K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc đoạn trích:

(01) Giới trẻ hiện nay trưởng thành cùng sự phát triển của AI, họ tiếp nhận AI theo cách tự nhiên, không bị "sốc văn hoá" như các nhóm đối tượng khác, đặc biệt là nhóm trung niên và người cao tuổi. Do vậy, giới trẻ là đối tượng sử dụng chính của AI, đồng thời họ cũng đối mặt nhiều nhất với các nguy cơ đến từ AI, khi họ ngày càng lệ thuộc vào AI trong việc tiếp nhận thông tin, nhất là các thông tin về lịch sử, chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng.

(02) Với sự phát triển của các công cụ như Chat GPT, Bing chat, AI TensorFlow, Amazon Machine Learning,... giới trẻ có thể tìm hiểu, giải đáp những khúc mắc; thực hiện các bài luận, bài nghiên cứu; hỗ trợ đưa ra các ý tưởng sáng tạo. Nếu những thông tin mà các công cụ trên tổng hợp được dựa trên những nền tảng, kho dữ liệu đáng tin cậy thì kết quả được cung cấp có giá trị tham khảo tốt, song kết quả sẽ bị sai lệch nếu AI dựa trên các nền tảng thiếu tin cậy, thậm chí là những trang mạng phản động, chống phá.

(03) [...] Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cũng đã cảnh báo về nguy cơ giới trẻ bị phụ thuộc thông tin và bị thao túng thông tin bởi AI. Trong một báo cáo khảo sát được dẫn chứng, chỉ 2% số trẻ em và thanh thiếu niên tại Anh có đủ khả năng để phân biệt giữa một bài báo thật và bài báo giả. Bà Henrietta Fore – Giám đốc Điều hành UNICEF – kêu gọi trong Báo cáo 30 năm Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (năm 2019): "Chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để chuẩn bị cho các công dân trẻ tuổi am hiểu về công nghệ này khả năng chống lại sự thao túng và gìn giữ niềm tin đối với các nguồn kiến thức đáng tin cậy và có thể xác minh". Rõ ràng, đây là nguy cơ đáng lo ngại đối với giới trẻ Việt Nam và cần có những giải pháp hữu hiệu để ứng phó với sự lệ thuộc này ở hiện nay và trong tương lai.

(NGUYỄN CHÍ THÀNH, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/
dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Anh/ chị hãy xác định luận đề của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm). Tìm 01 lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn số (03).

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu nội dung chính của ngữ liệu phần Đọc – hiểu.

Câu 4 (1.0 điểm). Trong đoạn trích, cách trình bày vấn đề khách quan và chủ quan được tác giả thể hiện như thế nào?

Câu 5 (1.0 điểm). Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/ chị rút ra sau khi đọc xong đoạn trích là gì? Vì sao?

1

Câu 1 (0,5 điểm)
Luận đề của đoạn trích:
→ Giới trẻ là đối tượng sử dụng AI nhiều nhất nhưng cũng đối mặt với nguy cơ lệ thuộc và bị sai lệch, thao túng thông tin từ AI, do đó cần có giải pháp để ứng phó.


Câu 2 (0,5 điểm)
Một lời dẫn trực tiếp trong đoạn (03):
→ “Chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để chuẩn bị cho các công dân trẻ tuổi am hiểu về công nghệ này khả năng chống lại sự thao túng và gìn giữ niềm tin đối với các nguồn kiến thức đáng tin cậy và có thể xác minh”.


Câu 3 (1,0 điểm)
Nội dung chính của ngữ liệu:
→ Đoạn trích bàn về thực trạng giới trẻ sử dụng AI ngày càng phổ biến; đồng thời chỉ ra những lợi ích và nguy cơ của AI, đặc biệt là nguy cơ lệ thuộc và bị sai lệch thông tin. Từ đó, tác giả cảnh báo và nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao nhận thức, kỹ năng để sử dụng AI một cách đúng đắn, hiệu quả.


Câu 4 (1,0 điểm)
Cách trình bày vấn đề khách quan và chủ quan:

  • Khách quan: Tác giả đưa ra các dẫn chứng, số liệu, ý kiến từ tổ chức uy tín (UNICEF), các công cụ AI cụ thể, thực trạng sử dụng AI của giới trẻ.
  • Chủ quan: Tác giả bày tỏ quan điểm, nhận định, đánh giá (như “nguy cơ đáng lo ngại”, “cần có giải pháp hữu hiệu”), thể hiện thái độ cảnh báo và định hướng.

Câu 5 (1,0 điểm)
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Giới trẻ cần tỉnh táo, chủ động và có kỹ năng chọn lọc thông tin khi sử dụng AI, tránh lệ thuộc và bị thao túng.

Vì sao:
→ Vì AI chỉ là công cụ, độ chính xác phụ thuộc vào nguồn dữ liệu. Nếu thiếu tư duy phản biện và kỹ năng kiểm chứng, người dùng – đặc biệt là giới trẻ – rất dễ tiếp nhận thông tin sai lệch, từ đó ảnh hưởng đến nhận thức và hành động.

Câu 1.a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong...
Đọc tiếp

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản "Bếp lửa" Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

– Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

c1. Chỉ ra các yếu tố luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong bài viết:

– Luận đề: Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh người bà và bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

– Các luận điểm:

+ Luận điểm 1: Sự sóng đôi của hình tượng bếp lửa và bà.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức của cháu về bà.

++ Lí lẽ 2: Mùi khói gắn liền với sự hi sinh, vất vả của bà trong những năm tháng đói nghèo. (Bằng chứng: Câu văn trong tác phẩm Vợ nhặt)

++ Lí lẽ 3: Hình ảnh bếp lửa và bà gắn với tiếng chim tu hú khắc khoải. (Bằng chứng: Tu hú kêu trên những cánh đồng xa, Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?)

++ Lí lẽ 4: Hình ảnh bếp lửa và bà trong những năm giặc giã. (Bằng chứng: Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,/ Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ".)

+ Luận điểm 2: Ngọn lửa tượng trưng cho vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa trong sự tả thực đã chuyển hoá thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và của sức sống con người. (Bằng chứng: kì lạ và thiêng liêng, Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

++ Lí lẽ 2: Người đàn bà dưới mái ấm gia đình trong mọi trường hợp thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. (Bằng chứng: Người mẹ dân tộc A-va trong Cha và mẹ, lửa và nước)

c2. Nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố kể trên: Các yếu tố kể trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hướng đến việc làm rõ cho luận điểm và tập trung làm sáng tỏ cho luận đề của bài viết. Sự kết hợp giữa các yếu tố kể trên góp phần làm tăng sức thuyết phục cho văn bản.

Câu 2.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách con người.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:

HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:

c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

c2. Thân bài:

* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:

– Giải thích các khái niệm:

+ Tình cảm gia đình: Là tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, trách nhiệm, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình với nhau.

+ Nhân cách: Là những phẩm chất, đặc điểm tâm lí, tính cách, đạo đức của một con người, được hình thành và thể hiện qua thái độ, hành vi trong cuộc sống.

– Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách:

+ Là cái nôi nuôi dưỡng phẩm chất con người: Gia đình là trường học đầu tiên, nơi con người học được những bài học đạo đức cơ bản nhất (lòng yêu thương, sự sẻ chia, lòng biết ơn, sự bao dung, trách nhiệm,...). Tình cảm gia đình sẽ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người có một trái tim nhân ái.

+ Là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời: Tình cảm gia đình mang đến sự an toàn, che chở, giúp con người có đủ nghị lực để đối mặt và vượt qua khó khăn, thất bại trong cuộc sống.

+ Là kim chỉ nam có tác dụng định hướng cho con người: Gia đình truyền tải những giá trị văn hoá, truyền thống, giúp con người định hình lẽ sống, mục tiêu, lý tưởng, từ đó có định hướng rõ ràng trong cuộc đời. 

– Thực trạng về tình cảm gia đình hiện nay:

+ Mặt tích cực: Nhiều gia đình vẫn giữ gìn được sự ấm áp, truyền thống tốt đẹp, là điểm tựa cho các thành viên.

+ Mặt tiêu cực: Trong xã hội hiện đại, nhịp sống hối hả, áp lực công việc, sự phát triển của công nghệ và lối sống cá nhân hoá đang khiến khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, tình cảm gia đình đôi khi bị xao nhãng (ví dụ: thiếu giao tiếp, ít thời gian bên nhau).

– Hậu quả khi thiếu vắng tình cảm gia đình: Khi thiếu vắng tình yêu thương, sự quan tâm từ gia đình, con người dễ trở nên ích kỉ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, hoặc sa ngã vào những tệ nạn xã hội,...

– Giải pháp để vun đắp tình cảm gia đình trong bối cảnh hiện nay:

+ Mỗi thành viên cần chủ động dành thời gian chất lượng cho nhau (cùng ăn cơm, trò chuyện, tham gia các hoạt động chung).

+ Thế hệ trẻ cần học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với ông bà, cha mẹ; đồng thời, người lớn cũng cần cởi mở, tôn trọng sự khác biệt của giới trẻ.

+ ...

c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề được nghị luận.

0
17 tháng 9 2025

câu 1

Người phụ nữ Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng dạt dào và xuyên suốt của các nhà thơ, đặc biệt là trong thơ Tố Hữu. Là một nhà thơ cách mạng nên khi viết về người phụ nữ, Tố Hữu vừa tuyên truyền, cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân, vừa tái hiện những năm tháng kháng chiến gian lao mà hào hùng, vẻ vang của dân tộc và ca ngợi những phẩm chất cao đẹp cũng như khắc ghi công lao to lớn của người phụ nữ đối với cách mạng, với đất nước. Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Tố Hữu thấm đượm vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất cao quý như nhân hậu, đảm đang, giàu lòng yêu nước nhưng đồng thời tâm hồn họ vẫn được thổi vào luồng gió của thời đại, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng và lý tưởng cộng sản. Người mẹ trong bài thơ “Bà má Hậu Giang” được xây dựng là hình mẫu điển hình cho người phụ nữ yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp với sự hội tụ của nhiều phẩm chất đáng quý: kiên cường, dũng cảm, hi sinh âm thầm lặng lẽ vì quê hương, đất nước,…Hình ảnh “Bà má Hậu Giang” – người mẹ với lòng kiên trung đã nuôi giấu cán bộ, bất chấp hiểm nguy, là hình ảnh nói lên ý chí, niềm tin của đồng bào Nam Bộ sau Khởi nghĩa Nam Kỳ. Lời nói đanh thép của má “Má có chết, một mình má chết”/ “Các con ơi! Má quyết không khai nào!” khiến người đọc nhận ra dù bị tra tấn dã man, má sẵn sàng “ chết một mình” để “ các con trừ hết quân Tây!”, yên tâm chiến đấu. Chi tiết tiếng hét của má “ Tụi bay đồ chó!…” thể hiện rõ nét lòng căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng đối mặt với kẻ thù, không sợ hi sinh, một lòng một dạ trung thành với cách mạng. Sự phẫn uất tột cùng của má trước kẻ thù độc ác, tàn bạo “chúng cướp nước, cắt cổ dân” càng lấp đầy lòng tin của má về những người chiến sĩ cộng sản. Trong những năm tháng khắc khổ gian lao, má vẫn tin tưởng vào các con – những chiến sĩ cộng sản kiên cường “tao già, không cầm được dao / giết bay đã có các con tao”…Hình ảnh bà mẹ một mình bám trụ với mảnh đất chết, “lom khom đi lượm củi khô” nấu cơm cho du kích… đã khắc sâu trong tâm trí của người đọc về sự kiên cường, bản lĩnh đầy nghị lực của má, phẩm chất cao quí. Sự hi sinh thầm lặng của má đã góp phần quan trọng vào thắng lợi trong công cuộc kháng chiến cứu nước gian lao. Sử dụng thể thơ song thất lục bát, có sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình và bình luận làm cho giọng điệu vừa cứng cỏi và pha lẫn xót thương….Cách xưng hô “má” thể hiện thái độ kính trọng của nhà thơ nhưng cũng rất thân thiết, gắn bó như ruột thịt. Khắc họa thành công vẻ đẹp của bà má Hậu Giang – một hình ảnh tiêu biểu cho bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhà thơ đã thể hiện thái độ trân trọng, ngưỡng mộ, nể phục, tự hào và biết ơn sâu sắc.



Câu 1

Trong văn bản “Bà má Hậu Giang”, hình ảnh bà má hiện lên như biểu tượng đẹp đẽ của người mẹ Nam Bộ trong những năm tháng chiến tranh gian khổ. Bà là người phụ nữ nông dân bình dị nhưng mang trong mình tấm lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần cách mạng kiên cường. Dù cuộc sống thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, bà má vẫn một lòng che chở, nuôi giấu cán bộ, coi việc bảo vệ cách mạng như trách nhiệm thiêng liêng của mình.Ở bà má, tình yêu thương con người hòa quyện với lòng yêu nước nồng nàn. Bà sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân, chịu đựng mất mát, đau thương để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Không những thế, bà còn là người giàu đức hi sinh, luôn động viên, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho những người chiến sĩ. Nhân vật bà má Hậu Giang đã khắc họa vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ Việt Nam: mộc mạc mà anh hùng, giản dị mà vĩ đại, góp phần làm sáng ngời truyền thống yêu nước của dân tộc ta.

Câu 2

Giới trẻ là lực lượng nòng cốt, là tương lai của đất nước. Họ mang trong mình sức trẻ, lòng nhiệt huyết và khát khao cống hiến. Chính vì vậy, trách nhiệm của giới trẻ trong việc xây dựng và phát triển đất nước là vô cùng quan trọng. Nếu không nhận thức được trách nhiệm này và hành động một cách kịp thời, hiệu quả, chúng ta sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý báu để đưa đất nước đi lên. Trách nhiệm của giới trẻ trong việc xây dựng đất nước là nghĩa vụ, bổn phận mà mỗi cá nhân trẻ tuổi cần nhận thức và thực hiện để đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng và quốc gia. Điều này bao gồm việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tham gia các hoạt động xã hội, cống hiến tài năng và trí tuệ cho đất nước. Hiện nay, phần lớn giới trẻ Việt Nam đã nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Họ tích cực học tập, tham gia các hoạt động tình nguyện, khởi nghiệp và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giới trẻ sống thiếu lý tưởng, sống thực dụng, ích kỷ và chưa có những hành động thiết thực để đóng góp cho cộng đồng. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm tuổi 15-24 là 6,36%, cao gấp 2,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung. Điều này cho thấy một bộ phận giới trẻ vẫn chưa tìm được hướng đi đúng đắn cho bản thân, chưa phát huy được hết tiềm năng của mình để đóng góp cho xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Một số nguyên nhân chính có thể kể đến như chưa định hướng được nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân, thiếu kỹ năng mềm cần thiết cho công việc và cuộc sống, ảnh hưởng từ môi trường sống thiếu lành mạnh, lối sống thực dụng, chạy theo vật chất, thiếu sự quan tâm, định hướng từ gia đình và xã hội. Nếu vấn đề này không được giải quyết kịp thời, nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cả cá nhân và xã hội. Cá nhân mất cơ hội phát triển bản thân, lãng phí tài năng, dễ sa vào các tệ nạn xã hội. Xã hội thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, một số người cho rằng giới trẻ ngày nay quá thụ động, chỉ biết hưởng thụ và không quan tâm đến việc xây dựng đất nước. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần nhỏ và không phản ánh đúng thực trạng chung. Thực tế, có rất nhiều bạn trẻ năng động, sáng tạo và có nhiều đóng góp tích cực cho cộng đồng. Để có thể trở thành những người trẻ có ích, đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước, trước hết, mỗi học sinh cần trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng, không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi từ nhiều nguồn khác nhau như sách vở, thư viện, internet hay các khóa học trực tuyến. Bên cạnh đó, các bạn cũng có thể tham gia các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ để phát triển toàn diện. Kiến thức và kỹ năng là nền tảng quan trọng để mỗi người có thể đóng góp cho xã hội. Học sinh cần trang bị cho mình một nền tảng kiến thức vững chắc, kỹ năng toàn diện để sau này trở thành những công dân có ích, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Thực tế, nhiều học sinh Việt Nam đã đạt được thành tích cao trong các kỳ thi quốc tế, chứng tỏ sự nỗ lực học tập không ngừng và khả năng cạnh tranh của học sinh Việt Nam trên trường quốc tế.

Là một học sinh, em luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong việc học tập và rèn luyện để trở thành một công dân có ích cho xã hội. Em tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Em tin rằng mỗi hành động nhỏ bé của mình cũng sẽ góp phần làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Trách nhiệm của giới trẻ trong việc xây dựng đất nước là rất lớn lao và quan trọng. Mỗi chúng ta cần nhận thức rõ vai trò của mình, không ngừng phấn đấu, học tập và rèn luyện để trở thành những công dân ưu tú, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hãy luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Câu 1:

Trong văn bản “Bà má Hậu Giang”, nhân vật bà má là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Nam Bộ giàu lòng yêu nước, dũng cảm và đầy tình thương. Dù là một người nông dân bình dị, bà đã sẵn sàng nuôi giấu cán bộ, che chở cho cách mạng giữa muôn vàn hiểm nguy. Bà không chỉ lo cơm nước mà còn là chỗ dựa tinh thần cho những người lính, như một người mẹ thực sự. Tình cảm của bà xuất phát từ trái tim chân thành, đầy bao dung và trách nhiệm với quê hương, đất nước. Qua hình ảnh bà má, người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của lòng yêu nước, đức hy sinh âm thầm của những bà mẹ Việt Nam trong kháng chiến. Nhân vật bà má Hậu Giang đã để lại ấn tượng sâu đậm, thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân và cách mạng, đồng thời truyền cảm hứng cho các thế hệ sau về lòng yêu nước và nghĩa tình đồng bào.


Câu 2:

Từ câu chuyện về bà má Hậu Giang, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Nếu như các thế hệ đi trước đã không tiếc máu xương để bảo vệ Tổ quốc, thì thế hệ trẻ ngày nay phải sống có lý tưởng, biết cống hiến bằng chính khả năng và hành động của mình.

Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở việc học tập tốt, rèn luyện đạo đức, nâng cao hiểu biết để trở thành công dân có ích. Người trẻ cần chủ động tiếp thu tri thức mới, phát huy tinh thần sáng tạo, làm chủ công nghệ và khoa học để góp phần đưa đất nước phát triển. Đồng thời, mỗi người cũng cần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tránh xa lối sống lệch lạc, thiếu trách nhiệm với cộng đồng.

Hành động cụ thể có thể bắt đầu từ việc học tập nghiêm túc, tham gia hoạt động xã hội, tích cực bảo vệ môi trường, sống tử tế, nhân ái và có trách nhiệm. Chính những việc làm nhỏ mỗi ngày sẽ góp phần tạo nên sự thay đổi lớn, giúp đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Thế hệ trẻ cần tiếp bước cha ông bằng chính tinh thần nhiệt huyết, trung thực và khát vọng cống hiến.

câu 1:bài làm

Nhân vật bà má trong văn bản bà má Hậu Giang hiện lên với vẻ đẹp cao cả của người mẹ Nam Bộ anh hùng trong kháng chiến.Má sống giản dị trong túp lều tranh, 1 mình bên bếp lửa ,hình ảnh ấ y gợi sự nghèo khó, cô đơn nhưng ấm áp tình người.Khi tên giặc xông vào tra khảo phải đe dọa và hành hạ dã man, má "run như tàu chuối khô mực" , nhưng đó chỉ là phản ứng tự nhiên của tuổi già phải chứ không phải sự hèn yếu.Trái lại, ẩn sâu dáng vẻ gầy yếu ấy là một tinh thần kiên cường, bất khuất.Má quyết không khai nơi ở của du kích, sẵn sàng chấp nhận cái chết để bảo vệ cách mạng.Lời má khẳng định đầy tự hào về các con "gan dạ anh hùng như rừng" thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thế hệ chiến đấu.Đặc biệt , tiếng hét căm phẫn tố cáo tội ác quân thù đã khắc họa lòng yêu nước sâu sắc và khí phách hiên ngang của người mẹ.Bà mad Hậu Giang không chỉ là một người mẹ bình thường mà còn là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của Nhân Dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc

cây 2:bài làm

trong văn bản bà má Hậu Giang ,hình ảnh người mẹ già kiên cường, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cách mạng đã làm sẵn ngồi truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc.Từ câu chuyện ấy, mỗi người trẻ hôm nay càng nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trách nhiệm là nhiệm vụ cao cả phải là bổn phận thiêng liêng mẹ thế hệ trẻ phải gánh vác nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời mới

thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ hiện nay có ý thức trách nhiệm cao hai chấm hăng hái trong học tập, sáng tạo trong lao động phải tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng. Không ít thanh niên dấn thân vào những vùng khó khăn, góp sức trong các chiến dịch bảo vệ môi trường phải hỗ trợ người yếu thế phải khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã làm giàu cho bản thân và xã hội. Tuy nhiên ,vẫn còn 1 bộ phận kẻ sống thờ ơ, ích kỷ thiếu lý tưởng ,chỉ biết hưởng thụ cá nhân mà quên đi nghĩa vụ với gia đình và đất nước. Lối sống ấy khiến con người trở nên vô cảm, đánh mất phương hướng và làm chậm bước phát triển chung của xã hội.

khi thế hệ trẻ ý thức được tinh thần trách nhiệm phải mỗi cá nhân sẽ xác định được mục tiêu, lý tưởng sống đúng đắn phải tránh xa nối sống tầm thường phải vô nghĩa phải không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện và cống hiến để bạn thân. Đó là cách thiết thực để kế thừa truyền thống yêu nước của ông cha ta phải góp phần đưa đất nước phát triển bền vững. Để làm được điều ấy, thanh niên cần chăm chỉ học tập, trao dồi tri thức và kỹ năng để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc phải tích cực tham gia hoạt động tình nguyện phải sống nhân né phải biết chia sẻ, đồng thời sẵn sàng bảo vệ chủ quyền phải an ninh tổ quốc khi cần thiết.

trách nhiệm của thế hệ trẻ là thiêng liêng và cao cả, gắn liền với vận mệnh đất nước. Bản thân em nhận thấy cần phải không ngừng học tập ,rèn luyện đạo đức, sống có ước mơ và khát vọng cống hiến để xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:BẾP LỬA – VẺ ĐẸP LẶNG THẦM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT (1) Đọc xong bài thơ, nhắm mắt lại tưởng tượng bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà lặng lẽ ngồi bên. Hình ảnh có tính sóng đôi này được hiện lên thật sống động, rõ ràng, như thể nét khắc, nét chạm vậy. Khi viết...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

BẾP LỬA – VẺ ĐẸP LẶNG THẦM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT

(1) Đọc xong bài thơ, nhắm mắt lại tưởng tượng bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà lặng lẽ ngồi bên. Hình ảnh có tính sóng đôi này được hiện lên thật sống động, rõ ràng, như thể nét khắc, nét chạm vậy. Khi viết bài thơ này, tác giả đang là sinh viên theo học ở nước ngoài. Không gian xa cách. Bên này nỗi nhớ thương là người bà và bên kia là cháu. Nỗi nhớ gọi về kỉ niệm. Trong vô vàn những kỉ niệm không đầu không cuối hiện về, có lẽ kỉ niệm ám ảnh nhất là hình dáng người bà và bếp lửa bà nhóm lên mỗi sớm mỗi chiều. Và cứ thế, như một thôi thúc tự nhiên, kỉ niệm và nỗi nhớ ấy bật lên thành các chữ: "Một bếp lửa…", "Một bếp lửa…", "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa".

(2) Mở đầu bài thơ, hình ảnh bếp lửa xuất hiện ngay lập tức và được điệp lại. Và thế là từ đây, hình ảnh bếp lửa với sức ấm và ánh sáng của nó quán xuyến, lan toả toàn bài. Tựa như bếp lửa, nỗi nhớ của cháu đối với bà cũng ấm nóng, da diết, thấm thía trong từng câu chữ.

(3) Đi ra từ nỗi nhớ, tất cả mọi ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu bị cuốn theo dòng hoài niệm. Một thời quá khứ được tái hiện lại trong tâm tưởng với những chi tiết rất mực cụ thể. Tác giả nâng niu từng mảnh kí ức hiện về. Bà, bếp lửa, tuổi thơ của cháu trong những năm nạn đói và trong những năm giặc giã. Bà, bếp kí ức của chính bà. Và cuối cùng sẽ là bà, bếp lửa của thì hiện tại, của hôm nay. Trong mấy dòng thơ mở đầu có một bếp lửa chập chờn mang màu cổ tích…

(4) Khổ thơ thứ hai nhắc đến nạn đói năm bốn nhăm, trước ngày cả nước giành chính quyền, người chết đói thê thảm khắp nơi. Cái mùi khói, khói hun trong khổ thơ có sức gợi rất nhiều, nhắc người đọc nhớ đến cảnh hun khói xua đuổi mùi tử khí được miêu tả trong thiên truyện "Vợ nhặt" nổi tiếng của Kim Lân. Ông viết: "Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt.". Nhà thơ Bằng Việt chỉ với chi tiết rất tiêu biểu này đã gợi ra được một quá khứ tang thương, đầy những thảm cảnh gắn liền với những thân phận trong đó có người bà, người bố. Tình cảm của nhà thơ mang bao nỗi ngậm ngùi, xót xa.

(5) Cũng có thể hình dung hình ảnh bếp lửa trong tâm tưởng nhà thơ tựa như những thước phim đang chạy, làm hiện lên những khung cảnh quá khứ đầy cảm động. Đây là hình ảnh người bà: "Tu hú kêu trên những cánh đồng xa…", "Bà hay kể truyện những ngày ở Huế". Đến đây, hình ảnh người bà và bếp lửa gắn liền với tiếng kêu khắc khoải của loài chim tu hú. Tiếng kêu của loài chim này trong truyền thống văn học của ta thường gợi nhắc đến những nhớ nhung, xa cách, trông ngóng mòn mỏi… Đó là những âm thanh mang một sắc điệu buồn. Có thể bên bếp lửa, bà bỗng nhớ về những vui buồn thời con gái. Hình ảnh tiếng chim tu hú còn được nhắc lại ở cuối khổ tiếp theo. Phải nói rằng, sự có mặt của tiếng chim tu hú trong khổ thơ làm cho không gian kỉ niệm có chiều sâu. Nỗi nhớ của bà về quá khứ của mình, và nỗi nhớ của cháu về bà bỗng trở nên thăm thẳm, vời vợi. Câu thơ "Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa" như treo lên một nỗi khắc khoải khôn nguôi.

(6) Khổ thơ tiếp theo với hình ảnh bà cháu và bếp lửa trong những năm giặc giã. Bố mẹ ở chiến khu. Lời người bà dặn cháu thật nôm na, nhưng chân thực và cảm động: "Bố ở chiến khu bố còn việc bố/ Mày có viết thư chớ kể này kể nọ". Gian khổ, thiếu thốn, nhớ nhung đều phải giấu đi cho người ở xa được yên lòng. Tấm lòng của người bà thương con, thương cháu, ân cần, chu đáo xiết bao.

(7) Nếu từ đây hắt trở lên là hình ảnh bếp lửa, thì những câu thơ cuối của khổ thơ này, đã chuyển đổi cách gọi thành ngọn lửa. Và như vậy, từ bếp lửa trong sự tả thực, cụ thể, đến đây đã trở thành ngọn lửa trong ý nghĩa tượng trưng, khái quát. Bếp lửa với những ấm áp, tâm tình bình lặng của tình cảm gia đình, của tình bà cháu đã thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và sức sống con người. Nhà thơ đã khái quát vẻ đẹp ngọn lửa là một vẻ đẹp "kì lạ và thiêng liêng". Tình thương và lòng nhân ái bao la của con người mãi ấm nóng, bền bỉ toả sáng, trường tồn. Kết thúc bài thơ, hình ảnh người bà và ngọn lửa được kết lại trong một câu hỏi tu từ: "Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?". Đó là một nỗi nhớ đau đáu, da diết, thường trực. Trong mọi trường hợp, người đàn bà dưới mái ấm gia đình thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. Họ giữ cho nhịp sống của tổ ấm được duy trì. Họ là nơi cuối cùng để cho người ta có chỗ trở về sau những thăng trầm, thành bại ở đời. Trong dáng hình bình dị, thầm lặng khiêm nhường quá đỗi ấy, ẩn dấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái, khoan dung. Các dòng thơ như những làn ánh sáng hắt ra từ ngọn lửa ấm nóng, gợi nhắc, thấm thía tâm can người đọc. Nếu ai đã đọc "Đa-ghe-xtan của tôi" của nhà văn Ra-xun Gam-da-tốp, hẳn còn nhớ trong một thiên tuyệt bút với nhan đề "Cha và mẹ, lửa và nước" có nói về người mẹ dân tộc A-va trong cuộc đời chỉ có ba việc diễn ra đều đặn, nhưng bao giờ cũng khoan thai, chậm rãi, cẩn trọng, tựa hồ như những gì cần thiết và quý giá nhất, đó là: đi lấy nước, đưa nôi và nhóm lửa. Toàn bộ ý nghĩa cuộc sống của người đàn bà này chỉ ở trong ba việc thường nhật mà trọng đại đó. Ba công việc ấy vừa cổ sơ, nguyên thuỷ vừa bền bỉ vĩnh hằng. Người đàn bà ấy đã sinh thành, nhen nhóm và duy trì sự sống. Thế thì người bà trong "Bếp lửa" đã nuôi con nuôi cháu, đã đi qua đói khát và giặc giã, đã cho con đi kháng chiến vì nước vì dân, đã âm thầm trụ lại nhà giữ mảnh đất truyền đời tổ tiên để lại, đã âm thầm chờ đợi và hi vọng… đó chẳng phải là biểu tượng về sự sống lớn lao và cao cả của con người đó sao? Bà là người phụ nữ Việt Nam, như ngọn lửa cháy sáng và ấm mãi!...

(Văn Giá, theo Văn học và Tuổi trẻ, tập 44, 1999)

Câu 1. Vấn đề được nghị luận trong văn bản trên là gì?

Câu 2. Chỉ ra một câu văn cho thấy cảm nhận, đánh giá chủ quan của người viết trong đoạn (5).

Câu 3. Trong đoạn (4), tác giả so sánh mùi khói hun trong Bếp lửa với cảnh hun khói trong Vợ nhặt nhằm mục đích gì?

Câu 4. Chỉ ra những luận điểm được sử dụng trong văn bản. Em ấn tượng với luận điểm nào nhất? Vì sao?

Câu 5. Tình bà cháu – một ngọn lửa ấm áp và thiêng liêng – dường như đang đứng trước nguy cơ phai nhạt trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều biến động. Làm thế nào để chúng ta có thể giữ gìn và phát huy mối liên kết vô giá này? Từ góc nhìn và trải nghiệm của bản thân, em hãy đề xuất những cách thức ý nghĩa để tăng cường sự gắn bó giữa bà và cháu trong cuộc sống hôm nay.

1
27 tháng 5
Câu 1: Vấn đề nghị luận của văn bản
  • Cách xác định: Dựa vào nội dung bao quát của các câu hỏi trong đề (đặc biệt là câu 3 và câu 5).
  • Gợi ý đáp án: Vấn đề nghị luận của văn bản là Giá trị thiêng liêng của tình cảm gia đình, cụ thể là tình cảm bà cháu qua góc nhìn văn học và thực tế cuộc sống hiện đại.
Câu 2: Chỉ ra một câu văn cho thấy cảm nhận, đánh giá chủ quan của người viết trong đoạn (5)
  • Cách làm bài: Bạn cần đọc kỹ riêng đoạn số 5 của văn bản đọc hiểu đi kèm đề bài này.
  • Dấu hiệu nhận biết: Tìm câu văn chứa các từ ngữ biểu lộ cảm xúc, suy nghĩ hoặc nhận định riêng của tác giả như: theo tôi, có lẽ, quả là, thật là, đáng quý biết bao, dường như... hoặc các tính từ thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca.
Câu 3: Mục đích so sánh mùi khói hun trong Bếp lửa với cảnh hun khói trong Vợ nhặt ở đoạn (4) Việc tác giả so sánh hai hình ảnh khói này nhằm mục đích:
  • Làm nổi bật nét đặc trưng: Khói trong Vợ nhặt (Kim Lân) là mùi khói cay sè của đống rấm tối tăm, gợi lên bi kịch của nạn đói, cái chết và sự ảm đạm của thời kỳ lịch sử cũ.
  • Tôn vinh giá trị tình cảm: Ngược lại, khói hun trong Bếp lửa (Bằng Việt) tuy cũng làm lem luốc, cay mắt cháu nhưng lại là biểu tượng của sự ấm áp, tình yêu thương nuôi dưỡng tâm hồn và kỷ niệm thiêng liêng tuổi thơ bên người bà.
  • Kết luận: Khắc họa rõ nét hơn sức sưởi ấm kỳ diệu và giá trị tinh thần vô giá của ngọn lửa tình cảm bà cháu.
Câu 4: Chỉ ra các luận điểm được sử dụng trong văn bản và nêu luận điểm ấn tượng nhất
  • Các luận điểm thường có trong dạng văn bản này:
    1. Biểu hiện của tình cảm bà cháu qua các tác phẩm văn học.
    2. Ý nghĩa và sức mạnh tinh thần của tình cảm bà cháu đối với mỗi con người.
    3. Thực trạng và nguy cơ phai nhạt của tình cảm này trong xã hội hiện đại.
  • Gợi ý lựa chọn: Bạn có thể chọn luận điểm nói về Thực trạng và nguy cơ phai nhạt của tình cảm này trong xã hội hiện đại vì nó mang tính thời sự, chạm đúng vào thực tế cuộc sống công nghệ ngày nay, giúp người đọc phải suy ngẫm để thay đổi hành vi của bản thân.
Câu 5: Các giải pháp thiết thực dựa trên góc nhìn và trải nghiệm thực tế:
  • Dành thời gian chất lượng: Chủ động trò chuyện, lắng nghe bà kể chuyện ngày xưa thay vì chỉ tập trung vào các thiết bị công nghệ như điện thoại, máy tính khi ở bên bà.
  • Chia sẻ và kết nối thế hệ: Hướng dẫn bà sử dụng các công nghệ đơn giản như gọi video để giữ liên lạc khi ở xa. Ngược lại, cháu học hỏi từ bà những bài học cuộc sống, kỹ năng sống và các giá trị truyền thống.
  • Thể hiện bằng hành động cụ thể: Tích cực phụ giúp bà việc nhà, chăm sóc chu đáo khi bà đau ốm, tổ chức hoặc tham gia đầy đủ các buổi sum họp gia đình vào ngày lễ, ngày cuối tuần.
  • Thấu hiểu và bao dung: Tôn trọng sự khác biệt về suy nghĩ, thói quen giữa hai thế hệ, luôn lắng nghe lời bảo ban của bà với thái độ cầu thị và yêu thương.
(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:Chuyện Lý tướng quân "Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Chuyện Lý tướng quân

"Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm chức tướng quân, sai cầm một cánh hương binh đi đánh giặc. Quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về. Người trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng tay rách, rất là khổ sở, nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút động tâm.

Bấy giờ có một ông thầy tướng số đến cửa xin ăn và có thể nói được những việc họa phúc. Lý bảo xem tướng mình, ông thầy nói:

– Lợi cho việc làm không gì bằng nói thẳng, khỏi được tật bệnh không gì bằng thuốc đắng. Nếu ngài dung nạp thì tôi sẽ nói hết lời. Đừng vì đắng miệng mà ghét quở khiến tôi phải e dè kiêng tránh mới được.

Lý nói:

– Được, không hề gì.

Ông thầy nói:

– Điều thiện ác tích lâu sẽ rõ, sự báo ứng không sai chút nào. Cho nên luận số trước phải luận lý, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay Tướng quân có dữ mà không lành, khinh người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông tham dục để thỏa ngông cuồng, đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào mà trốn khỏi tai họa!

Lý cười:

– Ta đã có binh lính, có đồn lũy, tay không lúc nào rời qua mâu, sức có thể đuổi kịp gió chớp, trời dù có giỏi cũng sẽ phải tránh ta không kịp, còn giáng hoạ cho ta sao được.

Thầy tướng nói:

– Tướng quân cậy mình mạnh giỏi chưa thể lấy lời nói để cho hiểu được, vậy tôi có chùm hạt châu nhỏ, xin đưa tướng quân xem sẽ biết rõ dữ lành, tướng quân có bằng lòng xem không?

Nhân lấy chùm hạt châu ở trong tay áo ra. Lý trông xem, thấy trong đó có lò lửa, vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ ghê gớm, hoặc cầm thừng chão, hoặc cầm dao cưa, mình thì đương bị gông xiềng, bò khúm núm ở bên vạc dầu, lấm lét sợ toát mồ hôi. Hỏi có cách gì cứu gỡ không, thì thầy tướng nói:

– Gốc ác đã sâu, mầm vạ sắp nẩy. Cái kế cần kíp ngày nay chỉ còn có đuổi hết hầu thϊếp, phá hết vườn ao, trút bỏ binh quyền, quy đầu phúc địa, tuy tội chưa thể khỏi được, nhưng cũng còn có thể giảm trong muôn một.

Lý ngẫm nghĩ lúc lâu rồi nói:

– Thôi thầy ạ, tôi không thể làm thế được. Có ai lại vì lo cái vạ sau này chưa chắc đã có, mà vứt bỏ những cái công cuộc sắp thành làm hì hục trong mấy năm bao giờ.

Sau đó hắn càng làm những sự dâm cuồng, chém giết, không kiêng dè gì cả. Người mẹ tức giận nói:

– Ưa sống ghét chết, ai ai cũng lòng, đạo trời sáng tỏ, cớ sao mày hay làm những sự giết chóc như vậy. Không ngờ ta đến lúc tuổi già, lại phải trông thấy đứa con mắc hình lục có ngày. […] Năm 40 tuổi thì Lý chết ở nhà.

Trước đây có người bản châu là Nguyễn Quỳ, khảng khái chuộng điều khí tiết, vốn cùng chơi thân với Thúc Khoản(4), nhưng chết đã ba năm nay rồi. Một hôm Thúc Khoản đi chơi sớm, chợt gặp ở đường; Nguyễn Quỳ bảo Thúc Khoản rằng:

– Phụ thân sắp bị đem ra tra hỏi. Tôi vì quen thân với anh, nên đến bảo cho anh biết trước. Anh có muốn xem, tối mai tôi cho người đến đón, anh sẽ được xem. Nhưng xem rồi cần phải giữ kín. Nếu nói hở ra một lời thì tai vạ sẽ lây sang đến tôi ngay.

[Lược một đoạn: Nửa đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn. Thúc Khoản được tận mắt chứng kiến các phán quan tâu bày tội trạng, công lao của những người ấy. Người làm việc ác bị định tội, người hành thiện tích đức thì được làm tiên hoặc được cho chuyển kiếp vào nhà có phúc, hưởng lộc ba đời,… Đến lượt Hữu Chi, vì những tội ác chồng chất mà hắn đã từng gây ra, hắn đã bị trừng trị bằng những hình phạt vô cùng đau khổ: Lấy nước sôi rửa ruột để trị cái tội ghẹo vợ người, lấy truỳ thủ moi ruột để lòng tham không nổi lên nữa, bị đày vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, bị chim cắt mổ vào ngực, bị rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp kiếp. Thúc Khoản chứng kiến hết thảy, giật mình tỉnh dậy ở cõi thực. Chàng quyết định đem tán cấp của cải cho mọi người và đốt hết văn tự nợ, vào rừng hái thuốc để tu luyện.]

Lời bình:

Than ôi! Đạo trời chí công mà vô tư, lưới trời tuy thưa mà chẳng lọt, cho nên hoặc có người lúc sống khỏi vạ mà lúc chết bị hình. Song, chịu hoạ ở lúc sống, người đã không hiểu, phải tội ở lúc chết, người lại không hay; vì thế mà đời thường có lắm loạn thần tặc tử. Ví thử họ hiểu, họ hay thì dù bảo làm ác cũng không dám làm. Song Lý Mỗ đã trông thấy và biết rõ rồi lại còn làm tệ hơn. Đó là người hư tồi bậc nhất không chuyển đổi được, không còn thể nói bàn gì nữa."

(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, theo truyenhdt.com)

Chú thích:

(1) Mộ Đô: Yên Mô, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(2) Đông Thành: Huyện Đông Thành, nay thuộc Nghệ An.

(3) Đặng Tất: (Không rõ năm sinh, mất năm 1409) Một võ tướng giỏi và chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Trần Giản Định khởi xướng. Năm 1408, Đặng Tất chỉ huy đánh trận Bô Cô, giết được hai tướng Minh; Mộc Thạnh cũng suýt bị nguy, may chạy thoát. Cũng vì chiến công đó, Giản Định nghe lời gièm pha, không theo kế hoạch của Đặng Tất lại giết oan ông. Con trai Đặng Tất là Đặng Dung đã tức giận bỏ về Nghệ An đi theo Trần Quý Khoáng.

(4) Thúc Khoản: Con trai của Lý Hữu Chi.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 3. Theo em, nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Nhân vật ấy được mô tả với những nét tính cách nào?  

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện và nêu tác dụng của chi tiết ấy.

Câu 5. Phát biểu ý nghĩa của văn bản trên và rút ra bài học cho bản thân. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (truyện tự sự trung đại), trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu 2.

Ngôi kể thứ ba.

Câu 3.

Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

Tính cách: tàn ác, dâm cuồng, tham lam, coi thường đạo lí và lời khuyên, biết luật nhân quả nhưng vẫn cố tình làm ác.

Câu 4.

Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xét tội các linh hồn và hình phạt ở cõi âm.

Tác dụng: tăng sức hấp dẫn cho truyện, khắc sâu tư tưởng nhân quả – thiện ác báo ứng, răn đe con người.

Câu 5.

Văn bản khẳng định đạo trời công bằng, gieo nhân nào gặt quả nấy; kẻ làm ác dù thoát tội lúc sống cũng không tránh khỏi trừng phạt. Truyện phê phán những kẻ cố chấp, bất nhân và đề cao lối sống hướng thiện. Bài học rút ra: mỗi người cần sống có đạo đức, biết kiềm chế dục vọng, làm việc thiện, tránh làm điều ác để không tự chuốc lấy hậu quả đau khổ cho bản thân và người khác.

18 tháng 12 2025

1.văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì

2. Ngôi thứ ba

3. NV chính : lý hữu chí

+ Đặc điểm: dữ tợn ,tham lam,độc ác, ích kỉ,bạo ngược, coi thường đạo lý

4.chi tiết : thúc khoán xuống minh ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn

Tác dụng: tăng tính hấp dẫn

5 truyện phê phán về cách sống độc ác ích kỉ gieo nhân nào gặp quả đấy, là lời răn dậy về việc sống lương thiện, sẻ chia và vì cộng đồng

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: QUÊ HƯƠNG (Trích) Quê hương là một tiếng veLời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơiQuê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơTôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diềuLà cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quêChợ trưa mong mẹ mang về...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

(Nguyễn Đình Huân

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "".

Câu 3. Em có nhận xét gì về ước mơ của những người lính được thể hiện trong những dòng thơ dưới đây?

"chừng nào thật hoà bình
ra lộ bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích"

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.

Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết”tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.

Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.

Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

20 tháng 11 2025

Câu 1. Thể thơ của văn bản

Thể thơ lục bát.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.


Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính

→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽtâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.


Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”

→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.

  • Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
  • Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
    Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.

Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích

→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

(Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn giữ trọn đạo làm vợ và làm dâu, chăm lo cho chồng ăn học. Học được nửa năm, Tống Trân thi đậu Trạng nguyên, được vua ban áo mão và gả công chúa cho chàng. Tống Trân lấy cớ nhà nghèo mà từ chối. Tống Trân phải trải qua nhiều thử thách hiểm nguy trong thời gian đi sứ nước Tần. Ở quê nhà, Cúc Hoa rơi vào mưu kế của trưởng giả, gả nàng đi cho một người khác. Cùng lúc ấy, Tống Trân trên đường về, biết rõ nguồn cơn và xuất hiện trong ngày rước dâu. Chàng xét xử phân minh rồi đoàn tụ với mẹ và vợ.)

TỐNG TRÂN – CÚC HOA

Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền

Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.

Khó nghèo có mẹ có con,

Ít nhiều gạn sẻ(1) vẹn tròn cho nhau

Lòng con nhường nhịn bấy lâu

Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng

Cúc Hoa nước mắt hai hàng:

"Lạy mẹ cùng chàng chớ quản(2) tôi

Gọi là cơm tấm canh lê(3)

Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng(4)

Chàng ăn cho sống mình chàng,

Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.

Kể chi phận thiếp đàn bà,

Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương".

Thương con mẹ giấu cho vàng,

Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.

Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:

"Lạy mẹ còn có chút tình thương con".

Tức thì trở lại phòng môn,

Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:

"Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,

Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một chương".

Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,

Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.

Hai bên giá cả hẳn hoi,

Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.

Cúc Hoa trở lại thư trai(5)

"Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.

Thiếp xin rước một ông thầy,

Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi".

Một ngày ba bữa chẳng rời,

Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.

Nàng thời nhiều ít cũng xong

Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.

Khấn trời lạy Phật đòi phen:

"Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.

Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,

Cố chăm việc học đua tài cho hay.

Một mai, có gặp rồng mây(6)

Bảng vàng(7) may dược tỏ bày họ tên

Trước là sạch nợ bút nghiên

Sau là thiếp cũng được yên lòng này".

(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)

Chú thích:

(1) Gạn sẻ: Gạn – chắt lọc và sẻ – chia sớt, chia nhỏ.

(2) Quản: E ngại, ngần ngại. Chớ quản: Không cần ngần ngại, quan tâm.

(3) Canh lê: Canh nấu bằng rau lê, những gia đình nghèo khó thường ăn loại rau này.

(4) Võ vàng: Gầy gò, da dẻ xanh xao, không được hồng hào vì thiếu máu.

(5) Thư trai: Phòng đọc sách, phòng học.

(6) Rồng mây: Hội rồng mây, cơ hội để mọi người thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.

(7) Bảng vàng: Danh sách ghi tên những người thi đỗ.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Có những nhân vật nào xuất hiện trong văn bản?

Câu 3. Trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên như thế nào? Hoàn cảnh sống ấy có vai trò gì trong việc thể hiện số phận nhân vật?

Câu 4. Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa có phẩm chất nào đáng quý? Những chi tiết nào giúp em nhận thấy điều đó?

Câu 5. Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng gì của nhân dân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.

16 tháng 9 2025

Câu 1:

Trong Tống Trân - Cúc Hoa, nhân vật Cúc Hoa gây ấn tượng mạnh bởi tấm lòng thủy chung và sự hi sinh dành cho chồng. Vốn là con nhà giàu, nhưng nàng sẵn sàng lấy một chàng trai nghèo khó chỉ vì tình nghĩa. Khi về làm dâu, Cúc Hoa vừa chăm lo mẹ chồng, vừa gánh vác việc nhà, lại còn bán cả vàng để rước thầy dạy học cho chồng. Nàng không chỉ đảm đang mà còn có cái nhìn xa: biết rằng chỉ có con đường học hành mới giúp chồng thoát khỏi nghèo khổ, mới lo được cho mẹ và cho gia đình. Chính sự hi sinh lặng lẽ ấy đã tiếp thêm sức mạnh để Tống Trân đỗ đạt và thành công. Ở Cúc Hoa, ta thấy hiện lên hình ảnh quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam: giàu tình yêu thương, nhẫn nại, và hết lòng vì hạnh phúc gia đình. Nhân vật này khiến ta cảm phục bởi sự thủy chung và ý chí kiên cường, dẫu khó khăn vẫn không hề than vãn.

16 tháng 9 2025

Câu 2:

Ai cũng muốn có một tương lai tốt đẹp, nhưng con đường đi tới thành công chưa bao giờ bằng phẳng. Đọc Tống Trân – Cúc Hoa, ta thấy rõ điều đó: một chàng trai nghèo cùng người vợ hiền đã trải qua vô vàn vất vả, thế nhưng họ không nản chí mà vẫn một lòng hướng về mục tiêu. Nhờ vậy, Tống Trân mới có thể trở thành Trạng nguyên, còn Cúc Hoa được tôn vinh bởi sự thủy chung, hi sinh.

Trong thực tế, khó khăn giống như những “bài kiểm tra” của cuộc đời. Chúng khiến ta mệt mỏi, có lúc muốn bỏ cuộc, nhưng nếu vượt qua được thì bản thân lại trưởng thành, mạnh mẽ hơn rất nhiều. Người dễ dàng bỏ cuộc sẽ mãi dừng chân ở vạch xuất phát, còn người kiên trì lại có cơ hội gặt hái thành công. Câu chuyện của Tống Trân và Cúc Hoa cho ta bài học: muốn đạt được ước mơ thì phải giữ vững niềm tin, không lùi bước trước thử thách.

Để rèn luyện nghị lực, mỗi người có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như: đặt mục tiêu học tập rồi kiên trì theo đuổi, tập thói quen không bỏ dở giữa chừng, giữ cho mình một tinh thần lạc quan và tìm sự động viên từ gia đình, bạn bè. Ngoài ra, cũng cần rèn luyện sức khỏe, vì một tinh thần mạnh mẽ luôn cần một thể chất khỏe khoắn.

Nói ngắn gọn, không nản lòng trước khó khăn chính là chìa khóa để chúng ta mở cánh cửa thành công. Người trẻ hôm nay càng cần học cách kiên cường, để mỗi thử thách không làm ta gục ngã mà trở thành bước đệm giúp ta tiến xa hơn.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. BẦM ƠI! Ai về thăm mẹ quê taChiều nay có đứa con xa nhớ thầm... Bầm ơi có rét không bầm?Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm runChân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đonRuột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thânMưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

BẦM ƠI!

Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...

Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

(Trích Bầm ơi – Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. Hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào qua những dòng thơ: "Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non", "Mưa phùn ướt áo tứ thân"?

Câu 4. Qua hai dòng thơ cuối: "Con đi đánh giặc mười năm / Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi", em hiểu gì về tình cảm và sự thấu hiểu mà người con dành cho mẹ của mình?

Câu 5. Từ văn bản, em có suy nghĩ gì về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 9 2025

Câu 1.
Trả lời: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2
Trả lời: Văn bản viết về tình yêu thương và công lao vĩ đại của mẹ, thể hiện qua hình ảnh bàn tay mẹ chăm sóc, bảo vệ và ru con.

Câu 3 là gì b

29 tháng 4

chị viết chi tiết thêm tí nữa là em hiểu liền [ko có ý định gì đâu chỉ là chưa hiểu thôi ]

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi tin chồng

“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”