K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

24 tháng 1 2017

Sở dĩ gọi bài cáo “Bình ngô đại cáo” là bản tuyên ngôn độc lập bởi vì Nguyễn Trãi đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập của nước nhà.

“Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi vang lên như một khúc tráng ca bất diệt, ca ngợi chiến thắng hiển hách, khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc ta. Với giọng thơ hào hùng, dứt khoát, giống như lời khẳng định chắc nịch “Nước Nam là của nhân dân Việt Nam”.

25 tháng 1 2017

Nguyễn Trãi mở đầu bài cáo bằng một nguyên lí chính nghĩa được các dân tộc thời kì trung đại mặc nhiên thừa nhận :

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Nhân nghĩa là mối quan hệ giữa con người với con người được xây dựng trên cơ sở của tình thương yêu và đạo lí làm người. "Nhân nghĩa" với Nguyễn Trãi là "yêu dân" và "trừ bạo". Có xuất xứ từ một quan niệm của Nho gia, song đến Việt Nam, Nguyễn Trãi đã biến nó thành một khái niệm đậm tính dân tộc.

Sau khi nêu nguyên lí "nhân nghĩa", Nguyễn Trãi viết những câu văn thật hào hùng, sang sảng, chất chứa lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Đoạn văn nêu ra hàng loạt những chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập của một lãnh thổ, một quốc gia. Đó là một đất nước được xây dựng lên từ lịch sử dân tộc có một nền văn hoá lâu đời :

Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Tất cả đều mặc nhiên "vốn có" : từ núi sông vốn đã phân định rạch ròi đến "phong tục Bắc Nam cũng khác". Rõ ràng ta có đủ chủ quyền đất nước bởi từ cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán đến nền văn hoá, rồi lịch sử, rồi chế độ ta đều độc lập đứng trên một cái thế đối vững vàng cùng với nền văn minh phương Bắc. So với Nam quốc sơn hà thì Bình Ngô đại cáo thực sự là một bước tiến dài của Nguyễn Trãi trong việc hoàn chỉnh khái niệm về quốc gia, về dân tộc. Không có minh chứng nào thuyết phục hơn cho nguyên lí nhân nghĩa bằng chính "chứng cứ còn ghi" trong lịch sử. Sự thất bại của Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã làm tiêu vong những thế lực phi nghĩa. Cũng đồng thời khẳng định chiến thắng luôn đứng về những người đấu tranh cho chính nghĩa. Cách lập luận của Nguyễn Trãi thật hoàn thiện và cũng đầy sắc sảo.

25 tháng 1 2017

mik có ý kiến thế này : Đây là câu hỏi lịch sử chứ không phải câu hỏi văn nên bn nên đọc cái này rồi tóm tắt lại bạn nhé. Bạn có thể thích hoặc không thích nội dung này .

25 tháng 1 2017

intenet

27 tháng 1 2017

Người anh hùng Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo với cảm hứng chính trị và nghệ thuật.Cảm hứng chính trị để làm nên bản Tuyên ngôn Độc lập lần thứ 2 sau Nam quốc sơn hà Lý Thường Kiệt.Cảm hứng nghệ thuật để làm nên 1 kiệt tác văn chương.Hai cảm hứng ấy hoà quyện làm 1 trong Bình Ngô đại cáo như góp phần khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc và nêu cao ý nghĩa chiến thắng.Với 1 dân tộc,độc lập chủ quyền là cái gốc của dân tộc,nền của quốc gia.Trong Bình Ngô đại cáo,Nguyễn Trãi khẳng định nền thái bình của dân tộc rất sâu sắc.Nhà văn đã xây dựng được hình ảnh đất nước hoàn chỉnh,đó là:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Quay trở lại với Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời.
Ta thấy được việc phân chia lãnh thổ trong quan niệm của Lý Thường Kiệt dựa vào thiên mệnh.Trong quan niệm của Nguyễn Trãi,việc phân chia lãnh thổ dựa vào nhân định.Không chỉ tự hào về chủ quyền lãnh thổ,nhà văn còn tự hào về phong tục tập quán và truyền thống lịch sử của dân tộc,đó là:
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Trong câu thơ,tác giả đã đưa ra các hình ảnh.Một bên là Triệu,Đinh,Lý,Trần,bên kia là Hán,Đường,Tống,Nguyên.Đặt các triều đại ở vị trí song song,Nguyễn Trãi đã khẳng định sự lớn lao của dân tộc ta.Nhà thơ tự hào,kiêu hãnh về đất nước mình sánh ngang với cường quốc Trung Hoa.Trung Hoa có bao nhiêu triều đại thì Đại Việt có bấy nhiêu triều đại.Trung Hoa lớn mạnh thì Đại Việt cũng lớn mạnh.Vì sao Đại Việt ta tuy nhỏ bé,người không đông lại sánh ngang với các cường quốc phương Bắc?Phải chăng là do:Hào kiệt đời nào cũng có?Quả đúng như vậy làm nên 1 dân tộc anh hùng chính bởi những con người anh hùng.Những bậc anh hùng ấy như những vị thần mang hạnh phúc đến cho muôn dân,đó là:
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh.
Giọng điệu thơ trầm lắng,chậm rãi hơn thể hiện tâm trạng ôn tồn,tâm sự thư thái của nhà thơ.Sau bao cuộc chiến vất vả,hiểm nguy,con người trở về với cảnh thái bình.Câu thơ thể hiện sự chiêm nghiệm của tác giả về hiện thật đất nước.Nó như 1 tiếng thở phào nhẹ nhõm của con người.Từ "từ đây" chỉ thời gian,không gian.Một cuộc đời mới,trang sử mới được mở ra cho dân tộc.Xã tắc,giang sơn ấy bắt đầu 1 cuộc tái sinh vĩ đại.Nhà thơ đã mượn quy luật vĩnh hằng của tạo hoá để nói đến nền độc lập tất yếu của dân tộc.Càn khôn,nhật nguyệt là hình ảnh của vũ trụ.So sánh nền độc lập dân tộc,tư thế làm chủ của con người với hình ảnh càn khôn.Nhật nguyệt để làm nổi bật sức sống muôn đời của dân tộc Đại Việt.Nguyễn Trãi đưa ra lời tuyên bố về độc lập của dân tộc:"Dân tộc Đại Việt tất yếu giành lại hoà bình.Nền độc lập của ta là 1 chân lý vĩnh hằng,quy luật tất yếu."Quân dân ta với 1 tấm lòng yêu nước tha thiết,ý chí quyết thắng đã chiến đấu hết mình.Tinh thần ấy đã được đền đắp bằng những chiến công vô cùng vẻ vang,đó là:
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Đoạn thơ có giọng văn nhanh,mạnh,hào hùng,nghe như bước chân con người ra trận.Nguyễn Trãi miêu tả diễn biến các trận đánh hay chính miêu tả khí thế hào hùng như vũ bão của dân tộc.Bằng 1 loạt các biện pháp nghệ thuật:liệt kê,tăng tiến,đối lập ta thấy được tài của Nguyễn Trãi làm các trận đánh như đang diễn ra trước mắt chúng ta.Ta như thấy 1 sự đối lập giữa quân ta và quân địch:quân ta càng đánh càng thắng,kẻ địch càng đánh càng thua,thất bại nặng nề.Một loạt các địa danh,tên các trận đánh,tên các tướng giặc bại trận góp phần làm đoạn văn giàu tính thời sự,Nguyễn Trãi đã khắc trước mắt ta 1 bức tranh hoành tráng.Lịch sử xa xưa dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi như được sống lại.Những chiến công oai hùng ấy được nhà văn cắt nghĩa rất rõ,đó là:
Âu cũng nhờ trời đất, tổ tông khôn thiêng
Ngầm giúp đỡ mới được như vậy.
Ta như tự hào trước những chiến thắng vẻ vang ấy.Nhà thơ khẳng định:Chiến thắng được làm nên bởi nỗi đau mất mát của dân tộc.Chiến thắng được tạo dựng bởi lòng căm thù giặc sâu sắc,ý chí quyết thắng.Chiến thắng còn được tạo nên bởi chính lịch sử truyền thống của ông cha ta.Qua đó càng hiểu sâu sắc ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống quân Minh.Nó đưa người đọc về đạo lý nhân nghĩa,uống nước nhớ nguồn của dân tộc.Bình Ngô đại cáo xứng đáng là bản Tuyên ngôn Độc lập thứ 2 của dân tộc.Qua bài ta càng khâm phục người anh hùng Nguyễn Trãi và tự hào sâu sắc về nền độc lập,truyền thống đánh giặc cứu nước của dân tộc mình.Nguyễn Trãi không còn nữa nhưng hình ảnh của ông và văn chương bất hủ Bình Ngô đại cáo vẫn luôn sống mãi trong trái tim bạn đọc.Hôm nay,đọc lại Bình Ngô đại cáo vẫn thấy vô cùng tự hào.Bài như tiếng trống ngân vang muôn đời kêu gọi,thức tỉnh thế hệ thanh niên,học sinh ở mọi thời đại hãy đoàn kết cùng nhau giữ nền độc lập muôn đời.Mỗi chúng ta hãy nhớ câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:"Các vua hùng đã có công dựng nước,bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước."

27 tháng 1 2017

mình không biết đúng hay sai nhưng đây ko phải là câu trả lời mình cần dù sao cũng cảm ơn bạnnhonhung

27 tháng 1 2017

mình cảm ơn nhưng đây ko phải là câu trả lời mình cần. Có ai biết thì giúp mình vớikhocroi

27 tháng 1 2017

mình cảm ơn nhưng đây ko phải là câu trả lời mình cần. Có ai biết thì giúp mình vớikhocroi

27 tháng 1 2017

Lê Thị Kim Ánh

thế à bạn ....cho mik xin lỗi nhé
27 tháng 1 2017

Mik sẽ giải thích nghĩa của "Bình Ngô Đại Cáo "

Hiểu về từ Bình Ngô

Chu Nguyên Chương, người sáng lập ra nhà Minh là người Hào Châu, xưa thuộc đất Ngô, đó là đất tổ của nhà Minh. Năm 1356, Chu Nguyên Chương xưng Ngô Quốc Công, 8 năm sau ông cải xưng Ngô Vương. Bởi vậy Ngô ở đây vừa là tước hiệu của Chu Nguyên Chương, vừa là nguồn gốc, quê cha đất tổ của Chu Nguyên Chương. Bình Ngô là bình tận gốc gác, giống nòi của giống họ Chu- Thái Tổ nhà Minh.

Hiểu về từ Đại cáo

Theo sách giáo khoa Văn học 10, bỏ tòa Bố Chính và triệt quân về Tàu. Tháng chạp năm Đinh Mùi, Vương Thông theo lời ước với Bình Định Vương Lê Lợi, đem bộ binh qua sông Nhị Hà, còn thủy quân theo sau. Vì quân Minh tàn bạo, có người khuyên Lê Lợi đem quân mà giết hết đi, Lê Lợi không chấp thuận, cấp lương thảo và vật dụng cho quân Minh trở về. Năm 1428, Lê Lợi dẹp yên quân Minh, liền sai Nguyễn Trãi thay lời ngài làm tờ bá cáo cho thiên hạ biết.

Tờ cáo là một thông báo có người dân trong nước về việc đánh bại nhà Minh và sự khẳng định sự độc lập của Đại Việt. Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo không chỉ tuyên bố độc lập, mà còn khẳng định sự bình đẳng của Đại Việt với Trung Quốc trong lịch sử từ trước đến nay và thể hiện nhiều ý tưởng về sự công bằng, vai trò của người dân trong lịch sử và cách giành chiến thắng của quân khởi nghĩa Lam Sơn. Ngoài ra, Nguyễn Trãi sử dụng Bình Ngô đại cáo để chứng minh tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và trả lời câu hỏi tại sao quân khởi nghĩa Lam Sơn có thể chiến thắng quân đội nhà Minh đó là chính sách dựa vào nhân dân.

2 tháng 2 2017

Đây là câu trả lời mình cần nè cảm ơn bạn nhiều lắm...lắm...lắm

2 tháng 2 2017

ko có chi nha

4 tháng 2 2017

Mà bạn học lớp mấy vậy Phan Thùy Linh ?

1 tháng 3 2017

Là : tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô bài này viết theo thể cáo.

Hay là :Bình Ngô đại cáo là bài cáo có quy mô lớn, nói việc dẹp yên giặc Ngô

5 tháng 3 2017

cảm ơn

5 tháng 10 2016

1. 

Bộ máy nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương, vua nắm mọi quyền hành , bộ máy nhà nước còn đơn giản nhưng thể hiện ý thức độc lập, tự chủ giúp đất nước yên bình.

2. 

Sau khi Ngô Quyền mất, tình hình nước ta :

+ Năm 944, Ngô Quyền mất, hai con trai còn nhỏ, chưa đủ uy tín, lại bị Dương Tam Kha tiếm quyền, các thế lực cát cứ, thổ hào địa phương khắp nơi lần lượt nổi dậy. Đất nước trở nên rối loạn.
+ Nhà Tống đang có mưu đồ xâm lược nước ta.
+ Năm 965, Ngô Xương Văn mất. Cuộc tranh chấp giữa các thế lực, thổ hào địa phương vẫn tiếp diễn, 12 tướng lĩnh chiếm cứ các vùng địa phương. Sử cũ gọi là "Loạn 12 sứ quân".

3. 

- Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng), đặt tên nước là Đại Cồ Việt (nước Việt lớn), đóng đỏ ờ Hoa Lư (Ninh Bình).
- Năm 970, vua Đinh đặt niên hiệu là Thái Bình, phong vương cho các con, cử các tướng thân cận nắm giữ các chức vụ chủ chốt ; xây dựng cung điện, đúc tiền... sai sứ sang giao hảo với nhà Tống.
- Công lao của Đinh Bộ Lĩnh :
+ Dẹp "Loạn 12 sứ quân" : liên kết với sứ quân Trần Lãm, chiêu dụ sứ quân Phạm Bạch Hổ, tiến đánh các sứ quân khác, dẹp tan "Loạn 12 sứ quân".
+ Xoá bỏ tình trạng phân tán, cát cứ ở các địa phương, đất nước trở nên yên bình, thống nhất.

5 tháng 10 2016

4. 

Ngô Quyền xưng vương, chọn đất đóng đô, xây dựng cung điện, xoá bỏ bộ máy cai trị cũ của họ Khúc, thiết lập bộ máy chính quyền mới, cử người tâm phúc trấn giữ các châu quan trọng... là những biểu hiện về ý thức tự chủ của Ngô Quyền trong việc xây dựng đất nước.

5.

Vì : 

Dương Tam Kha vì mưu lợi riêng, nhân khi các con Ngô Quyền còn nhỏ đã tiếm ngôi. Các quan lại trong triều đình, địa phương phản đối. Sau khi nhà vua giành lại ngôi báu, uy tín triều đình lúc này đã giảm sút, hệ thống cai trị thiếu chặt chẽ, quan hệ trung ương — địa phương lỏng lẻo, các thế lực trong nước nổi dậy... gây ra "Loạn 12 sứ quân".

6.

Công lao lớn nhất của Ngô Quyền là đặt nền móng cho việc xây dựng chính quyền độc lập ; Đinh Bộ Lĩnh là người có công dẹp "Loạn 12 sứ quân", xoá bỏ tình trạng phân tán cát cứ, thống nhất đất nước.

6 tháng 4 2022

tham khảo:

undefined

6 tháng 4 2022

refer

undefined

6 tháng 4 2022

Tham Khảo

sự kiện Chiến thắng sông Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938. Vì:

- Cuộc chiến này đã để lại trong em nhiều ấn tượng: cuộc chiến này đã đè bẹp ý đồ xâm lược của nhà Nam Hán, chấm dứt hoàn toàn ách thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc kéo dài hơn 1000 năm đối với nước ta. Đúng theo lời bình lỗi lạc của nhà sử học Lê Văn Hưu, Ngô quyền không chỉ là một người lắm lắm kế, giỏi mưu mà còn là một người rất biết chăm lo, chăm chút cho nhân dân và đất nước. Tuy chỉ xưng vương,chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu nhưng chính thống của nước Việt ngõ hầu đã được nối lại được.

Thời bấy giờ nhà Đường ở Trung Quốc cai trị nước Việt. Từ giữa thế kỷ IX, nhà Đường phải đối phó với hai biến cố lớn là nông dân khởi nghĩa và phiên trấn cát cứ. Năm 907, nhà Đường mất, Chu Ôn lập nên nhà Hậu Lương, bắt đầu cuộc loạn Ngũ Đại, sử Trung Quốc gọi là Ngũ đại Thập quốc. Ở miền Nam Trung Quốc, Tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Nham đã cát cứ và dựng nước Nam Hán.[7]

Năm 905, nhân việc nhà Đường có loạn, một thổ hào người Việt là Khúc Thừa Dụ nổi lên đánh đuổi người Trung Quốc, chiếm giữ phủ thành, xưng là Tiết độ sứ. Năm 907, Khúc Thừa Dụ chết, con là Khúc Hạo lên thay. Khúc Hạo sai con là Khúc Thừa Mỹ làm Hoan hảo sứ sang dò xét nhà Nam Hán. Năm 917, Khúc Hạo chết, Khúc Thừa Mỹ lên thay, cho người sang nhà Lương lĩnh tiết việt, muốn lợi dụng sự mâu thuẫn giữa nước Lương và Nam Hán để củng cố sự nghiệp tự cường của mình. Vua Nam Hán là Lưu Cung tức giận, xua quân chiếm cứ Giao Chỉ. Năm 923, tướng Nam Hán Lý Khắc Chính đem binh đánh, bắt được Khúc Thừa Mỹ, Lý Khắc Chính lưu lại Giao Chỉ.[8]

Một hào trưởng người Ái Châu (thuộc Thanh Hóa ngày nay) là Dương Đình Nghệ nuôi 3000 con nuôi, mưu đồ khôi phục. Ngô Quyền lớn lên làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ, được Dương Đình Nghệ gả con gái cho và giao quyền cai quản Ái châu, đất bản bộ của họ Dương. Năm 931, Dương Đình Nghệ phát binh từ Thanh Hóa ra Bắc đánh đuổi quân Nam Hán, đánh bại Lý Tiến và quân cứu viện do Trần Bảo chỉ huy, chiếm giữ bờ cõi nước Việt, xưng là Tiết độ sứ. Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ, trở thành vị Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ cuối cùng trong thời kì Tự chủ. Nhưng Công Tiễn lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc, hành động tranh giành quyền lực của ông bị phản đối bởi nhiều thế lực địa phương và thậm chí nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng. Bị cô lập, Công Tiễn vội vã cầu cứu nhà Nam Hán. Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán. Thắng lợi của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng vào năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho mọi âm mưu xâm lược Tĩnh Hải quân của nhà Nam Hán, đồng thời cũng kết thúc thời kì Bắc thuộc của Việt Nam. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập ra nhà Ngô. Ngô Vương qua đời ở tuổi 47, trị vì được 6 năm. Sau cái chết của ông, nhà Ngô suy yếu nhanh chóng, không khống chế được các thế lực cát cứ địa phương và sụp đổ vào năm 965.

Hai trong số các cọc gỗ do Ngô Quyền sai đóng dưới lòng sông Bạch Đằng để chống lại quân Nam Hán.

Tháng 10/938 Ngô Quyền truy sát Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn chạy sang Trung Quốc cầu cứu quân Nam Hán. Lợi dụng cơ hội đó, Nam Hán kéo sang xâm lược Tĩnh Hải quân lần hai.

Năm 938, sau khi Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền được tin về việc phản nghịch của Công Tiễn và thấy việc Công Tiễn quy phục Nam Hán là nguy hại cho cuộc tự chủ mà họ Khúc và Dương Đình Nghệ cố gắng xây nền móng nên phát binh từ Ái châu ra đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn sai sứ sang đút lót để cầu cứu với nhà Nam Hán. Sách An Nam chí lược viết rằng: Công Tiễn bị Ngô Quyền vây, sức yếu bị thua mới cầu cứu nhà Nam Hán.[9] Vua Nam Hán là Lưu Cung nhân Giao Chỉ có loạn muốn chiếm lấy. Lưu Cung phong cho con mình là Vạn vương Lưu Hoằng Tháo làm Giao Vương, đem quân cứu Kiều Công Tiễn. Nhưng khi quân Nam Hán chưa sang, mùa thu năm 938, Ngô Quyền đã giết được Kiều Công Tiễn.[10][11]

Lưu Cung tự làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện. Lưu Cung hỏi kế ở Sùng Văn sứ là Tiêu Ích, Tiêu Ích nói: "Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến".

Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng: Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát.[10]

6 tháng 4 2022

chép xong cái này chắc mình chớt

22 tháng 8 2025

đúng rồi!!!!!!!!!!

22 tháng 8 2025

chính xác!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

10 tháng 10 2016
Vì:
- Ngô Quyền đã đánh bại mưu đồ xâm lược của quân Nam Hán. Vào năm 938, từ bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc, xây dựng một triều đình mới có nền độc lập hoàn toàn. 
 
- Vào năm 944 Ngô Quyền mất , đất nước bị chia cắt, hỗn loạn bởi 12 tướng lĩnh chiếm cứ các vùng đại phương. Sau này Đinh Bộ Lĩnh có công đã liên kết các sứ quân và nhân nhân mà dẹp loạn được 12 xứ quân này, thống nhất lại đất nước.
10 tháng 10 2016

Mình cảm ơn bạn nhé

30 tháng 8 2025

Mình cảm thấy giọng Bác thật trầm ấm và mình cũng rất xúc động.

30 tháng 8 2025

Khi nghe giọng Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (ngày 2/9/1945), nhiều người thường miêu tả cảm xúc như sau:

  • Trang nghiêm và thiêng liêng: Giọng Bác vang lên dõng dạc, rõ ràng, tạo nên không khí rất trang trọng, khiến ai cũng lắng nghe.
  • Tự hào và xúc động: Lần đầu tiên dân tộc ta được nghe lời khẳng định về một nước Việt Nam độc lập, tự do. Nhiều người không kìm được nước mắt vì vui sướng.
  • Tin tưởng và quyết tâm: Giọng Bác trầm ấm, mạnh mẽ truyền niềm tin cho nhân dân rằng dân tộc Việt Nam chắc chắn sẽ đứng vững, bảo vệ độc lập.
  • Gần gũi mà sâu sắc: Dù là lãnh tụ, giọng Bác vẫn giản dị, dễ đi vào lòng người, khiến mọi người cảm nhận được tình thương và trách nhiệm lớn lao.

👉 Nếu mình viết ngắn gọn cảm xúc của học sinh thì có thể như:

“Nghe giọng Bác đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, em thấy vô cùng xúc động và tự hào. Giọng Bác trầm ấm, dõng dạc, khiến em cảm nhận rõ sự thiêng liêng của khoảnh khắc lịch sử. Em càng thêm biết ơn và kính yêu Bác cùng các thế hệ cha ông đã hy sinh để giành độc lập cho Tổ quốc.”