, biết viết. Tính đến cuối năm 1946, toàn huyện Thọ Xuân đã tổ chúc hàng trăm lớp học, thu hút hàng ngàn người đi học. Nhiều cán bộ Bình dân học vụ đã lặn lội với phong trào như các ông: Trịnh Quang Tân, Lê Đãng Các, Hoàng Hải, Lê Huy Hớn...
Bên cạnh các lớp Bình dân học vụ, hệ thống trường Phổ thông Tiểu học được thành lập thu hút con em nhân dân lao động đến trường. Trường Tiểu học thị trấn Thọ Xuân, Bái Thượng, Quảng Thi được xây dựng hoàn thiện từ lóp nhất đến lóp năm.
Có thể khẳng định: chế độ mới đã tổ chức cho toàn dân học tập nâng cao dân trí xã hội. Phong ưào Xóa nạn mù chữ có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc.
Cùng vói diệt giặc đói, giặc dốt, chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh huyện đã chăm lo đến việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Măc dù cơ sở vật chất và trang bị gần như chưa có gì, nhưng việc giải quyết dịch bệnh xã hội, cứu chữa những người mắc bệnh trong và sau nạn đói được tiến hành khẩn trương. Vào giữa năm 1946 Ty Y tế Thanh Hóa đã kịp thời mở lớp đào tạo cấp tốc đội...
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đang phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thử thách hiểm nghèo do chế độ thực dân phong kiến để lại: sản xuất đình đốn, nạn đóỉ hoành hành, gần 2 triệu người chết đói, hơn 90% dân số mụ chữ, tài chính quốc gia trống rỗng thì trung tuần tháng 9 năm 1945,20 vạn quận Tưởng Giói Thạch với danh nghĩa quân đội đồng minh đến miền Bắc nước ta, mang theo bọn Việt Nam Quôc dân Đảng tay sai, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, gây cho Chính phủ và nhân dân ta muôn vàn khó khăn. Trong Nam núp sau quân đội Anh, quân đội Pháp gây hấn ở Nam Bộ, âm mưu đặt ách cai trị các nước Đông Dương một lần nữa. Cùng thời gian đó, một trung đoàn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào Thanh Hóa uy hiếp chính quyền cách mạng còn non trẻ. Chúng chiếm đóng các vị trí quan trọng trong thị xã (nay là thành phố Thanh Hóa) như trụ sở Nông Giang, phố Cửa Tả... đòi cung cấp lương thực, thực phẩm, đặt súng máy trên các ngả đường, đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang cách mạng và tung tiền giấy quan kim mất giá vào tỉnh ta để vơ vét hàng hóa gây ra những thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế. Chúng ép chính quyền cách mạng đưa tên phản động Quốc dân Đảng Đỗ Văn giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền cấp tỉnh. Chúng nuôi dưỡng, trang bị vũ khí và vạch ra kế hoạch cho bọn Quốc dân Đảng lập ra đệ lục chiến khu ở ấp Di Linh (nay là xã Hợp Lý - Triệu Sơn). Một số tổ chức phản động ngóc đầu dậy tìm cách phá hoại. Những tên phản động đầu sỏ như: Nguyễn Trác, Trương Thê Giám, Đào Duy Hách, Khiếu Hữu Kiều tích cực hoạt động trong các vùng tôn giáo, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, xây dựng lực lượng chuẩn bị đón Pháp quay trở lại thống trị nhân dân ta.
Nằm trong hoàn cảnh chung, chính quyên cách mạng huyện Thọ Xuân trong những ngày mới thành lập cũng đứng trước những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua.
Ngày khởi nghĩa chính quyên cách mạng tiếp quản huyện đường chỉ có những gian nhà chông rỗng, mọi hoạt động của chính quyền cách mạng đều dựa vào các đoàn thể và sự đóng góp của nhân dân.
Bộ máy chính quyền từ huyện xuống xã mơi thành lập còn non yếu, bỡ ngỡ và lúng túng trong tô chúc quản lý xã hội.
Đời sống nhân dân, nhất là người lao động vô cùng khó khăn, tình trạng thiếu lương thục trầm trọng. Nạn đói xảy ra hồi đầu năm 1945 liên tiếp hoành hành đe dọa sinh mệnh của hàng ngàn người dân trong huyên, hơn 95% dân số trong huyện mù chữ. Tệ nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, mê tín, dị đoan... do xã hội cũ để lại nặng nê, dịch bệnh phát sinh ở nhiều vùng trong huyện....
Lợi dụng tình thế khó khăn, bọn phản cách mạng tìm cách liên kết vói bọn Quốc dân Đảng công khai hoặc ngấm ngầm chông phá cách mạng. Chúng cho tay chân chui vào các đoàn thể của ta, lợi dụng danh nghĩa cách mạng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đe dọa uy hiếp nhân dân, tìm cách phá cơ sở cách mạng. Chúng tự đến các làng để diễn thuyết, lập hội, viết báo tuyên truyền tư tưởng phản động.
Hoạt động của bọn phản cách mạng đã bị chính quyền và lục lượng cách mạng trong huyện ngăn chặn, triệt phá, âm mưu, thủ đoạn của chúng bị vạch trần trước đông đảo nhân dân.
Bên cạnh nhũng khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thọ Xuân có những thuận lợi cơ bản. Đó là khí thế phong trào cách mạng đang sục sôi, lòng yêu nước, khát khao với độc lập tự do và tinh thần cách mạng của nhân dân đang dâng cao. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã qua thử thách, được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng. Chính quyền nhân dân còn non trẻ nhưng được nhân dân hết lòng ủng hộ.
Để giải quyết tình hình nói trên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã vạch ra phương hướng, biện pháp bảo vệ và xây dựng chế độ mới, đối phó với các lục lượng phản động quốc tế đang bao vây, tấn công cách mạng.
Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ hi Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Chính phủ và nêu ra 6 việc cấp bách cần phải làm ngay:
Một là: Phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói, mở một cuộc lạc quyên để giúp đỡ người nghèo.
Hai là: Phát động phong trào chống nạn mù chữ.
Ba là: Tổ chức cuộc Tổng tuyển cử vói chế độ phổ thông đầu phiếu, thục hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Bốn là: Thực hiện cần kiệm, liêm chính bài trừ thói hư tật xấu do chê độ cũ để lại.
Năm là: Bỏ ngay 3 thứ thuế: thuế thân, thuê chợ và thuế đò, cấm hút thuốc phiện.
Sáu lằ: Tuyên bô tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh hai việc quan trọng nhất là cứu đói ở Bắc và đánh giặc ở Nam. Đó là hai nhiệm vụ trước mắt, nhưng cũng là hai nhiệm vụ chiến lược. Trên cơ sở phương hướng đó, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc.
Sau khi phân tích những thay đổi căn bản vê tình hình quốc tế và trong nước sau đại chiến thế giới thứ hai, Trung ương Đảng nêu rõ nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của nhân dân ta lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân.
Thực hiện lời kêu gọi Chống giặc đói của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng trong huyện và Mặt trận Việt Minh Thọ Xuân đã khẩn trương thành lập các ban cứu đói, tổ chức quyên góp thóc gạo, tiền bạc giúp đỡ những người bị đói và phát động phong trào vận động quyên góp ủng hộ nhân dân bị đói, tổ chức vay lúa của nhà giàu, phát động phong trào Hũ gạo tiết kiệm.
Chính quyền cách mạng, bộ đội địa phương huyện và các đoàn thể cứu quốc: Nông dân, Phụ nữ, Mặt trận cử cán bộ bám sát cơ sở để tuyên truyền vận động nhân dân giúp nhau trong lúc khó khăn. Với tinh thần Lá lành đùm lá rách, nhiều gia đình còn chưa đủ ăn vẫn thường xuyên tiết kiệm gạo giúp đỡ những gia đình khó khăn hơn.
Chỉ trọng thời gian ngắn, toàn huyện huy động được 20.000 kg gạo và hàng vạn đồng bạc để cứu trợ kịp thời những gia đình nghèo đói tại địa phương, chu cấp cho dân quân tự vệ trong những ngày luyện tập, góp phần ủng hộ huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hậu Lộc....
Đến cuối năm 1945, nhân dân Thọ Xuân cùng nhân dân trong tỉnh quyên góp hàng trăm tấn lương thục cứu đói cho nhân dân trong tỉnh và dành một phần giúp đỡ nhân dân các tĩnh Hưng Yên và Bắc Ninh.
Phong trào vận động tiết kiệm lương thục ủng hộ người bị đói đạt két qủa tốt, nhưng chỉ là biện pháp túc thời. Vấn đề là phải tổ chúc sản xuất làm ra nhiều của cải vật chất xã hội - Đó mới là biện pháp có ý nghĩa chiến lược.
Thục hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Tỉnh ủy Thanh Hóa về tăng gia sản xuất, chính quyền cách mạng huyện Thọ Xuân đã phát động toàn dân trong huyện đẩy mạnh phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm trong chi dùng. Phong trào thi đua diễn ra sôi nổi rộng khắp với khẩu hiệu Tấc đất, tấc vàng, nhân dân trong huyện: người người trồng rau muống, nhà nhà trồng hoa màu ngăn ngày cứu đói. Công tác khai hoang, phục hóa đã biến nhũng cánh đông, đôi, bãi hoang hóa thành nhũng bãi sắn, nương ngô xanh tốt.
Cùng với cuộc vận động tăng gia sản xuất, chính quyền cách mạng khẩn trương tiến hành chia lại ruộng công và đất vắng chủ cho nông dân nghèo sản xuất.
Cuộc vận động cứu đói và phong trào tăng gia sản xuất cứu đói đã đẩy lùi nạn đói, từng bước ổn định đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, ở một số nơi việc việc chia lại công điền, công thổ còn có biêu hiện lệch lạc vì chính quyền cách mạng chưa quan tâm đúng múc đến quyền lợi của quần chúng lao động, hoặc để bọn địa chủ phản động lũng đoạn. Có địa phương chưa nắm vững chủ trương, làm qúa đà. Những thiếu sót đã được phát hiện và kịp thời khắc phục, phong trào thi đua của quần chúng tiếp tục phát triển
Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Chống nạn thất học - Diệt giặc dốt, huyện Thọ Xuân đã thành lập Ban Bình dân học vụ từ huyện đến xã, với phương châm: người biết chữ dạy người chưa biết chữ, phong trào diệt giặc dôt được phát động rộng rãi thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Người người đi học, cả nhà đi học. Con biết chữ dạy cha mẹ, anh biết chữ dạy cho các em. Học ban ngày, học buổi trưa, buổi tói, khắp thôn xóm ở đâu cũng tập đọc, tập viết. Khẩu hiệu Đi học là yêu nước đã trở thành phong trào cách mạng sinh động ở tất cả các thôn, xóm. Nhân dân tự nguyện cho mượn nhà, bàn ghế, cánh cửa, ván gỗ làm bảng, làm bàn, làm lớp học, giúp đỡ nhau giấy bút mực, ban ngày lao động sản xuất, buổi tối, buổi trưa tranh thủ học tập.
Cùng với việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục để mọi người tự nguyện, tự giác tham gia học tập, chính quyền và Ban Bình dân học vụ các địa phương đã sáng tạo ra nhiều biện pháp huy động mọi người đi học như: đón đường hỏi chữ, dựng 2 cổng: vinh quang và cổng mù (ai biết chữ cho đi cổng vinh quang, ai chưa biết chữ đi cổng mù). Vì thê ai ai cũng chăm lo học tập.
Với sự quan tâm chỉ...
| Tỉnh,thành phố | Mật độ dân số (Người /km2) |
| Điện Biên (Miền núi Tây Bắc Bộ ) | 65 |
| Hà Giang (Miền núi Đông Bắc Bộ) | 105 |
| Bắc Ninh (Đồng bằng sông Hồng ) | 1664 |
| Ninh Bình(Đồng bằng sông Hồng ) | 711 |
| Quảng Bình (Bắc Trung Bộ ) | 110 |
| Phú Yên (Nam Trung Bộ ) | 180 |
| Gia Lai (Tây Nguyên ) | 98 |
| Bình Dương (Đông Nam Bộ ) | 911 |
| Bến Tre (Đồng bằng sông Cửu Long ) | 533 |
Hãy xem bảng số liệu sau
Sau khi xem bảng số liệu,bạn hãy rút ra nhận xét về phân bố dân cư Việt Nam
=> Dân số được phân chia không đều nhau, phần lớn tập trung ở Đồng bằng, phần nhỏ tập trung ở các vùng núi, tây nguyên.
Cre: Quạnh
#Nocopy
Khu vực tập trung chủ yếu: Các tỉnh miền Nam,Mật độ dân số ở Tây Nguyên là ít nhất,Khu vực Đồng Bằng Sông Hồng đông dân,Trên mạng Trung du và miền núi Bắc Bộ dân cư thưa thớt
Tỉnh Bắc Giang có những địa điểm du lịch nào ?
1. Thành cổ Xương Giang
Thành cổ Xương Giang thuộc địa phận xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Vào năm 1407, giặc Minh cho đắp thành. Do sự tác động của thời gian, lịch sử và con người, ngôi thành cổ hiện không còn được nguyên vẹn mà chỉ còn lại những dấu tích. Các dấu tích đó có hình chữ nhật với độ rộng 27ha, gồm có 4 cửa và được bao quanh bởi hào nước rộng lớn.
Khi đến với thành cổ Xương Giang, du khách sẽ nhận ra những dấu ấn riêng biệt của ngôi thành như tấm bia đá xanh nguyên vẹn, trên trán bia có đề các chữ Hán “Xương Giang cổ thành bi ký” (bia ghi về thành cổ Xương Giang) ở góc thành Tây Bắc…

2. Làng Thổ Hà
Thổ Hà là tên gọi của một làng nghề có ba mặt là sông thuộc xã Vân Hà. Đây là ngôi làng cổ thuần Việt với cây đa, có bến nước, sân đình cùng những nếp nhà cổ nằm sâu trong các ngõ hẻm. Điểm khác biệt nhất của làng Thổ Hà so với các làng quê đặc trưng của Bắc Bộ là người dân nơi đây không sống bằng nghề nông mà sống chính bằng nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước năm 1960 làng Thổ Hà nổi tiếng về nghề làm gốm, nhưng từ 1990 trở lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

3. Đình Thổ Hà
Đình Thổ Hà là ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc thờ Thân Cảnh Phúc, một vị tướng nhà Lý đã có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống. Ngôi đình là công trình kiến trúc có quy mô trên khu đất rộng 3.000 m² được xây dựng vào năm 1685 thời vua Lê Chính Hòa năm thứ 7.
Du khách khi đến đây sẽ được ngắm cảnh trên bến dưới thuyền của dòng sông Cầu, thăm đình làng với các cây đa cổ thụ, thăm những ngôi nhà cổ trong làng, cùng những ngõ xóm hun hút mang vẻ đẹp cổ kính, thăm lò sản xuất gốm cùng các gia đình sản xuất bánh đa nem, mỳ gạo và các gia đình nấu rượu gạo.

4. Chùa Đức La
Chùa Đức La còn có tên gọi khác là chùa Vĩnh Nghiêm nằm trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên ở xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đây là một trung tâm Phật giáo từ thời Trần và thuộc thiền phái Trúc Lâm. Chùa có quy mô lớn, được xây dựng trên mảnh đất khoảng 1 ha, có lũy tre dày đặc bao quanh.

5. Khu di tích Suối Mỡ
Khu di tích suối Mỡ là địa điểm du lịch nổi tiếng Bắc Giang nằm tại xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam.
Đến với khu di tích,du khách sẽ cảm nhận được không gian thoáng đãng của núi rừng, với vẻ thanh bình của con đường uốn lượn men theo dòng suối, cùng những mái nhà ẩn hiện trong tán cây của núi non hùng vĩ. Đồng thời, du khách còn có thể khám phá lối đi khác được tạo ra bởi nhiều vách đá.
Xem thêm: Ghé thăm Casino Luxor – khu vui chơi đẳng cấp tại Las Vegas

6. Đền Suối Mỡ
Đến suối Mỡ, du khách như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh với những ngôi đền, ngôi chùa nằm tĩnh trên những mỏm núi. Nổi bật nhất chính là đền Suối Mỡ, gồm có đền Hạ, Trung, Thượng nằm dọc theo dòng suối Mỡ.

7. Rừng nguyên sinh Khe Rỗ
Rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho vùng Đông Bắc của Việt Nam.
Rừng Khe Rỗ có hệ thống động thực vật rất phong phú và là khu rừng cấm nguyên sinh vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ thích hợp đối với những du khách thích khám phá, nghiên cứu. Đặc biệt, nơi này còn sở hữu hai con suối lớn rất đẹp. Đó là suối nước Vàng quanh năm như mật ong, có những viên đá nổi lên với đủ màu sắc, kích cỡ; và Khe Đin chảy dài với những đoạn thác 3-4 tầng, mỗi tầng cao khoảng 30-40m.

8. Khu du lịch Khuôn Thần
Khu du lịch Khuôn Thần nằm tại địa phận huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang với 2 điểm nhấn là hồ và rừng Khuôn Thần. Hồ Khuôn Thần rộng đến 240ha, lòng hồ có tới 5 đảo nhỏ được trồng thông xanh có tuổi từ 15-20 năm thích hợp cho việc dạo chơi trên hồ, hay câu cá…Rừng Khuôn Thần rộng gần 700ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 300ha, còn rừng thông là 400ha.
Xung quanh khu du lịch Khuôn Thần là các vườn cây đặc sản như vải Thái Lan, vải thiều, hồng, na… Nơi đây là điểm du lịch đẹp của Bắc Giang mà du khách không thể bỏ qua.

9. Làng rượu Vân Hà
Vân Hà là một địa danh nổi tiếng thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Nơi đây lừng danh với đặc sản rượu làng Vân, một thứ rượu đặc biệt thơm ngon. Người làng Vân nói riêng và người Bắc Giang nói chung luôn tự hào với nghề nấu rượu làng Vân bởi trải qua mấy trăm năm, dưới các triều đại phong kiến thì thứ rượu này từng là lễ vật tiến vua và được sử dụng thường xuyên trong những yến tiệc chốn cung đình.

10. Hồ Cấm Sơn
Hồ Cấm Sơn nằm ở độ cao khoảng 300m so với mực nước biển, không những hồ có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, mà còn chứa đựng kho tàng văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Dao, và Sán Chay.

Đến với nơi đây, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng những nếp nhà sàn vương khói lam chiều ẩn hiện sau những triền đồi, rừng cây; được nghe làn điệu Sli, Shoong hao đằm thắm; được thưởng thức lễ hội xuống đồng, cầu mùa, mừng năm mới, mừng nhà mới độc đáo… Hơn thế, du khách còn được hòa mình vào không gian vô cùng lãng mạn trên bến dưới thuyền – một nét văn hóa đặc trưng của vùng Cấm Sơn.
Tỉnh Hải Phòng có những địa điểm du lịch nào ?
Bãi biển Đồ Sơn – địa điểm nổi tiếng nhất ở Hải Phòng
Đồ Sơn là một quận thuộc TP Hải Phòng cách trung tâm thành phố khoảng 20km. Không những là khu nghỉ mát và tắm biển với nhiều biển nhỏ, khung cảnh đẹp tuyệt vời thu hút được đông đảo khách du lịch vào mùa hè mỗi năm mà còn nổi tiếng nhất ở Miền Bắc nước ta. Đồ sơn là một bán đảo nhỏ với bờ biển xanh kéo dài hòa quyện với những cánh rừng nguyên sinh tạo nên một vẻ đẹp gây chấn động lòng người. Mọi du khách thập phương đến đây đều được leo núi, ngắm nhìn ba thế biển đẹp, tắm biển…

Biển Đồ Sơn cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ (ảnh ST)

Hơn thế nữa du lịch ở Đồ Sơn bạn được tham quan rất nhiều các địa điểm du lịch hấp dẫn như: Đảo Dáu biển nhân tạo lớn nhất Châu Á, khách sạn casino Đồ Sơn resort ở tầng 3 của khách sạn vui chơi thoải mái và ở miền Bắc chỉ có casino này thôi, pagodon, Resort hòn dấu, lễ hội trọi trâu….Lựa chọn cho mình một khách sạn ở Đồ Sơn phù hợp để tiện cho việc tham quan khám phá địa điểm nơi đây nhé.

Đồ Sơn vào những mùa cao điểm thu hút lượng khách đông đảo (ảnh ST)

Khu nghỉ dưỡng – sinh thái Cát Bà
Từ đất liền du khách đi tham quan quan đảo Cát Bà bằng tàu hay bằng đường cao tốc. Với hàng trăm hàng nghìn biển đảo nhỏ nổi mênh mông trên giữa biển nước xanh. Đảo còn có cả một rừng nguyên sinh tồn trữ nhiều các loài động vật quý hiếm, những bãi biển nhân tạo, những con suối chảy róc rách…Cát Bà là nơi kết hợp của rừng và biển tạo nên một khung cảnh non nước nghìn thu trong xanh vắt cả đất trời. Đảo Cát Bà còn có cả đảo khỉ, đảo ông…đều là những địa điểm du lịch Hải Phòng nổi tiếng.

Đảo Cát Bà (Ảnh ST)

Vườn quốc gia cát bà hải phòng (Ảnh ST)

Khu du lịch sinh thái

Thiên đường bị bỏ quên ở Hải Phòng – Vịnh Lan Hạ
Vịnh Lan Hạ được ví như Vịnh Hạ Long thứ 2 của nước ta mang một vẻ đẹp tựa như chốn thần tiên còn đọng lại theo thời gian. Nét đặc sắc của Vịnh này là cuốn hút, giữ chân, lôi kéo du khách muốn quay lại nơi đây một lần nữa để khám phá trọn vẹn cảnh sắc nơi đây.

Vịnh Lan Hạ – 1 địa điểm du lịch Hải Phòng nổi tiếng

Du khách trèo thuyền tham quan Vịnh (Ảnh ST)
Vịnh Lan Hạ có khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ và 139 bãi biển cát trắng mịn trải dài giữa các núi đá. Là bãi biển lí tưởng thích hợp dành cho khách du lịch đến tắm biển bởi biển khá lặng, nước trong xanh, sạch. Du khách thích lặn ngắm san hô thì nên đến bờ biển Vạn Bội, Vạn Hà.

Khách du lịch hòa mình vào dòng nước xanh để thư giãn (Ảnh ST)

Khám phá vẻ đẹp của đảo Hòn Dấu
Hòn Dấu là một trong những địa điểm du lịch Hải Phòng nỏi tiếng với phong cảnh tuyệt đẹp như chốn phong cảnh bồng lai ở dưới hạ giới. Không gian tĩnh lặng, du khách thả hồn theo thiên nhiên núi rừng, hai bên đường trung tâm của đảo là những hàng cây xanh, uốn lượn tạo cho du khách có cảm giác như mình đang lạc giữa rừng xanh huyền bí. Chắc chắn rằng sau chuyến du lịch sẽ tạo một ấn tượng khó quên trong lòng mỗi du khách.

Một địa điểm du lịch nổi tiếng Hải Phòng (ảnh ST)

Đảo mang một vẻ đẹp có một không hai

Khám phá bến tàu không số K15
Bến tàu không số hay được gọi là bến nghiêng đã đi vào lịch sử, bài ca đi cùng năm tháng. Đây là nơi mà thực dân Pháp đánh chiến Việt Nam cuối cùng và rời khỏi nước ta vào năm 1955. Cho đến ngày nay bến nghiêng đã trở thành khu du lịch Hải Phòng hấp dẫn với khung cảnh non nước hữu tình là nơi lí tưởng cho khách du lịch xuyên việt lựa chọn làm điểm khởi đầu cho hành trình du lịch Đồ Sơn. Lựa chọn những khách sạn ở bến tàu không số cho thuận lợi cho hành trình sinh thái của mình nhé!

Khám phá danh lam thắng cảnh ở Núi Voi
Núi Voi là ngọn núi cao nhất ở phía bắc Kiến An, có một quần thể thiên nhiên vô cùng phong phú. Thế nhưng lại mang một vẻ đẹp hoang sơ đầy quyến rũ. Núi Voi là địa điểm lý tưởng dành cho khách du lịch lựa chọn cho hành trình trải nghiệm, khám phá vẻ đẹp nơi đây. Hơn thế nữa Núi Voi còn có một quần thể hang động danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: hang cá chép, hang bể, hang chiêng…Trong mỗi hang động đều mang một vẻ đẹp đọc đáo riêng như nhũ đá, đầu rồng, hổ phục, đầu voi…

Phong cảnh sơn thủy hữu tình ở Núi Voi

Vẻ đẹp hoang sơ ở Núi Voi (ảnh ST)
Đi lên trên đỉnh của ngọn núi du khách sẽ nhìn thấy một mảnh đất trống có tên là bàn cờ cõi tiên cảnh. Cảnh đẹp ở Núi Voi là địa điểm du lịch nổi tiếng Hải Phòng với nhiều thắng cảnh đẹp tuyệt vời. Nếu có cơ hội hãy đặt chân đến đây để trải nghiệm những điều bí ẩn nơi đây nhé!

Lễ hội Núi Voi
Tháp Tường Long – Đồ Sơn – ngọn tháp rồng vàng hạ thế
Tháp Tường Long di tích lịch sử văn hóa hơn một nghìn năm tuổi tọa lạc trên đỉnh Long Sơn, ngọn núi đầu tiên chạy dọc trên bán đảo Đồ Sơn. Vào năm 1058 vua Lý Thái Tông xây dựng tháp và sau đó nằm mơ thấy rồng vàng liền đặt tên ngọn tháp là: Tháp Tường Long “thấy Rồng vàng hiện lên” Lòng tháp rỗng và đặt một kho tượng A di đà. Đứng trên tháp bạn sẽ chiêm ngưỡng được toàn cảnh Đồ Sơn cũng như cuộc sống giản dị của những người dân nơi đây. Bạn sẽ có cảm giác thật an nhàn, thanh bình đến khác thường.

Toàn cảnh tháp Tường Long (ảnh ST)

Trên đây là những địa điểm du lịch nổi tiếng ở Hải Phòng mà VNTRIP tổng hợp lại. Hi vọng qua bài viết này bạn sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn cũng như là hiểu biết về Hải Phòng cho những chuyến tham quan của mình. Chúc các bạn có một chuyến du lịch thật vui vẻ bên gia đình và người thân của mình!
Câu thơ:
"Ngôi làng thơm ngát hương hoa
Quê hương Bác đó hiền hoà nhớ thương."
nhắc đến một địa danh nổi tiếng gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh – đó là làng Sen, thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Lý do:
- “Quê hương Bác” là cụm từ thường dùng để chỉ nơi sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Làng Sen là nơi Bác sinh ra và lớn lên thời niên thiếu.
- "Thơm ngát hương hoa" – "Sen" cũng là loài hoa biểu tượng cho sự thanh cao, giản dị – rất phù hợp khi gắn với hình ảnh của Bác Hồ.
👉 Địa danh được nhắc đến trong câu thơ là: Làng Sen.
**Trả lời:
- Câu thơ trên nhắc đến Làng Sen - quê nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nằm ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.



bữa tối cuối cùng
báo tin mừng
mona lisa
còn ko các bạn